1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Môi trường tự nhiên tổng thế tác động qua lại của các yếu tố: địa hình,
khí hậu, nước ngầm, chất đốt, sông biển, thế giới động vật xung quanh. Từ
thời xa xưa, các yếu tố này hình thành một sự cân bằng gọi là sự cân bằng
sinh thái. Nhưng ngày nay do tác động chủ quan của con người tự nhiên cùng
với sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp và bùng nổ dân số ,cân bằng sinh
thái dần biến đổi đã dẫn đến tình trạng báo động về môi trường trên toàn thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng [28],[12].
Môi trường ô nhiễm kéo theo sự gia tăng bệnh tật, đặc biệt các bệnh
liên quan chặt chẽ với sự ô nhiễm nguồn nước và điều kiện vệ sinh như: tiêu
chảy, mắt hột, bệnh phụ khoa….
Theo báo cáo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1996 trên toàn thế
giới có tới 80% bệnh tiêu hóa có liên quan đến vệ sinh môi trường và ô nhiễm
nguồn nước. Theo ước tính của WHO trên toàn thế giới hàng năm có 1,3 tỷ
trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu chảy, 3,5 triệu trẻ em tử vong vì tiêu chảy. Trung
bình mỗi trẻ dưới 5 tuổi mắc từ 3,3-3,9 đợt tiêu chảy cấp mỗi năm. Cũng theo
ước tính của WHO năm 2000 có khoảng 80% dân só (2,6 tỷ người) sống ở
các vùng nông thôn sống trong điều kiện ô nhiễm vệ sinh môi trường [26],[4].
Ở Việt Nam, bảo vệ môi trường được coi là một trong những giải pháp
nhằm nâng cao sức khỏe người dân và trở thành một trong những ưu tiên
hàng đầu của Đảng và chính phủ trong những năm qua. Luật bảo vệ môi
trường đã được quốc hội khóa IX đã thông qua vào tháng 12/1993 đã là cơ sở
cho các hoạt động nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường. Tuy vậy, tỷ lệ sử dụng
nhà tiêu không hợp vệ sinh và nguồn nước ô nhiễm, hai trong những yếu tố
chính gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam cao, đặc biệt là nông thôn đang là
vấn đề ngày càng trở nên cấp bách [26]. Sử dụng nguồn nước ô nhiễm và
2
sống trong môi trường ô nhiễm có thể dẫn tới và gia tăng hàng loạt các bệnh
tật như nhiễm giun sán ( ước tính khoảng 80% dân số, điển hình là các tỉnh
Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Ninh [4],[8],[19]) trong đó tiêu chảy là một trong
sinh, nghiên cứu về “Kiến thức, thái độ, thực hành về nước sạch, vệ sinh và
sự sẵn sàng chi trả để cái thiện điều kiện nước sạch và vệ sinh tại một số
trường trung học cơ sở huyện Ba Vì, Hà Nội” đã được triển khai tại các
trường trung học cở sở huyện Ba Vì trong đó những thông tin về chi phí của
bệnh tật do ô nhiễm môi trường là rất cần thiết và quan trọng.
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về thực trạng vệ sinh môi trường
nhất là các vùng nông thôn trong đó có cả Ba Vì, tuy nhiên có rất ít nghiên
cứu về khía cạnh kinh tế, đặc biệt là chi phí về các bệnh liên quan đến môi
trường, nguồn nước. Là một cấu phần trong nghiên cứu chung về “Kiến thức,
thái độ, thực hành về nước sạch, vệ sinh và sự sẵn sàng chi trả để cái thiện
điều kiện nước sạch và vệ sinh tại một số trường trung học cơ sở huyện Ba
Vì, Hà Nội” Nghiên cứu chi phí hộ gia đình cho bệnh liên quan đến nguồn
nước, vệ sinh môi trường tại Ba Vì, Hà Nội năm 2013” đã được triển khai
và do tiêu chảy là bệnh phổ biến nhất vì tác động của điều kiện vệ sinh môi
trường, nghiên cứu được triển khai với mục tiêu nghiên cứu như sau:
1. Mô tả trực trạng điều kiện vệ sinh môi trường, nước sạch của hộ
gia đình tại Ba Vì- Hà Nội năm 2013.
2. Mô tả chi phí của hộ gia đình cho điều trị tiêu chảy tại Ba Vì - Hà
Nội năm 2013.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường.
1.1.1 Môi Trường:
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người và có ảnh hưởng tới đời sống
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.
Y học môi trường là ngành rộng. Về lịch sử, các nhà lâm sàng đã được
đào tạo về tầm quan trọng các nhân tố môi trường như là nguyên nhân hoặc
ảnh hưởng của bệnh tật. Môi trường bao gồm mọi tác nhân bên ngoài cơ thể,
nào khác biệt với trạng thái tự nhiên ban đầu.
• Nguyên nhân ô nhiễm nước:
- Quá trình đô thị hóa ngày càng phát triển thì vấn đề ô nhiễm nguồn nước mặt,
nước ngầm xuất hiện. Ở nhiều nước, nhiều nơi, vấn đề trở nên nghiêm trọng.
- Sự ô nhiễm không chỉ đơn thuần là ô nhiễm do vi sinh vật và các chất hữu cơ
dễ phân hủy mà còn cả sự ô nhiễm do nhiều loại chất hữu cơ, sản phẩm dầu,
các chất tẩy rửa, các chất phóng xạ.
- Ở tất cả các nước, sự gia tăng dân số, sự tăng trưởng về kinh tế, đô thị hóa,
công nghiệp hóa đều dẫn đến sự gia tăng về ô nhiễm nước.
• Các chỉ số đánh giá:
- Các lượng nước tốt hay xấu, sạch hay ô nhiễm được đặc trưng bằng các thông
số vật lý,hóa học, sinh học.
- Thông số vật lý: Màu sắc, mùi vị, nhiệt độ độ trong, các chất dầu mỡ có trên
mặt nước…
- Thông số hóa học phản ánh những đặc tính hữu cơ và hóa vô cơ của nước.
Đặc tính hóa hữu cơ của nước thể hiện trong quá trình sử dụng oxi hòa tan
6
trong nước của các vi khuẩn, vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ. Đó là
lượng oxi mà sinh vật trong nước dùng để phân hủy các chất hữu cơ trong
điều kiện mẫu nước được duy trì ở nhiệt độ 20
0
C. Đặc tính vô cơ bao gồm độ
mặn ( NaCl), độ cứng, độ pH, hàm lượng các inon Mn
2+,
Cl
-
, SO
4
2-
, các kim
dựng và cả tiêu chuẩn về sử dụng, bảo quản.
7
Một số nhà tiêu hợp vệ sinh như:
- Nhà tiêu tự hoại: Là loại hố xí dội nước được áp dụng cho các nhà ở riêng lẻ,
nhà cao tầng có nước dội, có ống thoát nước ở các đô thị, thành phố. Là nhà
tiêu đảm bảo tốt nhất quá trình thu gom phân, cô lập, tái sinh phân với các
ngăn chứa, ngăn lắng và ngăn lọc. Loại nhà tiêu tiêu này đảm bảo tốt nhất và
không gây ô nhiễm môi trường. Các nhà ven sông cần sử dụng nhà tiêu này
hạn chế ô nhiễm nước. Tuy nhiên, loại này tương đối đắt tiền.
- Nhà tiêu thấm dội nước: Loại hình hố xí có nguồn gốc từ Ấn độ và còn được
gọi là hố xí Sulabh. Là nhà tiêu đơn giản được sử dụng phổ biến ở nông thôn.
Nhiều tiêu gồm phần nhà xí có tường bao quanh, bệ có hố, ống xiphông để
tạo nút nước và ống dẫn phân. Bể chứa phân có một ngăn, trên thành hố có lỗ
thấm để cho nước dư thừa từ hố chứa thấm lọc qua đất xung quanh làm sạch
chất ô nhiễm. Sử dụng loại nhà tiêu này cần phải dội nước cho mỗi lần đi vệ
sinh để đưa phân xuống hố và tạo nút nước chống mùi hôi. Nhưng không nên
dùng loại hố xí này ở vùng trũng, để gập nước hay vùng khan hiếm [18].
- Nhà tiêu hai ngăn: Hố xí ủ phân 2 ngăn kiểu Việt Nam (The
Vietnamese double-vault composting latrine, gọi tắt là DVC) loại hố xí này
được Bộ Y tế phổ biến trong một chiến dịch rộng rãi từ năm 1956 ở miền Bắc
Việt Nam. Loại hố xí 2 ngăn được thiết kế để phân và nước tiểu thu gom riêng
rẽ. Loại này đuợc xem là loại hố xí khô, yếm khí, không dùng nước hoàn
toàn. Là nhà tiêu có hai ngăn kín, ở một thời điểm chỉ sử dụng một trong hai
ngăn, có cả phân và tro trong ngăn sử dụng. Khi một trong hai ngăn đầy sẽ
được đậy kín để ủ, thường ủ ít nhất 6 tháng trước khi được dùng làm phân
bón ruộng.
- Nhà tiêu có ống thông hơi: Là loại nhà tiêu đào có lắp ống thông hơi với lưới
chắn ruồi ở phía trên có tác dụng giảm bớt ruồi nhặng và mùi hôi.
8
- Nhà tiêu bể khí sinh học: Nhà tiêu bể khí sinh học dùng để lưu giữ và phân
Cung cấp nước không an toàn Tả, thương hàn, mắt hột, ký sinh
trùng, nhiễm trùng ngoài da.
Xử lý phân không tốt Ỉa chảy, ký sinh trùng đường ruột,
thương hàn
Xử lý chất rắn không triệt để Viêm dạ dày, đường ruột
Ứ đọng nước cống rãnh Sinh sản các vectơ (sốt rét, sốt xuất
huyết, viêm não Nhật Bản…)
Vệ sinh nhà ở, vệ sinh cá nhân không tốt Bệnh truyền bằng đường phân,
miệng, bệnh da, mắt…
Cấu trúc nhà không hợp lý Lao, cúm, phế quản, phế viêm, tiêu
chảy, sởi….
Ô nhiễm không khí, nhà ở, hơi axit, khói
thuốc lá, bụi….
Bệnh hô hấp mãn tính, nhiễm độc….
Ô nhiễm không khí ngoài trời, hơi axit,
CO, các khí dung, chì
Bệnh hô hấp mãn tính, các bệnh cấp
tính.
Chất độc, chất ăn da ( hóa chất độc ), tai
nạn nghề nghiệp
Ngộ độc, bỏng, những ảnh hưởng lâu
dài chưa biết đến hết.
Sản phẩm gia đình (các loại thuốc, hóa
chất, thuốc tẩy )
Ngộ độc, phỏng…( đặc biệt là trẻ
em)
Giao thông và đô thị đông đúc Tai nạn giao thông, tiếng ốn
Công nghiệp hóa phát triển Chấn thương, tiếng ồn, tim mạch
Xây dựng không gian an toàn Tai nạn lao động
Thiên tai: Cháy, động đất, lũ… Bệnh truyền nhiễm phát sinh.
Theo báo cáo của GS.TS Nguyễn Trần Hiển năm 2011 cho thấy tỷ lệ bị
sốt xuất huyết là 69.876 ca, và chủ yếu ở miền Nam 60.596 ca chiếm 86,7%.
11
Trước năm năm 2005, bệnh chân tay miệng hầu như không có tại Việt
Nam, nam 2005 một vụ dịch chân tay miệng đã xảy ra ở phía nam, khiến 746
trẻ nhập viện, trường hợp tử vong.
Khi sử nguồn nước không sạch rất dễ gây bệnh truyền nhiễm. Các nghiên
cứu khoa học cũng cho thấy, khi sử dụng nước nhiễm asen để ăn uống, con
người có thể mắc bệnh ung thư trong đó thường gặp là ung thư da. Ngoài ra,
asen còn gây nhiễm độc hệ thống tuần hoàn khi uống phải nguồn nước có
hàm lượng asen 0,1mg/l. Vì vậy, cần phải xử lý nước nhiễm asen trước khi
dùng cho sinh hoạt và ăn uống. Người nhiễm chì lâu ngày có thể mắc bệnh
thận, thần kinh, nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh da, thiếu máu,
có thể gây ung thư. Metyl tert-butyl ete (MTBE) là chất phụ gia phổ biến
trong khai thác dầu lửa có khả năng gây ung thư rất cao. Nhiễm Natri (Na)
gây bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch, lưu huỳnh gây bệnh về đường tiêu
hoá, Kali, Cadimi gây bệnh thoái hoá cột sống, đau lưng. Hợp chất hữu cơ,
thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng trưởng,
thuốc bảo quản thực phẩm, phốt pho gây ngộ độc, viêm gan, nôn mửa. Tiếp
xúc lâu dài sẽ gây ung thư nghiêm trọng các cơ quan nội tạng. Chất tẩy trắng
Xenon peroxide, sodium percarbonate gây viêm đường hô hấp, oxalate kết
hợp với calcium tạo ra calcium oxalate gây đau thận, sỏi mật. Vi khuẩn, ký
sinh trùng các loại là nguyên nhân gây các bệnh đường tiêu hóa, nhiễm giun,
sán. Kim loại nặng các loại: Titan, Sắt, chì, cadimi, asen, thuỷ ngân, kẽm gây
đau thần kinh, thận, hệ bài tiết, viêm xương, thiếu máu.
Hầu hết các bệnh truyền nhiễm gây ra bởi quản lý và xử lý phân người
và nước sạch chưa hợp vệ sinh thì người chính là vật chủ lây truyền. Mầm
bệnh từ phân người do không được quản lý và xử lý tốt trong quá trình thu
gom vận chuyển và sử dụng đã phát tán và làm ô nhiễm ra môi trường nước
và đất. Khi gặp điều kiện thuận lợi, vi sinh vật và ký sinh trùng sinh sôi nảy
trị của dịch vụ y tế nhiều khi rất khó lượng hóa. Trong kinh tế y tế, người ta
thường đo giá trị dịch vụ một cách gián tiếp thông qua số tiền mà người bệnh
sẵn sàng chi trả cho dịch vụ đó.
1.4.3. Giá:
Giá của dịch vụ là số tiền mà người mua, hoặc người bệnh phải trả khi
họ sử dụng dịch vụ. Đứng về nguyên tắc giá chính là viện phí ở Việt Nam
hiện nay. Tuy nhiên trên thực tế, viện phí không thể hiện hết số tiền mà người
bệnh bỏ ra khi sử dụng dịch vụ vì họ phải bỏ thêm nhiều tiền để mua những
loại thuốc và dịch vụ không được qui định trong khung viện phí. Giá của dịch
vụ có thể cao hoặc thấp hơn chi phí (giá thành) của dịch vụ đó. Đối với hầu
hết các dịch vụ y tế tại cơ sở nhà nước Việt Nam, giá thấp hơn giá thành của
dịch vụ rất nhiều.
Giá của dịch vụ phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: giá thành, độ khan
hiếm của dịch vụ đó (quan hệ cung cầu), các chiến lược bán hàng…Trong y tế
nó còn phụ thuộc vào các mục tiêu xã hội mà một đất nước lựa chọn cho
ngành y tế, các quyết định của nhà nước [10],[11],[9].
1.5 Định giá chi phí trong phân tích do ốm đau.
Chi phí do ốm đau được tính bằng xác định các hoạt động phát sinh chi phí
sau đó định giá tiền tệ cho các hoạt động đó. Giá trị tiền tệ chính là chi phí cơ
hội, giá trị cơ hội mất đi do phải sử dụng nguồn lực cho các hoạt động khác.
Chi phí trực tiếp và chi phí mất đi do mất thu nhập là những chi phí cần
được tính toán trong phân tích chi phí do ốm đau, ví dụ như do nguồn nước bị
bẩn uống vào dẫn bị tiêu chảy, trong thời gian mắc bệnh bệnh nhân không làm
việc được thì mất khả năng thực hiện công việc cũng coi như là chi phí.
Chi phí do dau ốm, bệnh tật gồm các loại chi phí sau:
14
- Chi phí trực tiếp: là chi tiêu cho các dịch vụ và các vật tư (hàng hóa) cho y tế,
ví dụ như chi phí cho bác sĩ, cho thuốc, cho nằm viện. Trong thường chi phí
trực tiếp được chia thành chi phí trực tiếp cho chăm sóc y tế (còn gọi là chi phí
cho y tế, chi phí cho điều trị) và chi phí trực tiếp ngoài điều trị. Việc phân loại
1.6. Chi phí điều trị cho một số bệnh liên quan đến nước, vệ sinh môi trường
Khi môi trường bị ô nhiễm, nguồn nước bị bẩn dẫn đến hàng loạt các
bệnh kéo theo gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, và số tiền để khám
chữa bệnh là không nhỏ.
Theo nghiên cứu trước đây thì điều trị viêm phổi chi phí khoảng
608.550đ, số ngày phải điều trị là 7,2, tăng huyết áp 934,777đ, số ngày điều
trị trung bình 6,6 ngày, [12].Chi phí cho 1 mũi vaxin sởi 11.828đ, Viêm Gan
B 13.777đ [38].
Theo Điều tra Y tế quốc gia 2001-2002, tổng chi phí KCB trực tiếp của
hộ gia đình trên toàn quốc trong 12 tháng trước ngày điều tra (bao gồm chi
phí khám, xét nghiệm, điều trị nội, ngoại trú và tự mua thuốc) là khoảng
16.159 tỷ đồng. Như vậy tổng chi phí y tế của hộ gia đình chiếm khoảng
63,7% trong tổng chi phí y tế và chiếm 3,3% GDP, trong khi đó ở Thái Lan
tổng chi phí y tế hộ gia đình chiếm 1,8% GDP; Singapore chiếm 2,1% GDP;
Ấn Độ chiếm 4,7%; Trung Quốc chiếm 2,5%.
Theo nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuân thì chi phí ngoài y tế là
105.815 đồng, chi phí khám chữa bệnh ngoại trú dao động từ 3.360.000 đến
6.680.000 đồng [43]. Hay một nghiên cứu khác của Trần Khánh Toàn và
Nguyễn Thị Kim Chúc tính chi phí thuốc thang khi ốm đau một tuần trước khi
điều tra là 34.159 đồng, chi phí mua thuốc này có thể mua tư nhân hay hiệu
thuốc [34]. Ba Vì là huyện ngoại thành của Hà Nội, kinh tế còn khó khăn hơn
16
so với các quận nội thành, công tác chăm sóc sức khỏe còn yếu, người dân
chưa thực sự quan tâm đến bệnh tật, thường thì khi có bệnh mới chữa, công
tác dự phòng bệnh chưa được phổ biến và chưa được nâng cao ở hầu hết các
hộ gia đình. Theo nguyên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Mỹ tại Đồng Hỷ, Thái
Nguyên chi phí khi bị ốm của người dân là 62.000 đồng [34].
Theo Nguyễn Thị Bạch Yến nghiên cứu về gánh nặng kinh tế trong
điều trị lỵ do Shigella, chi phí điều trị trung bình là 131.960 đồng [45]. Khi
ốm như vậy không phải ai cũng trả được hoàn toàn và hình thức chi trả cũng
với 3 vùng sinh thái:
Vùng đồng bằng, vùng cao nguyên và đồi núi. Độ cao so với mặt nước biển là
khoảng 20-1297m
Ba Vì có 31 xã thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi, một xã giữa sông
Hồng, với dân số 265 nghìn người (bao gồm 3 dân tộc chính Kinh, Mường,
Dao). Thu nhập chính của người nông dân từ nông nghiệp chăn nuôi (80%).
Diện tích canh tác vào khoảng 120km
2
, trong năm 2010 tổng giá trị sản xuất
đạt 9.116 tỷ đồng, tăng trưởng kinh tế đạt 16%.
Cùng với phát triển kinh tế, hệ thống chăm sóc sức khỏe của huyện cũng
dần được cải thiện. Toàn huyện có 1 bệnh viện huyện, 1 trung tâm y tế có 42
18
đơn vị trực thuộc, cùng 342 cán bộ, trình độ từ trung cấp đến bác sĩ chuyên
khoa I.
Bản đồ hành
chính huyện Ba
Vì- Hà Nội
2.3 Thiết kế
nghiên cứu:
Nghiên
cứu mô tả cắt
ngang, sử dụng kỹ thuật thu thập số liệu hồi cứu để thu thu thập số liệu về chi
phí do gia đình phải chi trả vì trong gia đình có người mắc bệnh tiêu chảy, là
bệnh có liên quan đến điều kiện nước sạch, vệ sinh môi trường. Nghiên cứu
được phân tích dựa trên quan điểm của người sử dụng dịch vụ, tức là quan
điểm của người bệnh.
2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu
Do nghiên cứu là một phần của nghiên cứu về sự sẵn sàng chi trả nên
Ước tính cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu 400 học sinh. Lấy thêm 15%
học sinh không tham gia nghiên cứu, làm tròn là 475 học sinh.
2.4.2 Cách chọn mẫu.
Nghiên cứu là một phần của nghiên cứu về “ Kiến thức, thái độ, thực
hành về nước sạch, vệ sinh và sự sẵn sàng chi trả để cái thiện điều kiện nước
sạch và vệ sinh tại một số trường trung học cơ sở huyện Ba Vì, Hà Nội”. Do
vậy cách chọn mẫu tuân thủ cách chọn mẫu chung cho nghiên cứu như sau:
• Chọn ngẫu nhiên 10% số trường trong tổng số 36 trường trung học cơ
sở của huyện Ba Vì. 4 trường được lựa chọn vào nghiên cứu là: Trung
học cở Tây Đằng, Chu Minh, Ba Trại, Phong Vân.
• Tại mỗi trường tham gia nghiên cứu, chọn ngẫu nhiên 4 lớp, mỗi khối
chọn 1 lớp như vậy tổng số lớp tham gia nghiên cứu là 16 lớp, mỗi khối
có 4 lớp từ khối lớp 6 đến khối lớp 9.
• Tất cả các hộ gia đình mà đại diện là cha hoặc mẹ toàn bộ học sinh
trong 16 lớp của 4 trường được lựa chọn nghiên cứu.
2.5 Biến số, chỉ số nghiên cứu.
STT Tên biến số Định nghĩa Chỉ số Loại biến
1 Mức độ kinh tế Điều kiện kinh tế theo
phân loại địa phương
Thứ Hạng
2 Số người ăn cùng
mâm
Số người trong gia đình
ăn cùng nhau
Định lượng
20
3 Số người trên 60t Số thành viên trên 60t Định lượng
4 Số người dưới 6t Số thành viên dưới 6t Định lượng
5 Trình độ học vấn Cấp học cao nhất mà đối
tượng học
gia đình.
- Dùng bộ câu hỏi phỏng vấn chủ hộ về mong muốn của hộ gia đình về
nước sạch, vệ sinh môi trường
• Thu thập thông tin khác và thông tin về chi phí cho bệnh tật: Sử dụng
bộ câu hỏi đã được thiết kế, điều tra viên được tập huấn kỹ tiến hành
phỏng vấn trực tiếp cha hoặc mẹ học sinh về tình trạng đau ốm trong
một tháng trước khi điều tra về chi phí phát sinh cho gia đình do bệnh
tật liên quan đến nguồn nước và vệ sinh môi trường.
2.7. Phương pháp tính thu nhập, chi tiêu và chi phí.
Bình quân
C=C
1 +
C
2
+C
3
+C
4
+ C
5
C
6
21
thu
nhập/năm
của hộ gia
đình (C )
C: Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình/năm
C
1
+M
5
M: Bình quân chi tiêu của hộ gia đình/tháng
M
1
: Tiền chi cho thực phẩm M
4
: Tiền chi cho CSSK
M
2
:Tiền chi cho điện nước M
5
: Tiền chi cho khản khác
M
3
: Tiền chi cho giáo dục
Chi phí trực
tiếp (X)
X=X
1
+ X
2
X
1
:Chi phí do điều trị
X
2
:Chi phí ngoài điều trị
Chi phí gián
tiếp
tiêu chảy.
Chi phí trực tiếp cho mỗi bệnh nhân được điều trị gồm:
+ Chi phí khám = số tiền khám mỗi lần điều điều trị
+ Chi cho thuốc = số tiền trả cho mua thuốc trong thời gian điều trị.
+ Chi phí viện phí= số tiền trả để nằm viện, nội trú trong bệnh viện.
Chi phí trực tiếp cho y tế = chi phí khám bệnh + chi cho thuốc
22
Chi phí trực tiếp ngoài điều trị của mỗi bệnh nhân gồm:
- Chi phí cho đi lại từ nhà đến cơ sở y tế.
- Chi phí cho ăn uống.
- Chi khác.
Chi phí trực tiếp ngoài y tế của bệnh nhân = Chi phí đi lại + Chi phí
ăn uống + Chi khác.
Chi phí trực tiếp cho bệnh nhân= chi phí cho y tế+ chi phí ngoài y tế
- Chi phí gián tiếp: Do số liệu nghiên cứu là hồi cứu, thông tin chi phí
gián tiếp khó thu thập nên chúng tôi lấy thu nhập bình quân lao động
phổ thông năm 2010 để tính chi phí gián tiếp là 1.387.000 đồng.
+ Chi phí cho người bệnh:
Mất thu nhập do nghỉ việc= (1.387.000/12) X số ngày nghỉ ốm
+ Chi phí của người nhà :
Chi phí cho ăn uống.
Chi phí do đi lại.
Chi phí do nghỉ việc để chăm sóc= (1.387.000/12) X số ngày
nghỉ chăm sóc bệnh nhân
Chi phí gián tiếp= Chi phí cho người bệnh mất thu nhập do nghỉ
việc+ chi phí của người nhà chăm sóc bệnh nhân (ăn uống, đi lại,
mất thu nhập do nghỉ việc)
Chi phí cho bệnh nhân= chi phí trực tiếp + Chi phí gián tiếp
2.8. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu
• Nghiên cứu viên đọc phiếu và làm sạch trước khi nhập số liệu
trường đại học Y Hà nội.
• Đối tượng nghiên cứu được cung cấp đầy đủ thông tin về mục tiêu của nghiên
cứu
24
• Đối tượng nghiên cứu tự nguyện tham gia, cam kết bằng lời và có quyền từ
chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào nếu như không muốn.
• Các thông tin được đảm bảo giữ bí mật
• Kết quả nghiên cứu phục vụ sức khoẻ cộng đồng
2.11 Hạn chế của đề tài:
Nghiên cứu được phỏng vấn hộ gia đình, độ tuổi từ 30 trở lên, mặc
khác câu hỏi yêu cầu đối tượng nhớ lại trong vòng 1 tháng qua nên sai số do
nhớ lại là điều không thể tránh khỏi, hơn nữa số liệu là hồi cứu nên thông tin
chi phí gián tiếp khó thu thập.
Nghiên cứu ngang, thực hiện tại một vùng nông thôn miền Bắc Việt
Nam. Vì vậy không đại diện cho các vùng khác nhau trong cả nước.
Vì mục tiêu của nghên cứu mới dừng lại ở việc mô tả và phân tích bước
đầu còn nhiều hạn chế cần có các nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực này.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu.
3.1.1 Đặc điểm chung về nhân trắc.
Tổng số 475 hộ gia đình có con theo học tại 4 trường THCS Phong
Vân, Ba Trại, Chu Minh và Tây Đằng được phỏng vấn trong đó:
- Hộ có số lượng nhân khẩu thấp nhất: 2 người.
- Hộ có số lượng nhân khẩu cao nhất: 9 người.
Bảng 1.Phân bố hộ gia đình theo tình trạng kinh tế, số lượng thành viên
trong hộ gia đình
Đặc điểm Tần số (N) Tỷ lệ (%)
Kinh tế hộ gia đình 475 100
Nghèo/cận nghèo 102 21,47