Báo cáo thực tập tốt nghiệp khảo sát, thiết kế và xây dựng mạng lan cho phòng 303 nhà b - Pdf 23

GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
KHOA KỸ THUẬT – CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Ngành: Sửa Chữa Lắp Ráp Máy Tính
Lớp: Cao Đẳng Sửa Chữa Lắp Ráp Máy Tính – K48
Khoa: Kỹ Thuật – Công Nghệ
ĐỀ TÀI: KHẢO SÁT, THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG
MẠNG LAN CHO PHÒNG 303 NHÀ B
Họ tên: Liềm Văn Đông
Giảng viên hướng dẫn: Đào Văn Lập
Sơn La, tháng 9 năm 2014
1
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
PHẦN KẾT LUẬN 85
1. Kết quả đạt được trong chuyên đề 85
2. Hướng nghiên cứu tiếp theo 85
2
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
LỜI CẢM ƠN
Khoa Kỹ Thuật – Công Nghệ trường Cao Đẳng Sơn La là trường có uy tín
với đội ngũ giảng viên giảng dạy có chuyên môn tốt và nhiều kinh nghiệm.
Trong thời gian tìm hiểu và thực hiện đề tài, em đã đạt được những kết quả
nhất định, về cơ bản với yêu cầu và nhiệm vụ đã đặt ra, tuy nhiên kết quả này vẫn
còn hạn chế so với quy mô thực sự của đề tài. Em rất mong có nhiều điều kiện để
có thể hoàn thiện hơn các chức năng của đề tài để phù hợp hơn với yêu cầu của
thực tế.
Em xin chân thành cảm ơn Khoa Kỹ Thuật - Công nghệ , Trường Cao Đẳng Sơn
La đã tạo điều kiện cho em học tập trong suốt thời gian qua và thực hiện đề tài này.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy Đào Văn Lập, người đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này. Em khó có thể

Cùng với sự phát triển đó, làm thúc đẩy các ngành kinh tế khác cũng phát triển
theo. Trong đó có ngành Giáo Dục cũng đang triển khai, áp dụng công nghệ thông
tin vào trong công việc quản lý, giảng dậy, điều hành. Tất cả mọi hoạt động giải trí,
kinh doanh, mua bán… đều nhanh chóng, tiện lợi, hiệu quả cao.
Nhận thấy được những lợi ích mà công nghệ thông tin mang lại cho chúng ta, nhóm
chúng em với mong muốn nghiên cứu và tìm hiểu về lắp đặt cơ sở hạ tầng mạng và
cấu hình cho các thiết bị có thể hoạt động được trong mạng. “Khảo sát, thiết kế và
xây dựng mạng LAN cho phòng 303 nhà B”. chính là đề tài đang được nghiên cứu
và tìm hiểu.
Đề tài được chia bố cục làm 3 phần:
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU.
PHẦN II: TỔNG QUAN VỀ MẠNG MÁY TÍNH.
Chương 1 – Tổng quan về mạng máy tính:
Trong chương này trình bày các kiến thức cơ bản về mạng, phân loại mạng máy
tính theo phạm vi địa lý (LAN, WAN, GAN, MAN), theo TOPO và theo từng chức
năng.
Chương 2 – Mô hình tham chiếu hệ thống mở OSI và bộ quản thúc mô
hình TCP/IP:
4
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
Trong chương này trình bày các kiến thức cơ bản về mạng chạy trên bộ giao
thức TCP/IP, mô hình OSI.
Chương 3 – mạng lan và các thiết bị mạng Lan:
Trong chương này trình bày các kiến thức cơ bản về LAN, các phương pháp
truy cập trong LAN, các công nghệ và các chuẩn cáp, các phương pháp đi cáp.
PHẦN III: KHẢO SÁT, THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG MẠNG
LAN CHO PHÒNG 303 NHÀ B.
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN.
5
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông

OS - IS Open System Interconnection Intermediate System To
Intermediate System
OSI Open Systems Interconnect
6
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
OSPF Open Shortest Path First
RIP Routing Information Protocol
SMTP Simple Mail Transfer Protocol
STP Shield Twisted Pair
TCP Transmission Control Protocol
TCP/IP Transmission Control Protocol/ Internet Protocol
UDP User Datagram Protocol
UTP Unshield Twisted Pair
WAN Wide Area Network
WWW World Wide Web
7
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
PHẦN II:TỔNG QUAN VỀ MẠNG
************************
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MẠNG MÁY TÍNH
Vào những năm 50, những hệ thống máy tính đầu tiên ra đời sử dụng các
bóng đèn điện tử nên kích thước rất cồng kềnh tiêu tốn nhiều năng lượng. Việc
nhập dữ liệu máy tính được thực hiện thông qua các bìa đục lỗ và kết quả được đưa
ra máy in, điều này làm mất rất nhiều thời gian và bất tiện cho người sử dụng.
Đến những năm 60 cùng với sự phát triển của máy tính và nhu cầu trao đổi
dữ liệu với nhau, một số nhà sản xuất máy tính đã nghiên cứu chế tạo thành công
các thiết bị truy cập từ xa tới các máy tính của họ, và đây chính là những dạng sơ
khai của hệ thống máy tinh.
Và cho đến những năm 70, hệ thống thiết bị đầu cuối 3270 của IBM ra đời
cho phép mở rộng khả năng tính toán của Trung tâm máy tính đến các vùng xa.

mình chen lẫn với thời khoá biểu của các người khác…
• Một số người sử dụng không cần phải trang bị máy tính đắt tiền (chi
phí thấp mà các chức năng lại mạnh).
• Mạng máy tính cho phép người lập trình ở một trung tâm máy tính này
có thể sử dụng các chương trình tiện ích của các trung tâm máy tính khác, sẽ làm
tăng hiệu quả kinh tế của hệ thống.
• Rất an toàn cho dữ liệu và phần mềm vì phần mềm mạng sẽ khoá các
tệp (files) khi có những người không đủ quyền truy xuất các tệp tin và thư mục đó.
1.2. Phân loại mạng máy tính:
1.2.1. Phân loại theo phạm vi địa lý:
Mạng máy tính có thể phân bổ trên một vùng hay lãnh thổ nhất định và có
thể phân bổ trong phạm vi một quốc gia hay quốc tế.
Dựa vào phạm vi phân bổ của mạng người ta có thể phân ra các loại mạng
như sau:
9
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
• Mạng cục bộ LAN (Local Area Network) : là mạng được lắp đặt trong
phạm vi hẹp, khoảng cách giữa các nút mạng nhỏ hơn 10 Km. Kết nối được thực
hiện thông qua các môi trường truyền thông tốc độ cao ví dụ cáp đồng trục thay cáp
quang. LAN thường sử dụng trong nội bộ cơ quan xí nghiệp… Các LAN có thể
được kết nối với nhau thành WAN.
• Mạng đô thị MAN (Metropolitan Area Network) : Là mạng được cài
đặt trong phạm vi một đô thi hoặc một trung tâm kinh tế - xã hội có bán kính
khoảng 100 Km trở lại. Các kết nối này được thực hiện thông qua các môi trường
truyền thông tốc độ cao (50 – 100Mbit/s).
• Mạng diện rộng WAN (Wide Area Network): Phạm vi mạng có thể
vượt qua biên giới quốc gia và thậm chí cả châu. Thông thường kết nối này có thể
được kết nối vơi nhau thành GAN hay tự nó là GAN.
• Mạng toàn cầu GAN (Global Area Network) : Là mạng được thiết lập
trên phạm vi trải rộng khắp các châu lục trên trái đất. Thông thường kết nối thông

đích.
Nhược điểm:
Phương pháp chuyển mạch bản tin là không hạn chế kích thước của các
thông báo, làm cho phí tổn lưu trữ tạm thời cao và ảnh hưởng tới thời gian và chất
lượng truyền đi. Mạng chuyển mạch tin thích hợp với các dịch vụ thông tin kiểu
thư điện tử hơn là các áp dụng có tính thời gian vì tồn tại độ trễ nhất định do lưu trữ
và xử lý thông tin điều khiển tại mỗi nút.
1.2.2.3 Mạng chuyển mạch gói
Phương pháp này mỗi thông báo được chia thành nhiều phần nhỏ hơn gọi là
các gói tin (pacher) có khuôn dạng qui định trước. Mỗi gói tin cũng chứa các thông
tin điều khiển, trong đó có địa chỉ nguồn (người gửi) và đích (người nhận) của gói
tin. Các gói tin về một thông báo nào đó có thể được gửi qua mạng để đến đích
11
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
bằng nhiều con đường khác nhau. Căn cứ vào số thứ tự các gói tin được tái tạo
thành thông tin ban đầu.
Phương pháp chuyển mạch bản tin và phương pháp chuyển mạch gói là gần
giống nhau. Điểm khác biệt là các gói tin được giới hạn kích thước tối đa sao cho
các nút mạng có thể xử lý toàn bộ thông tin trong bộ nhớ mà không cần phải lưu trữ
tạm thời trên đĩa. Nên mạng chuyển mạch gói truyền các gói tin qua mạng nhanh
hơn và hiệu quả hơn so với chuyển mạch bản tin.
1.2.3. Phân loại máy tính theo TOPO:
Topology của mạng là cấu trúc hình học không gian mà thực chất là cách
bố trí phần tử của mạng cũng như cách nối giữa chúng với nhau. Thông thường
mạng có ba dạng cấu trúc là: Mạng dạng hình sao (Star topology), mạng dạng
vòng (Ring Topology) và mạng dạng tuyến (Linear Bus Topology). Ngoài ba dạng
cấu hình trên còn có một số dạng khác biến tướng từ ba dạng này như mạng dạng
cây, dạng sao – vòng, mạng hình hỗn hợp…
1.2.3.1. Mạng hình sao (Star topology)
Hình 1-3. Cấu trúc mạng sao

phải có kèm theo địa chỉ cụ thể của mỗi trạm tiếp nhận.
Ưu điểm:
13
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
• Mạng dạng vòng có thuận lợi mở rộng ra xa, tổng đường dây cần thiết ít
hơn so với hai kiểu trên.
• Mỗi trạm có thể đạt được tốc độ tối đa khi truy nhập.
Nhược điểm: Đường dây phải khép kín, nêu bị ngắt một nơi nào đó thì toàn
bộ hệ thống cũng bị ngừng.

Hình 1-4. Cấu hình mạng vòng
1.2.3.3. Mạng dạng tuyến (Bus topology)
Thực hiển theo cách bố trí ngang hang, các máy tính và các thiết bị khác. Các
nút đều được nối với nhau trên một trục đường dây cáp chính để chuyển tải tín
hiệu. Tất cả các nút sử dụng chung đường dây cáp chính này.
14
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
Hình1-5. Cấu trúc mạng hình tuyến
Ở hai đầu dây cáp được bịt bởi một thiết bị gọi là terminator. Các tín hiệu và
dữ liệu khi truyền đi đều mạng theo địa chỉ nơi đến.
Ưu điểm:
• Loại cấu trúc mạng này dùng dây cáp ít nhất.
• Lắp đặt đơn giản và giá thành rẻ.
Nhược điểm:
• Sự ùn tắc giao thông khi di chuyển dữ liệu với lưu lượng lớn.
• Khi có sự cố hỏng hóc ở đoạn nào đó hì rất khó phát hiện, lỗi trên đường dây
cũng làm cho hệ thống ngừng toàn bộ hoạt động. Cấu trúc này ngày nay ít
được sử dụng.
1.2.3.4 Mạng kết hợp
Là mạng kết hợp dạng sao và dạng tuyến ( star/bus topology ): Cấu hình mạng

mạng thường gây nhầm lẫn do các công ty lớn như IBM, HoneyWell và Digital
Equipment Corprantion tự đề ra tiêu chuẩn riêng cho hoạt động kết nối máy tính.
Năm 1984 tổ chức tiêu chuẩn hóa Quốc tế - ISO (Internationa Standard
Oranization) chính thức đưa ra mô hình OSI (Open Systems Interconnect) là tập
hợp các đặc điểm kỹ thuật mô tả kiến trúc mạng dành cho việc kết nối các thiết bị
không cùng chủng loại.
Mô hình OSI được chia thành 7 tầng, mỗi tầng bao gồm các hoạt động thiết bị
và giao thức mạng khác nhau.
Tầng 1: Tầng vật lí (Physical Layer)
Tầng 2: Tầng liên kết dữ liệu (Data Link Layer)
Tầng 3: Tầng mạng (Network Layer)
Tầng 4: Tầng giao vận (Transport Layer)
Tầng 5: Tầng phiên (Session layer)
Tầng 6: Tầng trình diễn (Presentation layer)
Tầng 7: Tầng ứng dụng (Application layer)
2.1.1. Mục đích ý nghĩa của mô hình OSI:
Mô hình OSI (Open System Interconnection ): là mô hình tương kết những hệ
thống mở, là mô hình được tổ chức ISO được đề xuất năm 1977 và công bố năm
1984. Để các máy tính và các thiết bị mạng có thể truyền thông với nhau phải có
những qui tắc giao tiếp được các bên chấp nhận. Mô hình OSI là mộ khuôn mẫu
giúp chúng ta hiểu được các chức năng mạng diễn ra tại mỗi lớp.
Trong mô hình OSI có bảy lớp, mỗi lớp mô tả một phần chức năng độc lập. Sự
tách rời của mô hình mạng này mang lại lợi ích sau:
• Chia hoạt động thông tin mạng thành nhiều phần nhỏ hơn, đơn giản hóa giúp
chúng ta dễ khảo sát và tìm hiểu hơn.
• Chuẩn hóa các thành phần mạng để cho phép phát triển mạng từ nhà cung cấp
sản phẩm.
• Ngăn chặn được tình trạng sự thay đổi của một lớp làm ảnh hưởng đến các lớp
khác, như vậy mỗi lớp có thể phát triển độc lập và nhanh chóng hơn.
• Mô hình tham chiếu OSI định nghĩa các quy tắc cho các nội dung sau:

theo (như kiểm soát lỗi, kiểm soát luồng dữ liệu, cắt/hợp dữ liệu…) Để tăng
cường độ tin cậy và hiệu quả của việc truyền dữ liệu.
• Hủy bỏ liên kết (logic): giải phóng tài nguyên hệ thống đã được cấp phát cho
liên kết để dùng cho liên kết khác.
Đối với giao thức không liên kết thì chỉ duy nhất một giai đoạn truyền dữ liệu
mà thôi.
Gói tin của giao thức: Gói tin (Packer) được hiểu như là một đơn vị thông tin
dùng trong việc liên lạc, chuyển giao dữ liệu trong mạng máy tính, được tạo thành
các gói tin ở các gói nguồn. Và những gói tin này khi đến đích sẽ được kết hợp
thành các thông điệp ban đầu. Mỗi gói tin có thể chứa đựng các yêu cầu phục vụ,
các thông tin điều khiển và dữ liệu.
Trên quan điểm mô hình mạng phân tầng mỗi tầng chỉ thực hiện một chức năng là
nhận dữ liệu từ tầng bên trên để chuyển giao xuống cho tầng bên dưới và ngược lại.
Chức năng này thực chất là gắn thêm và gỡ bỏ phần đầu (header) đối với các gói tin
trước khi chuyển nó đi. Nói cách khác, từng gói tin bao gồm phần đầu và phần dữ
liệu. Khi đi đến một tầng mới gói tin sẽ đóng thêm một phần đầu đề khác và được
18
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
xem như là gói tin của tầng mới, công việc trên tiếp diễn cho tới khi gói tin được
truyền lên đường dây mạng để đến bên nhận.
Tại đây bên nhận các gói tin được gỡ bỏ phần đầu trên từng tầng tương ứng
và đây cũng là nguyên lý cho bất cứ mô hình phân tầng nào.
2.1.3. Các chức năng chủ yếu của các tầng mô hình OSI:
• Tầng ứng dụng (Application Layer):
Là tầng cao nhất của mô hình OSI, nó xác định giao diện của các chương trình
ứng dụng dùng để giao tiếp với mạng. Tầng ứng dụng xử lý truy cập mạng chung,
kiểm soát luồng và phục hồi lỗi. Tầng này không cung cấp dịch vụ cho tầng nào
mà nó cung cấp cho ứng dụng như: truyền file, gửi nhận mail, Telnet, HTTP, FTP,
SMTP…
• Tầng trình bày (Presentation Layer):

GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
giữa các thiết bị đáng tin cậy. Tầng này thiết lập duy trì và kết thúc các mạch ảo
đảm bảo cung cấp các dịch vụ sau:
• Xếp thứ tự các phân đoạn: Khi một thông điệp lớn được tách thành nhiều
phân đoạn nhỏ để bàn giao, tầng vận chuyển sẽ sắp xếp thứ tự trước khi giáp
nối các phân đoạn thành thông điệp ban đầu.
• Kiểm soát lỗi: Khi có phân đoạn bị thất bại, sai hoặc trùng lặp, tầng vận
chuyển sẽ yêu cầu truyền lại.
• Kiểm soát luồng: tầng vận chuyển dùng các tín hiệu báo nhận để xác nhận.
Bên gửi sẽ không truyền đi phân đoạn dữ liệu kế tiếp nếu bên nhận chưa gửi
tín hiệu xác nhận rằng đã nhận được phân đoạn dữ liệu trước đó đầy đủ.
Tầng vận chuyển là tầng cuối cùng chịu trách nhiệm về mức độ an toàn trong
dữ liệu nên giao thức tầng vận chuyển phụ thuộc rất nhiều vào bản chất của tầng
mạng.
• Tầng mạng (Network Layer):
Chịu trách nhiệm lập địa chỉ các thông điệp, diễn dịch địa chỉ và tên logic thành
địa chỉ vật lý đồng thời nó cũng chịu trách nhiệm gửi packet từ mạng nguồn đến
mạng đích. Tầng này quyết định hướng đi từ máy nguồn tới máy đích… Nó cũng
quản lý lưu lượng trên mạng chẳng hạn như chuyển đổi gói định tuyến và kiểm soát
nghẽn dữ liệu. Nếu bộ thích ứng mạng trên bộ định tuyến (router) không thể truyền
đủ dữ liệu mà máy tính nguồn gửi đi, tầng mạng trên bộ định tuyến sẽ chia sẻ dữ
liệu thành những đơn vị nhỏ hơn.
Tầng mạng quan trong nhất khi liên kết hai loại mạng khác nhau như mạng
Ethernet với mạng Token Ring khi đó phải dùng một bộ tìm đường (quy đinh bởi
tầng mạng) để chuyển đổi giữa các gói tin từ máy này sang máy khác và ngược lại.
Đối với một mạng chuyển mạch gói (packer – switch network) gồm các tập hợp
các nút chuyển mạch gói nối nhau bởi các liên kết dữ liệu. Các gói dữ liệu được
chuyển từ một hệ thống mở tới một hệ thống mở khác trên mạng phải được chuyển
qua một chuỗi các nút. Mỗi nút nhận gói dữ liệu từ một đường vào (incoming link)
rồi chuyển tiếp nó tới một đường ra (outgoing link) hướng đến đích của dữ liệu.

gửi biết gói tin đó có lỗi để nó gửi lại.
Các giao thức tầng liên kết dữ liệu chia làm hai loại chính là giao thức hướng
ký tự và giao thức hướng bit. Các giao thức hướng ký tự được xây dựng dựa trên
các ký tự đặc biệt của một bộ mã nào đó (như ASCII hay EBCDIC), trong khi đó
các giao thức hướng bit lại dùng cấu trúc nhị phân (xâu bit) để xây dựng các phần
tử giao thức (đơn vị dữ liệu, các thủ tục), và khi nhận, dữ liệu sẽ được tiếp nhận lần
lượt từng bit một.
• Tầng vật lý (Physical):
Là tầng cuối cùng của mô hình OSI, nó mô tả đặc trưng vật lý của mạng: Các
loại cáp để kết nối thiết bị, các loại đầu nối được dùng, các dây cáp có thể dài bao
nhiêu…Mặt khác các tầng vật lý cung cấp đặc trưng điện của các tín hiệu được
dùng để khi chuyền dữ liệu trên cáp từ một máy này đến máy khác của mạng, kỹ
thuật nối mạch điện tốc độ cáp truyền dẫn. Tầng vật lý không qui định một ý nghĩa
nào cho các tín hiệu đó ngoài các giá trị nhị phân là 0 và 1. Ở các tầng cao hơn của
mô hình OSI ý nghĩa của các bit ở tầng vật lý sẽ được xác định.
Một số đặc điểm của tầng vật lý:
• Mức điện thế.
• Khoảng thời gian thay đổi điện thế.
• Tốc độ dữ liệu vật lý.
• Khoảng đường truyền tối đa.
21
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
2.2. Bộ giao thức TCP/IP:
TCP/IP – Transmission Control Protocol/ Internet Protocol.
2.2.1. Tổng quan về bộ giao thức TCP/IP:
TCP/IP là bộ giao thức cho phép kết nối các hệ thống mạng không đồng nhất
với nhau. Ngày nay, TCP/IP được sử dụng rộng rãi trong các mạng cục bộ cũng
như trên mạng Internet toàn cầu.
TCP/IP được xem là giảm lược của mô hình tham chiếu OSI với bốn tầng như
sau:

Cũng tương tự như mô hình OSI khi truyền dữ liệu quá trình tiến hành từ tầng trên
xuống tấng dưới, qua mỗi tầng dữ liệu được thêm vào một thông tin điều khiển
được gọi là phần header. Khi nhận dữ liệu thì quá trình này xảy ra ngược lại, dữ
liệu được truyền từ tầng dưới lên trên và qua mỗi tầng thì phần header tương ứng
được lấy đi và khi đến tầng trên cùng thì dữ liệu không còn phần header nữa. Hình
vẽ 0-10 cho ta thấy lược đồ dữ liệu qua các tầng. Trong hình vẽ này ta thấy tại các
tầng khác nhau dữ liệu được mang những thuật ngữ khác nhau:
• Trong tầng ứng dụng dữ liệu là các luồng được gọi là stream.
• Trong tầng giao vận, đơn vị dữ liệu mà TCP gửi xuống tầng dưới gọi là TCP
segment.
• Trong tầng mạng, dữ liệu mà IP gửi tới tầng dưới gọi là IP datagram.
• Trong tầng liên kết, dữ liệu được truyền đi gọi là frame.
23
GVHD: Đào Văn Lập SVTH: Liềm Văn Đông
2.2.2. So sánh TCP/IP với OSI:
TCP/IP với OSI: mỗi tầng trong TCP/IP có thể là một hay nhiều tầng của OSI.
Bảng sau chỉ rõ mối tương quan giữa các tầng trong mô hình TCP/IP với OSI:
OSI TCP/IP
Physical Layer va Data link
Layer
Data link Layer
Network Layer Internet Layer
Transport Layer Transport layer
Session Layer, Presentation
Layer, Application Layer
Application Layer
Sự khác nhau giữa TCP/IP với OSI chỉ là:
• Tầng ứng dụng trong mô hình TCP/IP bao gồm luôn cả 3 tâng trên của mô
hình OSI.
• Tầng giao vận trong mô hình TCP/IP không phải luôn đảm bảo độ tin cậy

diễn dưới dạng thập phân và cách nhau bởi dấu chấm (.).
VD: 203.162.7.92.
Địa chỉ IP v4 được chia thành 5 lớp A,B,C,D,E, trong đó 3 lớp địa chỉ A,B,C
được dùng cấp phát.
Lớp A (0) cho phép định danh tới 126 mạng với tối đa 16 triệu trên mỗi mạng.
Lớp B (10): cho phép định danh tới 1684 mạng với tối đa 65534 trạm trên mỗi
mạng.
Lớp C (110): cho phép định danh tới 2 triệu mạng với tối đa 254 trạm trên mỗi
mạng.
Lớp D (1110) dùng để gửi gói tin IP đến một nhóm các trạm trên mạng (còn gọi
là lớp địa chỉ multicast).
Lớp E (1110) dùng để dự phòng.
Lớp
A
B
C
D
E
Khoảng địa chỉ
• Đến
127.255.255.255
128.0.0.0 Đến 191.255.255.255
192.0.0.0 Đến 223.255.255.255
224.0.0.0 Đến 239.255.255.255
240.0.0.0 Đến 247.255.255.255
Hình 2-8: Bảng các lớp địa chỉ Internet
• Địa chỉ mạng con:
Đối với các địa chỉ lớp A, B số trạm là quá lớn và trong thực tế thường không
có một trạm lớn như vậy kết nối vào một mạng đơn lẻ. Địa chỉ mạng còn cho phép
chia một mạng lớn thành các mạng con nhỏ hơn. Ta có thể dùng một số bit đầu tiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status