VÀI NÉT VỀ GIÁ TRỊ THƠ CA PHƯƠNG ĐÌNH NGUYỄN VĂN SIÊU
(1799-1872)
Nguyễn Văn Siêu tự là Tốn Ban, hiệu Phương Đình và Thọ Xương cư sĩ,
thụy là Chí Đạo. Ông sinh ngày mồng 3 tháng 7 năm Kỷ Mùi (1799), mất ngày
mồng 7 tháng 6 năm Nhâm Thân (1872); Nguyên quán làng Lủ (hay còn gọi là
làng Kim Lũ ), xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, sau định cư tại thôn Dũng Thọ,
huyện Thọ Xương, Hà Nội. Nguyễn Văn Siêu là một nhà Nho tiêu biểu của thế kỷ
XIX. Ông là người có trách nhiệm với dân với nước, là người thầy uyên bác đức
độ, là nhà văn hóa luôn gìn giữ truyền thống và là tác gia với sự nghiệp trước tác
khá đồ sộ. Về thơ ca tác giả còn để lại bốn tập thơ là Phương đình vạn lí tập,
Phương Đình anh ngôn thi tập, Phương Đình Lưu lãm thi tập, Phương Đình mạn
hứng thi tập. Phương Đình sáng tác theo các thể của thơ Đường luật và cổ phong.
Trong bốn tập thơ của ông có ngũ ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú, thất ngôn tứ
tuyệt, thất ngôn bát cú và thể trường thiên. Mỗi thể đều có những thế mạnh và
những thành công riêng. Ông sáng tác nhiều đề tài khác nhau, ở đây tạm chia
thành ba mảng lớn là đề tài thiên nhiên, đề tài con người và đề tài cá nhân với
những giá trị đặc sắc về nghệ thuật và nội dung.
1. Đề tài về thiên nhiên
Như nhiều bậc tao nhân mặc khách, Nguyễn Văn Siêu cũng say cảnh thiên
nhiên. Trong thi phẩm của ông, thiên nhiên tỏa sáng ở hai vẻ đẹp, thứ nhất là
những vẻ đẹp dữ dội gai góc tác động mạnh vào các giác quan, thứ hai là những vẻ
đẹp êm đềm thơ mộng, gợi tả cuộc sống bình yên. Đứng trước những núi cao, thác
hiểm, đèo sâu…ngòi bút tác giả trở nên thật sống động, khắc họa thật hữu hình.
Còn lúc đối diện với những mặt hồ trong xanh, những dòng sông hiền hòa, những
cánh đồng trải dài, những làng quê thanh bình…thi nhân chủ yếu dùng nghệ thuật
chấm phá, nắm bắt linh hồn của cảnh vật. Đặc điểm này có sự gặp gỡ giữa thơ ca
và văn xuôi, góp phần tạo thành những nét riêng trong diện mạo văn chương.
1.1. Thiên nhiên hùng vĩ và khắc nghiệt
Thiên nhiên hùng vĩ và khắc nghiệt ở cả hình hài, dáng vẻ, màu sắc, âm
thanh… Nào là:
Hữu cố vụ điền hải,
sảo, tác giả đã phô bày cảnh tượng kỳ vĩ của thiên nhiên. Thi nhân Phương Đình
đã sử dụng vốn Hán ngữ thuần thục điêu luyện và khả năng tạo hình đầy ấn tượng.
Người đọc như tận mắt chứng kiến, thể nghiệm những cảnh tượng này.
Hơn thế, trong vẻ đẹp dữ dội của thiên nhiên dường như ẩn chứa tâm sự
của tác giả, tuy mơ hồ mà cũng rất rõ nét:
Tháp thế phi tăng trọng,
Giang lưu nại nhược hà.
Khả lân sơn lưỡng ngạn,
Bôn thấu tự tùy ba.
(Ngao Đầu sơn)
(Thế tháp không thêm nặng,
Sông chảy chẳng hề chi.
Đáng thương hai bờ núi,
Cứ phải chạy theo những con sóng)
(Núi Ngao Đầu)
Dường như có một ý thức khẳng định cá nhân trong hình tượng ngọn núi
giữa lòng sông này? Trong những tứ thơ như trên, phép ẩn dụ tạo chiều sâu cho thi
ca. Những hình tượng nghệ thuật không phải cách tượng trưng quy phạm kiểu ngư
tiều canh mục, tùng cúc trúc mai, long li quy phụng… cũng không phải là ẩn dụ
mô-típ vật dụng thường nhật như quả dưa, cái chổi, ông đầu rau, cây gậy… Nhà
thơ đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ một cách rất riêng và mang tính hiện đại trong
cách lựa chọn cái biểu đạt và nội dung biểu đạt.
3
1.2. Thiên nhiên thơ mộng và bình yên
Bên cạnh những bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ dữ dội, thơ của thi nhân
Phương Đình còn có những bức tranh thiên nhiên nhẹ nhàng, gợi xúc cảm nội tâm.
Nghệ thuật chấm phá, một thủ pháp tả cảnh quen thuộc của văn học phương Đông,
đã được phát huy thế mạnh để làm tha thiết hơn những cảnh những tình. Thiên
nhiên đất nước quê hương hiện lên qua rặng trúc xanh, tiếng chuông ngân trên mặt
hồ, ánh trăng huyền ảo, con thuyền bé nhỏ chòng chành, gợn sóng lăn tăn, làn khói
Bễ nghễ liên gia bán nhập vân.
(Bình Lạc triêu tễ lãm thắng)
(Chướng khí ít dần, khói sương mờ dần, mặt trời chiếu tỏ,
Hồ nước trong in bóng những hình ảnh dày đặc.
Sắc vẻ mờ nhạt xanh hơn khi bắt đầu gặp cơn mưa,
Trông nghiêng vài mái nhà liền nhau, một nửa như nhập vào mây)
(Ngắm cảnh mưa tạnh ở Bình Lạc)(*)
Tất cả những nét chấm phá đó đã tái hiện linh hồn cảnh vật để khẳng định
một tài năng văn chương với một tâm hồn rất nhạy cảm trước thiên nhiên. Bằng
nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, thi nhân đưa người đọc vào những cung bậc tình cảm
rất khác nhau, có thể là một nỗi buồn da diết từ tâm can ngấm vào cảnh vật và sự
se sắt của cảnh vật tràn vào lòng người:
Xuân ba chuyển lục thụ,
5
Sơn thúy tạp nhân yên.
Hà sự thôi bồng vũ,
Hàn thanh động nhất xuyên.
(Ninh Minh giang chu thứ)
(Sóng xuân nhuốm cây xanh,
Sắc núi biếc nhòa khói nương.
Cớ gì mưa trên mái bồng cứ gõ,
Tiếng mưa lạnh khuấy động cả dòng sông)
(Thuyền đậu trên sông Ninh Minh)(*)
Nhưng cũng có thể, ở đó thiên nhiên đẹp đẽ, như làm vợi bớt những cơn cớ ưu
phiền sầu muộn và bừng sáng một cảm thức thanh thoát và bình yên:
Thả tận minh triêu hứng,
Đồng quân đãng bách ưu.
(Du Tây Hồ)
(Cùng tận hưởng cái hứng của buổi sáng trong lành,
Cùng anh bỏ hết trăm mối sầu lo)
Ngọn tháp cô độc sắp đổ ganh đua với mưa gió,
Bia cũ vỡ một nửa làm chứng cho sự thay đổi.
Khó mà cùng những nhà sư tầm thường bàn chuyện đã qua,
Bụi của lửa kiếp vẫn đầy ở đê điều ao hồ xưa)
(Thăm núi Phật Tích ở An Sơn nhớ chuyện xưa) (*)
7
Tác giả như hoà mình vào dòng chảy của thời gian, tận hưởng vẻ đẹp của
thiên nhiên ở thế núi trùng điệp, ở màu sắc của bầu trời xanh thẳm, ở hương vị cỏ
cây còn lưu mãi với thời gian…rồi suy ngẫm về những nhân vật lịch sử như Từ
Đạo Hạnh, vua nhà Lí và găm lại lòng người dấu ấn của sự đổi thay. Hai hình ảnh
dục đồi cô tháp (ngọn tháp cô độc sắp đổ) và bán lạc tàn bi (tấm bia cũ đã vỡ một
nửa) trở thành những ám ảnh nghệ thuật về vòng quay tang thương dâu bể của
kiếp người, của cuộc đời và của cả những triều đại, những hệ tư tưởng.
Tác giả xót xa trước những nỗi đau của lịch sử. Khi thăm gò Đống Đa phía
Tây thành Hà Nội, nơi diễn ra một trong những cuộc chiến thảm khốc giữa quân
Tây Sơn và quân xâm lược Mãn Thanh, ông viết:
Sự dĩ đồi ba bất khả chi,
Tây Sơn quật khởi diệc tuỳ di.
Tha nhân ỷ trọng nan vi quốc,
Khách địa khinh phù mạn khí si.
(Điếu thành Tây Loa Sơn cổ chiến trường xứ)
Sự nghiệp (nhà Lê) như sóng nước trôi xuôi không thể chống đỡ được,
Tây Sơn nổi lên, cũng là sự biến chuyển theo thời thế.
Dựa vào người ngoài khó mà lo được việc nước,
Ở đất khách khinh suất là đem vất quân đi)
(Thăm viếng Loa Sơn phía Tây thành nơi chiến trường xưa) (*)
Và người con của dân tộc luôn quật cường chống lại giặc ngoại xâm đã bày
tỏ niềm tự hào trước những chiến công oanh liệt:
Nguyên nhân vô yếm tứ lăng xâm,
Bách vạn Nam lai độc tựu cầm.
9
Đề tài nổi bật thứ hai trong thơ thi nhân Phương Đình là đề tài viết về con
người. Trong bốn tập thơ, đề tài này được khai thác trên nhiều phương, nhưng xúc
động hơn cả là mảng viết về sự thống khổ của người dân lao động với nỗi xót xa
vô hạn trước cuộc sống khó khăn cơ cực lầm than mà họ phải gánh chịu:
Quái sự, quái sự bất nhẫn văn,
Bạch trú sát nhân toàn gia khứ.
Quân lại quá giả cố chi tha,
Hương lí tàng nặc bất cảm ngữ.
Ngữ giả thập nhân vô nhất sinh,
Gia gia hôi tẫn thành phi nhứ.
Tróc nhân quan đạo như thâm sơn,
Vãng lai tinh tán vô nhân cự.
Thù giả sách tiền phục sát chi,
Nhân gia ngưu tửu nhật yếm ứ.
Triêu tịch hoành hành vi lí lư,
Phủ huyện nha biên thời tán xử.
Khoảnh khắc liên phá nhị tam thôn,
Kinh hoàng tẩu tử lão nhi nữ.
Thái thậm phất hoạch dĩ chi quan,
Tầm phục nhất không trục dữ trữ.
(Nhân tự Bắc Ninh lai,
ngôn Bắc Ninh sự, cảm tác)
(Chuyện lạ quá, chuyện lạ quá, không thể chịu nổi khi nghe,
10
Giữa ban ngày vào giết cả nhà người ta rồi bỏ đi.
Quân lính nha lại qua đó, ngó nhìn rồi lảng tránh,
Làng xóm che giấu không dám nói.
Nói ra, mười người không một ai sống sót,
Nhà nhà bị thiêu rụi, tàn bay khắp nơi.
nghĩa bị dìm chết trong đói khát, bệnh tật, cướp bóc, chém giết và chiến tranh.
Những con người đi nhiều, hiểu nhiều, luôn bị tổn thương trước bất công như tiên
sinh họ Nguyễn đã không thể dửng dưng trước những bi kịch nghiệt ngã ấy. Cố
nhiên, cũng như nhiều tác gia trong giai đoạn này, hiện thực trong các tác phẩm
của Nguyễn Văn Siêu dường như chỉ dừng lại ở việc phơi bày tội ác của nha lại
địa phương, đồng cảm với nỗi bất hạnh của “dân đen con đỏ” chứ chưa thấu suốt
được bản chất xã hội đương thời và vẫn giữ một lòng tin với nhà nước phong kiến,
triều đại phong kiến. Trong cảnh nhân dân đói khổ như thế, ông vẫn tin tưởng:
Triều đình uy đức dữ thiên tề,
Thiên hạ Đông Tây hàm an cư.
(Nhân tự Bắc Ninh lai )
(Uy đức của triều đình sánh với trời cao,
Thiên hạ khắp nơi được an cư)
(Có người từ Bắc Ninh tới ) (*)
Theo ông, những cảnh tượng bất nhẫn văn chỉ có tính “cá biệt” và chỉ đưa
ra lời giải đáp phỏng chừng:
Hồ vi hồ nhất phương hồng nhạn trường bi minh…
… Thiên lí sương môn bất tận văn.
(Nhân tự Bắc Ninh lai…)
(Cớ sao chỉ có riêng một phương mà chim hồng chim nhạn kêu thảm thiết.
…Cung vua xa ngàn dặm không thấu hết sự tình)
12
(Có người từ Bắc Ninh tới ) (*)
Hoặc cắt nghĩa sự khốn khổ của nhân dân bởi những hoàn cảnh bất lợi của
thiên nhiên:
Kim niên xuân hạ thu,
Vãng vãng Bắc phong khởi.
Giang hà lạo kê thiên,
Tây Nam Bắc đê tỵ…
(Trọng đông sơ hàn dạ hữu tiểu vũ phục chỉ cảm tác)
tác giả không đi đến phê phán những mâu thuẫn xã hội phức tạp và nảy lửa đương
thời. Cũng không loại trừ khả năng do nguyên nhân về hoàn cảnh và cá tính,
Nguyễn Văn Siêu chưa thực sự nhìn ra bản chất hiện thực với xu thế vận động tất
yếu của nó. Có lẽ vì những lí do trên mà thơ ca Phương Đình thường hàm chứa
giọng điệu chừng mực, trầm lắng, xúc động và có phần bức xúc mà không phải
giọng điệu bứt phá táo bạo sẵn sàng bỏ cái cũ dựng cái mới, càng không phải tiếng
thơ ngang tàng vượt lên mọi thói tục bình thường.
Tuy vậy, tình yêu thương con người vẫn tạo nên chất hiện thực sắc sảo và
đầy xúc động. Với ông, người dân thống khổ không chỉ là dân Việt Nam. Thi nhân
xót thương người dân Ba Lăng đất Nhạc Dương, Hồ Nam, cũng như dân tình hai
tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc rơi vào cảnh đói khát :
Trường đoạn Ba Lăng khất thực ca,
Lưỡng Hồ bách tính tại phong ba.
Quân Sơn thượng hữu trường sinh tửu,
Sở túc như châu khả nại hà?
(Ba Lăng ca giả duyên lưu vãng văn chi cảm hoài)
(Đứt ruột khi nghe bài hát ăn xin của người Ba Lăng,
14
Trăm dân hai tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc đang trong cơn sóng gió.
Trên núi Quân Sơn có rượu trường sinh,
Gạo nước Sở lại đắt như châu báu là vì sao?)
(Cảm xúc khi nghe bài ca của người Ba
Lăng)(*)
Thi nhân xót thương cả những người lính Trung Quốc chết trận ở
Việt Nam:
Tự thử quan hà đa hữu lệ,
Tòng tiền thảo mộc tận sinh bi.
Khả liên tích cốt vô quy nhật,
Loạn dữ quần sơn nhất vọng nguy.
(Điếu thành Tây Loa Sơn cổ chiến trường xứ)
Khắp mọi nơi chỉ trồng cây hoa)
(Mấy vần thơ về cảnh vườn nhà)(*)
Và đời sống thật thư thái:
Túc hoả minh thư dũ,
Hiểu chung văn Phật đài.
Chủ nhân thôi bị khởi,
Tiểu tử báo hoa khai.
Dạ khí dung cô trúc,
Tình quang lộng tiểu mai.
16
Lưu oanh chuyển bất dĩ,
Ưng hữu cố nhân lai.
(Xuân nhật hiểu khởi)
(Đèn đêm còn soi sáng cửa sổ thư phòng,
Tiếng chuông chùa ban mai đã vẳng tới.
Chủ nhân gạt chăn trở dậy,
Chú nhỏ vào thưa rằng hoa đã nở rồi.
Khí lạnh ban đêm còn bao phủ ngọn trúc lẻ loi,
Ánh sáng ban mai đã rập rờn trên cành mai nhỏ bé.
Chim oanh hót líu lo không ngừng,
Chừng như có bạn cũ sắp tới chơi)
(Ngày xuân dậy sớm) (*)
Nhiều văn nhân đã viết về gia đình, người thân với những áng thơ văn cảm
động. Gia đình là thế giới thu nhỏ và thân thương đã từng xuất hiện qua thơ văn
của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du… và sau này là Nguyễn
Khuyến, Tú Xương… Thi nhân Phương Đình cũng tha thiết khi viết về con đường,
cây cầu, ngôi nhà, vườn mai và những người thân của mình. Một lần, trong bâng
khuâng nghẹn ngào của người đi xa nay trở về và lại sắp sửa phải đi xa, ông nhẹ
nhàng nâng niu mọi vật và tất cả dường như đều trở thành tri âm:
Thành Đông khúc hạng bất dung diêu,
rất cô độc. Khi ngắm trăng trên sông Nhị Hà, thi nhân khao khát :
Vũ trụ khan lai hữu chí lạc,
18
Tiêu thân ý vị hữu thuỳ đồng.
(Nhị Hà đối nguyệt)
(Vũ trụ xem ra rất lí thú,
Ý vị này giữa đêm khuya khoắt, có ai cùng chia sẻ với ta
chăng?)
(Ngắm trăng trên sông Nhị) (*)
Khi bị bệnh nằm nghỉ trong vườn cũ ngắm trăng vào đêm thu, ông tâm sự:
Tế tư kim dữ tác,
Hà oán diệc hà ưu.
(Thu dạ cố viên ngoạ bệnh
đối nguyệt hứng)
(Suy nghĩ kĩ về chuyện hôm nay và hôm qua,
Oán thán gì đây và lo lắng gì đây?)
(Đêm thu ở vườn cũ bị bệnh nằm ngắm
trăng, cảm hứng mà sáng tác)
Nỗi cô đơn ấy rõ nét hữu hình hơn trong cảnh xa xứ. ấy là lúc thi nhân
ngắm vầng trăng ở Linh Xuyên:
Tương cung thanh tức tức,
Du liễu thụ xâm xâm.
Thử dạ Linh Xuyên nguyệt,
Thiên chu vạn lí tâm.
(Linh Xuyên kiến nguyệt)
(Tiếng dế kêu rầu rĩ,
19
Những cánh rừng du liễu rậm rạp.
Đêm nay nhìn trăng Linh Xuyên,
Một con thuyền nhỏ, một cõi lòng vạn dặm)
đời sống tinh thần cá nhân. Nguyễn Văn Siêu xứng đáng là tác giả tiêu biểu của
nền văn học Việt Nam thế kỉ XIX. /. Chú thích
(*): Bản dịch của Tổng tập văn học (tập 42), (phần tác giả Nguyễn Văn Siêu ),
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996; tr.1125-114
21