Thêm vài nét về thơ Haicu và Thơ Baso
Haiku là những bài thơ cực ngắn của Nhật Bản, chỉ có ba dòng (câu): dòng
đầu năm vần, dòng hai bảy vần và dòng ba năm vần.
Trong ba dòng bắt buộc phải có một từ chỉ mùa, hoặc có thể không nói tên
từng mùa xuân, hạ, thu, đông, song có cách ám chỉ các mùa này bằng các từ
như hoa đào nở, tiếng ve ngân, lá vàng, sương tuyết, hoặc đề cập về khí hậu,
lễ hội, chim muông, hoa cỏ cho thấy đặc trưng của mùa Trong thơ cũng
phải có hai hình ảnh đối ngược to/nhỏ, dữ/hiền, tĩnh/động và sự ngắt câu.
Haiku là những bài thơ cực ngắn của Nhật Bản, chỉ có ba dòng (câu): dòng
đầu năm vần, dòng hai bảy vần và dòng ba năm vần.
Trong ba dòng bắt buộc phải có một từ chỉ mùa, hoặc có thể không nói tên
từng mùa xuân, hạ, thu, đông, song có cách ám chỉ các mùa này bằng các từ
như hoa đào nở, tiếng ve ngân, lá vàng, sương tuyết, hoặc đề cập về khí hậu,
lễ hội, chim muông, hoa cỏ cho thấy đặc trưng của mùa Trong thơ cũng
phải có hai hình ảnh đối ngược to/nhỏ, dữ/hiền, tĩnh/động và sự ngắt câu.
Đầu thế kỷ 12, ở Nhật Bản đã có thể thơ waka hay Hòa Ca gồm hai đoạn với
đoạn đầu có ba dòng 17 âm và đoạn sau hai dòng 14 âm. Khi sáng tác, một
người sẽ làm một đoạn đầu, người kia hứng khởi làm nốt đoạn cuối để ráp
thành một bài thơ cứ thế nối nhau có khi dài trăm đoạn. Đến thế kỷ 13, tiếp
tục xuất hiện một loại trường thi gồm 100 bài thơ của 100 tác giả nối tiếp
nhau có tính chất vui chơi, hài hước gọi là haikai no renga - bài hài liên ca.
Năm 1679 và 1686, nhà thơ Matsuo Basho (1644 - 1694) đã sáng tác hai bài
thơ Con quạ và Con ếch mà chỉ dừng lại ở đoạn đầu tiên ba dòng với 17 âm
mở đường cho thể thơ haiku. Kế tiếp ông khai lập thể thơ này là Taniguchi
(Yosa) Buson (1716 - 1783), Kobayashi Issa (1763 - 1827), Masaoka Shiki
(1867 - 1902) Và một số nhà thơ hiện đại là Sugita Hisajo (1890 - 1946)
và Hashimoto Takato (1899 - 1963)
Khi làm haiku, nhà thơ phải miêu tả các sự vật thật cô đọng. Do tiếng Nhật ở
dạng đa âm tiết, một chữ có thể gồm rất nhiều vần nên ở haiku, 17 vần đã
nói được rất nhiều điều. Thơ ngắn gọn song vẫn cho biết được không gian,
thời gian mà nhà thơ đang ở, và thường phản ánh một sự kiện đang diễn ra
và Trung Hoa. Thơ Basho phảng phất cốt tiên và thiền viện vừa cao nhã vừa
u tịch. Trong các bài thơ xuất chúng của Basho phải kể tới bài thơ Furuike
ya:
Furuike ya
Trong ao xưa
Cái ao xưa
Kawazu tobikomu
Con ếch nhảy vào
Một chú ếch nhảy tòm xuống
Mizu no oto
Tiếng nước khua
Tủm
Đầu năm 1686, trong lần đàm đạo cùng các thi sĩ trong vườn tại cư xá ở
Edo, bỗng nhiên cuối vườn có tiếng nước động, bất thần ông đã làm bài thơ
này. Bài thơ chỉ có ba chi tiết: Một cái ao nhỏ, một con ếch và một tiếng
nước khua vậy mà đã cho thấy phong vị mùa xuân thật cổ kính, nên thơ.
Hoặc như bài thơ Shizukasa ya:
Shijuka saya
Nhẹ nhàng thanh thoát
Tiếng ve kêu râm ran
Tịch mịch
Iwa ni shimi iru
Tiếng ve ca
Như tan vào trong đá
Tiếng ve ran
Semi no koe
Thấm vào non núi
Ôi sao tĩnh lặng quá
Thấm cả vào bờ đá
Trong tiếng Nhật, có từ semishigure - Tiếng ve kêu như trời đổ mưa rào để
Takotsubo ya
Con bạch tuộc nằm trong lọ
Đêm chăng bẫy loài mực phủ
hakanani yume wo
Thả hồn theo những giấc mơ
Trăng hè bóng dõi
natsu no tsuki
Trên biển trăng mùa hè
Mộng phù sinh
Loài bạch tuộc thường bò vào những hốc hang dưới biển, và ngư dân đã tận
dụng điều này, vào đêm thả những cái lọ đất nung để bẫy con vật. Đêm hè
ánh trăng lan tỏa, một con bạch tuộc mắc lọ đang say ngủ, và như mọi hôm
nó lại mơ về một cuộc sống tung hoành. Trên đường qua vùng biển Akashi
nhiều bạch tuộc ở Nội Hải, Basho đã viết mấy dòng thơ muốn nói đến số
phận con người thật ngắn ngủi mà nhiều mộng tưởng.
Taniguchi (Yosa) Buson là một nhà thơ nổi tiếng thời Edo (1603 - 1867).
Ông tên thật là Taniguchi Nobuaki, sinh năm 1716 ở làng Kema tỉnh Settsu
ngoại ô thành Osaka mồ côi cha mẹ từ nhỏ trong một gia đình nông dân.
Năm 1737, ông tới thành Edo học vẽ và làm thơ haiku rồi sống ở Kyoto.
Năm 1772 có tập thơ đầu tay. Nhà thơ luôn nhìn mọi vật dưới con mắt của
một họa sĩ, bút pháp tao nhã lãng mạn, khiến thơ ông đẹp như một bức
tranh. Ông mất năm 1783. Một tuyệt tác của ông là bài thơ Wochi-kochi ni:
Wochi-kochi ni
Gần xa lơ lửng
taki no oto kiku
Tiếng thác rơi
wakaba kana
Lá đâm chồi
Đầu hè, trên một quả cây cối đã nẩy chồi xanh mướt, và vẳng đâu đó có
tiếng thác nước rơi lách cách. Mầu xanh của lá, mầu trắng bạc của nước,
người cải cách haiku, khởi xướng phong trào shasei tả sinh hay tả thực và
sống động. Ông mất năm 1902, để lại nhiều tác phẩm, trong đó có bài thơ
Iriguchi ni:
Iriguchi ni
Họ đang phơi bo bo
Mugi hosu ie ya
Phía trước cửa nhà kho
Furu-sudare
Mành tre cũ đong đưa
Đây là một cảnh tượng rất quen thuộc của làng quê Nhật Bản. Trước sân
nhà, chiếc mành tre che nắng, và trên sân người nông dân phơi bo bo. Khung
cảnh thật dung dị, thân thương.
Sugita Hisajo là một nữ sĩ haiku lớn nhất nửa sau các năm 1920 của Nhật
Bản. Buổi đầu, bà chuyên viết tiểu thuyết và đoản ca, sau này làm thơ haiku,
gửi gắm vào thơ tình yêu đắm say. Cuối đời, nhà thơ gặp nhiều bất hạnh và
mất trong một bệnh viện tâm thần năm 1946. Tiêu biểu cho thơ Hisajo phải
kể tới bài thơ Hanagoromo:
Hanagoromo
Từng mảnh xiêm y
nuguya matswaru
Rời thân thể ngọc đi ngắm hoa về
himoiroiro
Sợi hồng lưu luyến
Vào xuân, khi hoa đào nở, phụ nữ Nhật Bản lại mặc những bộ áo kimono
đẹp gọi là xiêm y đi ngắm hoa hanagoromo. Sau buổi tiệc vui về đến nhà,
người đã thấm mệt song ai nấy vẫn còn bồi hồi, và vội cởi bỏ bộ áo kimono
bảy lớp có nhiều dây buộc, song không hiểu vì quá xúc động hay vì kỹ thuật
của bộ áo mà càng vội thì những sợi dây lụa mầu càng quấn quýt, để lộ dần
những đường cong tuyệt mỹ.
Hashimoto Takato cũng là một nhà thơ nữ haiku nổi tiếng thập niên 40 - 50.