VƯƠNG QUỐC ANH VÀ BẮC AI-LEN VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN
HIỆP VƯƠNG QUỐC ANH VÀ BẮC AI-LEN
I. Khái quát chung:
Tên nước Liên Hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (gọi tắt là Anh)
Thể chế Quân chủ lập hiến
Thủ đô London (7,3 triệu người).
Vị trí địa lý nằm ở Tây Âu, giáp Cộng hòa Ai Len 360km
Khí hậu Ôn đới
Diện tích 244.820km2; diện tích đất liền 241.590km2; diện tích biển 3.230km2.
Dân số 60.609.153 người (7/2006), đông dân thứ 3 châu Âu (2006)
Quốc khánh 11/6, kỷ niệm chính thức ngày sinh Nữ Hoàng Elizabeth II
Đồng tiền Pound (Bảng Anh - GBP); 1 GBP = 1,9 USD
Các dân tộc Người Anh: 83,6%, người Scotland 8,6%; người xứ Wales 4,9%; người
Bắc AiLen 2,9%
Ngôn ngữ Tiếng Anh là tiếng phổ thông. Ngoài ra có các tiếng địa phương như tiếng Welsh,
tiếng Scottish
Tôn giáo Đa số theo đạo Tin Lành/Anh Giáo
Lãnh đạo chủ chốt hiện nay:
- Nguyên thủ quốc gia: Nữ hoàng Elizabeth II (sinh ngày 21/4/1926, xây dựng gia đình
20/11/1947, lên ngôi 6/2/1952, đăng quang ngày 2/6/1953, kỷ niệm ngày sinh chính thức 11/6 hàng
năm).
- Thủ tướng: Tony Blair, lãnh tụ Công Đảng, cầm quyền từ năm 1997.
- Bộ trưởng Ngoại giao: Margaret Beckett (từ tháng 5/2006).
- Lãnh tụ Thượng Viện: The Rt Hon. the Baroness Amos (10/2003).
- Lãnh tụ Hạ Viện: The Rt Hon Jack Straw MP (5/2006)
II. Lịch sử:
Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai len bao gồm 4 xứ: Anh (England, diện tích 130.281 km2, dân
số 49.537.000 người), Xứ Gan (Wales, 20.732 km2, 2.919.000 người), Xcốt-len (Scotland,
5.055.000 người) và Bắc Ai-len (Northern Ireland, 1.679.000 người); mỗi xứ có lịch sử và văn
hoá riêng.
Các mốc chính trong lịch sử:
độ cha truyền con nối, thay vào đó là cử những người có công với đất nước được Nữ Hoàng
phong cấp.
+ Hạ viện (House of Commons): Là Cơ quan lập pháp chủ yếu gồm 659 nghị sỹ, được bầu theo
nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm. Chức năng chính là thông qua các đạo luật,
các chủ trương, chính sách lớn về kinh tế, xã hội, chính trị đối nội và đối ngoại, giám sát hoạt động
của chính phủ. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Đảng Bảo Thủ và Công Đảng thay
nhau chiếm đa số trong Hạ Viện. Hiện nay Công Đảng chiếm đa số tuyệt đối và là đảng cầm
quyền. Sau tuyển cử 7/6/2001, Công Đảng chiếm 412 ghế, Bảo Thủ 166 ghế, Dân chủ tự do 52
ghế. Ngoài ra còn các đảng mang tính chất địa phương như đảng Plaid Cymru ở Xứ Uên, đảng
Quốc gia Scốt ở Scotland, đảng Liên hiệp Ulster ở Bắc Ai-len..
3. Cơ quan hành pháp:
+ Thủ tướng : do Nữ hoàng bổ nhiệm và được Hạ viện thông qua. Chức năng chính là điều hành
nội các, kiến nghị cho Nữ hoàng bổ nhiệm các giám mục và quan toà. Thủ tướng có quyền, được
sự đồng ý của Nữ Hoàng, tuyên bố giải tán Quốc Hội và định ngày tuyển cử Quốc Hội.
+ Nội các : Khoảng 20-22 thành viên do Thủ tướng chỉ định và Nữ Hoàng phê duyệt, bao gồm các
Bộ trưởng các Bộ, Bộ trưởng không Bộ. Chức Quốc Vụ khanh tương đương với chức Thứ trưởng
của Việt Nam. Từ năm 1995 dưới chính quyền của Đảng Bảo Thủ có chức Phó Thủ tướng. Hiện
nay dưới chính phủ mới chức vụ này vẫn được duy trì.
IV. Kinh tế:
Kinh tế Anh là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, chủ yếu dựa vào khu vực kinh tế tư nhân
(chiếm 80% sản lượng và 75% lao động). Trong những năm 80, dưới thời Thủ tướng M.Thatcher,
Anh đi đầu các nước phương Tây trong việc tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước. Trong thời gian
qua, nền kinh tế đã có những thành tựu quan trọng như : duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế
tương đối cao so với các nước EU, trung bình 2,5%/năm trong 5 năm qua; thất nghiệp thấp,
khoảng 2.9% (2006), thuộc hàng thấp nhất EU; lạm phát thấp khoảng 3% năm 2006.
GDP: 1.900 tỷ USD (2006)
Thu nhập bình quân đầu người: 31.000 USD (2006)
Các ngành kinh tế mũi nhọn: ngân hàng, tài chính, bảo hiểm; sản xuất thép, đóng tàu, khai thác
than; các ngành công nghiệp hoá chất, điện tử; viễn thông, công nghệ cao; dệt, may mặc.
1. Thương mại:
của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng khác, có tiếng nói quan trọng trên trường quốc tế. Anh có
quan hệ ngoại giao với 165 nước.
Mục tiêu chính sách đối ngoại của Anh hiện nay:
- Ưu tiên đối ngoại hàng đầu là củng cố và phát triển quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ trong
đó NATO là hạt nhân quan trọng;
- Phát triển quan hệ với EU nhưng không đối trọng với Mỹ, tăng cường ảnh hưởng và sự lãnh đạo
của Anh tại châu Âu, phát huy vai trò cầu nối giữa châu Âu và Mỹ;
- Tăng cường sức mạnh Khối Thịnh vượng chung;
- Phát huy vai trò của Liên Hiệp Quốc trong các hoạt động gìn giữ an ninh và hoà bình, phát triển
quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, hợp tác quốc tế trong các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá và
nhân đạo mang tính toàn cầu, và bảo vệ nhân quyền;
- Đi đầu trong các vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Gần đây Anh bắt đầu đẩy mạnh quan hệ với các nước ASEAN và châu Á, khu vực trước đây Anh
chưa mấy chú trọng. Một mặt, Anh có nhu cầu củng cố vai trò và vị trí của mình tại các thuộc địa
cũ trong khu vực trước ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc, mặt khác Anh thực sự thấy lợi
ích trong phát triển quan hệ hợp tác kinh tế với khu vực này.
QUAN HỆ VIỆT NAM – LIÊN HIỆP VƯƠNG QUỐC ANH VÀ BẮC AI-LEN
I. Quan hệ chính trị:
Việt Nam và Anh thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ ngày 11/9/1973. Tuy nhiên quan hệ hai
nước chỉ thực sự phát triển tốt từ giữa thập kỷ 90. Hợp tác đầu tiên giữa hai nước là nhằm giải
quyết vấn đề hồi hương người Việt Nam ra đi bất hợp pháp trong các trại tị nạn ở Hongkong. Hiện
nay quan hệ Việt-Anh có thể nói đang phát triển khá rộng trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo
dục, an ninh quốc phòng… Anh đã ký với ta hầu hết các hiệp định kinh tế khung; trở thành một
trong những nhà tài trợ ODA hàng đầu cho Việt Nam; ủng hộ Việt nam tăng cường quan hệ với
EU và ứng cử ghế Uỷ viên không thường trực HĐBA LHQ khoá 2008-09. Chuyến thăm chính thức
Vương quốc Anh của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tháng 5/2004 và của Chủ tịch Quốc hội
Nguyễn Văn An tháng 3/2005 đánh dấu một mốc phát triển quan trọng trong quan hệ hai nước.
Trong những năm qua, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao, chủ yếu là:
- Phía ta : Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1993); Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (1994); Thủ tướng
Xuất khẩu sang Anh 385,4 511,6 579,8 755 1280 1297 1450
Nhập khẩu từ Anh 93,2 176,6 166,6 217 190 147,6 170
2. Đầu tư:
Các công ty Anh vào Việt Nam sớm (1988-89) nhưng thời gian đầu chủ yếu tập trung vào dầu khí
(70% tổng đầu tư). Nay đầu tư của Anh đã mở rộng ra nhiều lĩnh vực mới như ngân hang tài
chính, công nghiệp chế tạo, may mặc... Nhìn chung các dự án đầu tư của Anh có quy mô vừa và
nhỏ, tập trung vào các lĩnh vực: dầu khí (5 dự án chiếm 61,3% tổng vốn đầu tư của Anh), công
nghiệp nặng (6 dự án chiếm 29,2% tổng vốn đầu tư), công nghiệp nhẹ (8 dự án, chiếm 3% tổng
vốn đầu tư), tài chính ngân hàng, bảo hiểm, may mặc, công nghiệp chế tạo…
Tính đến tháng 6/2006, Vương quốc Anh có 70 dự án đang còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư là
1,272 tỷ đô la, đứng thứ 12/61 trong số các nước và vùng lãnh thổ và đứng thứ 3 trong các nước
EU, sau Pháp và Hà Lan (theo con số của Anh là 2,2 tỷ USD do tính cả các công ty Anh đầu tư từ
Hông Kông, Singapore...).
Các công ty lớn có mặt tại Việt Nam: Công ty dầu khí BP-Amoco liên doanh với Statoil (Na Uy),
Công ty Petro Vietnam trong Dự án Đường dẫn khí đốt và tiêu thụ khí đốt Nam Côn Sơn, Tập
đoàn vận tải P&O, Graig Shipping, Shell, BAT, GlaxoSmithKline, Tate & Lyle, Uniliver, Coats, ICI,
Finley Tea, Castrol, các ngân hàng HSBC, Standard Chartered Bank. Gần đây một số quỹ tài
chính đầu tư lớn tại Việt Nam như Dragon Capital (200 triệu USD), Prudential (500 triệu USD).
Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential có mặt tại Việt Nam từ 1994, chính thức họat động theo giấy
phép đầu tư 100% vốn nước ngoài ngày 29/10/1999; thuê trên 5.000 lao động; bán bảo hiểm nhân
thọ cho trên 200.000 người, dẫn đầu các công ty bảo hiểm nước ngoài hiện có mặt tại ta; doanh
thu trên 1000 tỷ VNĐ năm 2001; là dự án đầu tư thành công nhất của Anh tại Việt Nam.
3. Hợp tác phát triển:
Năm 1992, Chính phủ Anh bắt đầu nối lại viện trợ cho Việt Nam. Từ 2001, viện trợ của Anh dành
cho Việt Nam tăng nhanh rõ rệt do 2 nguyên nhân chính: thứ nhất, chính phủ Công đảng ưu tiên
hợp tác phát triển và xây dựng một chính sách hỗ trợ đối với các nước đang phát triển, lập ra Bộ
Hợp tác phát triển Quốc tế (DFID – Department for International Development) chuyên trách viện
trợ phát triển thay vì để Bộ Ngoại giao quản lý như trước đây; thứ hai, Việt Nam với chính sách
xóa đói giảm nghèo đúng đắn đã tạo dựng được uy tín đối với các nhà tại trợ quốc tế, do đó thu
hút được sự chú ý của chính phủ Anh. Một số dự án tài trợ của Anh tại Việt Nam đã rất thành công