Vài nét về văn học nữ đương
đại Trung Quốc Từ thập niên 1980 trở lại đây, văn học nữ đã đạt được nhiều thành tựu, và trở
thành một hiện tượng mang tính toàn cầu. Nhà văn nữ hiện nay không chỉ là một bộ
phận mà còn là niềm vinh quang cho một nền văn học. Trường hợp của Toni Morrison
(Nobel 1993), Elfriede Jelinek (Nobel 2004), Doris Lessing (Nobel 2007)… hay của J.K
Rowling với bộ truyện Harry Potter, Stefenie Mayer với Chạng Vạng… xác tín rất rõ
điều đó. Các quốc gia châu Á cũng nổi lên những hiện tượng văn học nữ như Nhật
có Yoshimoto Banana, Yamada Amy, Kanehara Hitomi, Ogawa Yoko… Bangladesh có
nhà văn nữ rất nổi tiếng Tahmima Anam… Văn học Việt Nam đương đại cũng có nhiều
nhà văn nữ nổi trội như Thuận, Linda Le (Pháp), Phùng Lệ Lí, Bích Minh Nguyễn (Mỹ),
Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh… (trong
nước). Văn học đương đại Trung Quốc cũng không phải là một ngoại lệ. Trong quá trình
tiếp biến những giá trị văn hóa phương Tây, các nhà văn nữ Trung Quốc đã tạo được
tiếng nói riêng, gây tiếng vang trong nước lẫn nước ngoài. Có thể dẫn lời dịch giả Sơn
Lê, người đã dịch khá nhiều tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Việt, giai đoạn từ
1990 đến nay là giai đoạn bùng nổ các tác giả nữ Trung Quốc “gây được tiếng vang
mạnh mẽ nhất trong toàn bộ lịch sử văn học Trung Quốc. Trước cách mạng văn hóa có
vài người như Đinh Linh, Băng Tâm nhưng không thành một xu hướng. Ngay các nhà
phê bình văn học Trung Quốc cũng thừa nhận đây là hiện tượng lạ trên văn đàn Trung
Quốc. Rất nhiều tác giả nữ cũng nói lên bằng những tác phẩm chấp nhận được, có giá trị
thực sự”
(1).
Theo nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc Lưu Tư Khiêm thì khái niệm “văn học
nữ tính” ở Trung Quốc được xác định là “Văn học ra đời trong điều kiện lịch sử nhất
quyền và phê bình nữ tính chủ nghĩa, áp dụng vào sáng tác của mình. Từ những điều
kiện đó, trào lưu “Tiểu thuyết nữ tính chủ nghĩa” bắt đầu hình thành.
1. CÁC TÁC GIẢ VĂN HỌC NỮ TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI
1.1. Các tác giả thuộc trào lưu “Tiểu thuyết nữ tính chủ nghĩa” thập kỷ 80, 90 của
thế kỷ XX đa số sinh trong khoảng thời gian từ 1950 đến 1960. Họ được coi là “gạch nối
thế hệ” giữa hai thời kỳ Trung Quốc trước và sau mở cửa. Thế hệ nhà văn nữ này hiện
nay vẫn còn trong giai đoạn sáng tác sung sức. Tác phẩm của họ vừa mang tính chất
chuyên nghiệp, chín chắn với cái nhìn của người phụ nữ ở lứa tuổi trung niên, vừa hấp
thụ những nét mới của xã hội với lối sống ngày càng tự do, phóng khống để tự làm mới
mình, khơng bị tụt hậu so với thế hệ nhà văn mới trưởng thành.
Có thể kể ra vài gương mặt đại diện cho thế hệ nhà văn nữ này như : Trương
Khiết (1937- ), hai lần được giải thưởng Mao Thuẫn với các tác phẩm Vơ tự và Đơi cánh
nặng trĩu; Trương Kháng Kháng (1950- ), tác phẩm: Mùa hè, Người đàn bà quậy; Tất
Thục Mẫn (1952- ), tác phẩm: Kim cương khơng biến hình, Cái hẹn của phụ nữ, Hãy
cứu lấy bầu vú…; Tàn Tuyết (1953-), tác phẩm: Phù vân già cỗi, Đơi giày
thêu…; Vương An Ức (1954- ), tác phẩm: Tam luyến, Thế kỷ của cương vị, Trường hận
ca (giải thưởng Mao Thuẫn năm 2000), Thắm sắc hoa đào…; Thiết Ngưng (1957-), tác
phẩm: Rơm lúa mạch, Những người đàn bà tắm, Cửa hoa hồng, Mạch kiết đóa, Miên
hoa đóa, Bát hoa…; Trì Lợi (1957-), tác phẩm:Triền miên nước và lửa, Hễ sướng thì hét
lên, Xin chào các tiểu thư, Người đàn bà bất hạnh… ; Diệp Văn Linh, tác phẩm: Thu
Cẩm, Diệp Văn Linh văn tập (8 tập); Phương Phương (1955-), tác phẩm: Phong cảnh,
Hang tối, Mặt trời lặn…
Ngồi ra có thể kể thêm một số tên tuổi nữa như Từ Tiểu Mẫn, Thẩm Đường,
Trần Tố Phương, Hàn Tiểu Huệ, Vương Tiểu Ngọc, Vương Tiểu Ưng, Lục Tinh
Nghi….
Thế hệ nhà văn nữ này đã có những đóng góp rất lớn cho văn học Trung Quốc và
vị trí của họ cũng được nhìn nhận một cách xứng đáng. Cuối thế kỷ vừa qua, danh sách
“Hai mươi nhà văn nữ tiêu biểu Trung Quốc ở thế kỷ XX” đã được cơng bố và tơn vinh.
Trong danh sách này, ngồi hai nhà văn nữ lão thành thuộc thế hệ thứ nhất Đinh Linh và
Băng Tâm, còn lại chủ yếu thuộc thế hệ sinh năm 1950 - 1960, như: Tốt Thục Mẫn,