Điều kiện và khả năng phát triển các QĐTCK ở VN trong giai đoạn hiện nay - Pdf 23

Lời mở đầu
Cách đây không lâu, khoảng một vài năm về trớc, công chúng Việt Nam nói
chung và giới đầu t nói riêng mới chỉ biết hoạt động của thị trờng chứng khoán,
của các công ty đầu t chứng khoán ở Việt Nam nh là một điều gì đó rất mới mẻ, xa
lạ. Ngời dân Việt Nam chỉ biết đến các loại hình đầu t thuần tuý nh gửi tiết kiệm,
mua công trái, hay đầu t vào vàng hoặc ngoại tệ, bất động sản...Nhng từ khi TTCK
VN ra đời (20/7/2000) đã đánh dấu một bớc ngoặt lịch sử của nền tài chính Việt
Nam, nâng tầm hoạt động của thị trờng tài chính VN lên tầm cao mới. Có thể nói
vai trò của TTCK là rất to lớn trong việc góp phần tạo lập một kênh huy động vốn
trung dài hạn cho các đối tợng có nhu cầu đồng thời mở ra hàng loạt cánh cửa đầu
t hấp dẫn, thu hút sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp từ ngời già đến trẻ, từ cá
nhân đến tổ chức. Và giai đoạn đầu thành lập của TTCK VN cũng đúng nh vậy.
Ngời dân Việt Nam đã bắt đầu làm quen với loại hình đầu t mới mẻ này và đã
tham gia một cách nhiệt tình. Tuy nhiên, có một thực tế cho thấy qua hơn 2 năm
hoạt động TTCK VN mới chỉ hoạt động ở mức độ nhỏ lẻ, số lợng tài khoản không
nhiều (khoảng12000 tài khoản đợc mở ở các công ty chứng khoán), đặc biệt là
những tài khoản này chủ yếu là của các nhà đầu t cá nhân và đầu t theo lối ngắn
hạn, chạy theo phong trào. Các định chế đầu t có tổ chức chỉ lác đác trên thị trờng.
Thị trờng CK vẫn đợc ngời ta gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế nhng đối với
Việt Nam trong giai đoạn đầu hoạt động nó không mang ý nghĩa đó. Có những
giai đoạn giá cổ phiếu tăng cao liên tục và có giai đoạn (nh là giai đoạn hiện nay)
thì thị trờng xuống dốc không phanh. Nguyên nhân lý giải hiện tợng trên có rất
nhiều nhng có một lý do phải kể đến là nhà đầu t thiếu một tầm nhìn chiến lợc. Mà
điều này hay có đợc ở các nhà đầu t có tổ chức, đặc biệt là các quỹ đầu t CK. Sự
vắng bóng của các QĐTCK trên TTCK VN hiện nay phải chăng do môi trờng đầu
t không hấp dẫn, có nhiều yếu tố rào cản do các QĐTCK không thể tham gia thị
trờng. Các cơ quan chuyên trách nhà nớc đã đề cập nhiều đến vấn đề phát triển và
ổn định thị trờng, tạo điều kiện cho mọi đối tợng tham gia vào TTCK một cách dễ
dàng. Và vấn đề này cũng không thoát khỏi tầm nhìn của những ngời quan tâm.
Là một sinh viên thuộc khối nghành kinh tế quan tâm đến sự phát triển của thị tr-
ờng đặc biệt là thị trờng CKVN, tôi đặc biệt coi việc hình thành và phát triển các

một phơng tiện đầu t tập thể tập hợp tiền của nhiều nhà đầu t khác nhau và uỷ thác
số tiền đó cho công ty quản lý quỹ tiến hành đầu t vào các loại chứng khoán .
Tại Việt Nam theo quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/98 về việc
ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của QĐTCK và công ty quản lý quỹ thì:
QĐTCK là quỹ hình thành từ vốn góp của ngời đầu t, đợc uỷ thác cho công ty
quản lý quỹ quản lý và đầu t vào chứng khoán tối thiểu 60% giá trị tài sản của
quỹ.
Nh vậy, qua hai định nghĩa ta có thể thấy một số đặc điểm của QĐTCK: Thứ
nhất , QĐTCK vừa là nhà phát hành chứng khoán (cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu t)
vừa là nhà đầu t chứng khoán (mua chứng khoán của các công ty khác). Thứ hai,
mặc dù QĐTCK là một loại hình DN TC-NH nhng thuộc nhóm định chế tài chính
trung gian phi ngân hàng, có đặc trng khác các định chế tài chính khác ở chỗ nó
chuyên môn hoá trong đầu t tức chuyên kinh doanh vốn trung và dài hạn. Thứ ba,
tham gia vào QĐTCK có ba loại chủ thể đó là nhà đầu t, công ty quản lý quỹ và
ngân hàng giám sát.
3 Công ty quản lý quỹ Ngân hàng giám sátQuỹ ĐTCK
Ngời đầu t Ngời đầu t Ngời đầu t
Do tính chất huy động vốn để tiến hành đầu t của các quỹ mà QĐTCK đợc
phân chia ra làm nhiền loại khác nhau. Phần này sẽ đợc trình bày ở mục phân loại
QĐTCK.
2. Phân loại QĐTCK.
2.1. Phân loại theo nguồn vốn huy động.
Khi QĐTCK đợc thành lập, nó có thể thu hút vốn bằng cách phát hành
chứng chỉ một cách rộng rãi ra công chúng hoặc chỉ phát hành riêng lẻ cho nhóm

Đặc điểm QĐTCK dạng công ty QĐTCK dạng tín thác
Tính chất pháp lý Là một pháp nhân. Không là pháp nhân.
Ngời điều hành HĐQT điều hành và chọn
công ty quản lý quỹ.
Công ty quản lý quỹ.
Nhà đầu t Là cổ đông của quỹ. Là ngời thụ hởng kết quả từ
hoạt động đầu t của quỹ.
2.1.1.2. Theo cơ cấu huy động vốn.
Do cách thức huy động vốn khác nhau nên QĐTCK đợc chia làm quỹ mở
và quỹ đóng.
QĐTCK dạng mở (Open-end fund hay Mutual fund-quỹ hỗ tơng). Theo
khoản 3 điều 3 của quy chế tổ chức và hoạt động của QĐTCK và công ty quản lý
quỹ ban hành kèm theo QĐ 05/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 thì: QĐTCK
5
mở là QĐTCK trong đó ngời đầu t đợc quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu t cho
quỹ. Thông qua khái niệm trên ta có thể hiểu QĐTCK mở sẽ trực tiếp thực hiện
việc mua bán cổ phiếu/chứng chỉ của chính quỹ mình cho nhà đầu t. Quỹ liên tục
phát hành cổ phiếu/chứng chỉ ra công chúng và khi nhà đầu t có nhu cầu rút vốn
thì quỹ trực tiếp tiến hành mua lại cổ phiếu/chứng chỉ của nhà đầu t. Do tính chất
liên tục phát hành và mua lại nên giá cổ phiếu/chứng chỉ của quỹ gắn trực tiếp với
giá trị tài sản thuần của quỹ (NAV). Cổ phiếu/chứng chỉ đầu t của quỹ không đợc
giao dịch trên thị trờng thứ cấp mà giao dịch thẳng với quỹ hoặc đại lý của quỹ, và
giá cả của nó không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu mà phụ thuộc vào giá trị tài
sản ròng của quỹ tại thời điểm mua bán.
QĐTCK dạng đóng (Closed-end fund). Là QĐTCK trong đó ngời đầu t
không đợc quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu t cho quỹ trớc thời hạn kết thúc hoạt
động hay giải thể (Khoản 2 điều 3 quy chế tổ chức và hoạt động của QĐTCK và
công ty quản lý quỹ). Trong ĐTCK dạng đóng, cổ phiếu/chứng chỉ của quỹ chỉ đ-
ợc phát hành một lần với số lợng nhất định cho nhà đầu t. Quỹ không thực hiện
việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ khi nhà đầu t có nhu cầu bán lại mà cổ

chứng khoán tập trung
và phi tập trung.
5. Mối quan hệ giữa giá
mua với giá trị tài sản
ròng
Giá cổ phiếu phụ thuộc
chặt chẽ vào giá trị tài
sản thuần của quỹ.
Giá cổ phiếu phụ thuộc
quan hệ cung-cầu không
phụ thuộc giá trị tài sản
ròng.
6. Chi phí giao dịch Đợc cộng vào GTTS
ròng.
Trả cho trung gian.
7. Tính ổn định của quỹ Cơ cấu vốn luôn thay
đổi.
Cơ cấu vốn cố định.
8. Chính sách đầu t Đầu t vào các công cụ
tài chính có tính thanh
khoản cao.
Đầu t vào dự án mang
tính chất dài hạn.
2.1.2. QĐTCK t nhân (Private Fund).
Không giống QĐTCK tập thể, QĐTCK t nhân huy động vốn bằng cách phát
hành riêng lẻ cho một số nhóm nhỏ các nhà đầu t. Các nhà đầu t thờng là các thể
nhân, định chế tài chính lớn hoặc các tập đoàn kinh tế lớn. Họ đầu t lợng vốn lớn
vào quỹ và thờng khống chế hoạt động của quỹ. Nhà quản lý quỹ thờng tham gia
kiểm soát các hoạt động của công ty nhận đầu t dới hình thức thành viên HĐQT,
cung cấp t vấn hoặc có ảnh hởng lớn đến thành viên HĐQT. Công ty quản lý quỹ

TTCK. Không những đầu t trực tiếp, quỹ vốn mạo hiểm còn tham gia vào quản lý
hoạt động công ty mình đầu t, cung cấp các dịch vụ t vấn.... nhằm tăng tốc độ phát
triển công ty mình đầu t từ đó tiến tới đa công ty ra niêm yết trên TTCK. Và cách
duy nhất có hiệu quả để quỹ vốn mạo hiểm thực hiện thoát vốn đầu t của mình
khỏi công ty nhận đầu t đó là bán cổ phiếu mình đang nắm giữ trên TTCK.
2.2. Phân loại theo chính sách đầu t.
8
Dựa vào tiêu chí này ta có thể chia QĐTCK ra làm nhiều loại. Do các công
cụ tài chính ngày càng đa dạng về chủng loại và tính chất nên mỗi quỹ đợc thành
lập sẽ lựa chọn những công cụ đầu t thích hợp với chiến lợc hoạt động của quỹ,
đảm bảo mục tiêu đầu t đã đề ra. Có thể kể ra một số loại quỹ đầu t sau đây.
2.2.1. QĐTCK vốn:
Là quỹ đầu t phần lớn vốn tài sản của quỹ vào cổ phiếu. Tuy nhiên khi đầu
t vào cổ phiếu, mỗi quỹ lại có một mục tiêu riêng. Quỹ đầu t vào cổ phiếu tăng tr-
ởng thực hiện đầu t nhằm tìm kiếm mức lãi vốn cao nhất từ một danh mục đầu t do
các loại cổ phiếu tăng trởng cấu thành. Các khoản cổ tức và thu nhập và lợi nhuận
hiện tại không phải là yếu tố quyết định. Trong quỹ cổ phiều tăng trởng, nó coi
trọng vấn đề liệu các khoản cổ tức và thu nhập có đợc tái đầu t vào quỹ hay
không? Khác với quỹ đầu t cổ phiếu tăng trởng, quỹ đầu t cổ phiếu giá trị lại coi
trọng vấn đề cổ tức và thu nhập đợc phân bổ bao nhiêu cho nhà đầu t. Danh mục
đầu t của quỹ này gồm các loại cổ phiếu có tỷ lệ cổ tức cao và chi trả thờng xuyên
cho cổ đông.
2.2.2. QĐTCK có thu nhập cố định.
Các quỹ này chuyên đầu t vào các công cụ nợ có thu nhập cố định nh trái
phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, thơng phiếu, hối phiếu...Mức rủi ro của quỹ
khá thấp phù hợp cho những nhà đầu t muốn tìm kiếm mức lợi suất trên trung bình
mà không phải chịu nhiều rủi ro.
2.2.3. QĐTCK cân bằng.
Quỹ này đầu t vào một danh mục gồm cả cổ phiếu và trái phiếu kết hợp
nhằm vừa bảo toàn vốn đầu t ban đầu, trả các khoản thu nhập hiện tại và tăng tr-

quỹ đầu t hoặc các công cụ nợ...). Họ là máng dẫn cho dòng vốn tài chính lu
thông một cách trôi chảy trên thị trờng.
3.1.2. Khi nhà đầu t mua cổ phiếu/chứng chỉ đầu t của QĐTCK, họ đợc hởng
lợi nhờ tính đa dạng hoá danh mục đầu t của quỹ. Nhờ đó mà giảm thiểu và
phân tán đợc rủi ro. Thực tế việc đa dạng hoá đầu t là nguyên tắc đầu t ăn chắc
mặc bền nhằm phân tán giảm thiểu rủi ro. Trên TTCK đã lu truyền câu ngạn ngữ
nổi tiếng mà bất cứ ai tham gia vào TTCK đều biết đó là Không nên bỏ tất cả
trứng vào một giỏ. Nhng làm thế nào để một nhà đầu t cá thể với số vốn hạn hẹp
10
vừa muốn đầu t vào TTCK một cách hiệu quả vừa đạt mục tiêu phân tán giảm
thiểu rủi ro? Họ chỉ có thể đầu t thông qua các QĐTCK. Ví dụ đơn cử: Một cá
nhân khi tự mình tham gia vào thị trờng chứng khoán Việt Nam muốn đa dạng hoá
đầu t thì ít nhất anh ta phải sở hữu trên 10 loại chứng khoán khác nhau. Giả sử giá
mỗi cổ phiếu là 20000 VND thì giao dịch cho một lô 100 cổ phiếu là 2000.000
VND. Để sở hữu 10 loại cổ phiếu, mỗi loại một lô thì nhà đầu t phải tự bỏ ra
20.000.000 VND.Số tiền này đối với ngời dân Việt Nam vẫn còn là quá lớn. Do
đó hầu hết các cá nhân không đủ sức để tự đầu t, và điều này chỉ có thể thực hiện
đợc khi họ tham gia vào QĐTCK.
3.1.3. Nhờ việc nhà đầu t chứng khoán đầu t vào QĐTCK mà khi họ cần tiền
họ có thể rút vốn khỏi quỹ một cách nhanh chóng. Do các cổ phiếu hay chứng
chỉ đầu t họ nắm giữ có độ lu hoạt rất cao, nó có thể đợc giao dịch ngay trực tiếp
giữa nhà đầu t với quỹ hay giao dịch trên TTCK. Các QĐTCK luôn có lợng tài sản
lu hoạt sẵn sàng quy đổi thành tiền để trả cho nhà đầu t và do đó việc thoát vốn
chậm của nhà đầu t gần nh là không có. Việc đầu t vào QĐTCK không những giúp
cá nhân đầu t có thể rút tiền mặt vào bất cứ lúc nào mà còn giúp họ có thể tự do
yêu cầu chuyển đổi sang một quỹ khác có mục tiêu đầu t phù hợp hơn.
3.1.4. QĐTCK còn giúp cho nhà đầu t tiết kiệm đợc chi phí GD. Một ngời tự tiến
hành đầu t, đa dạng hoá đợc danh mục đầu t và quản lý đợc danh mục vẫn gặp một
trở lực lớn là chi phí đầu t quá cao. QĐTCK dựa vào u thế giao dịch với số lợng
lớn nên đợc u đãi về phí giao dịch. Và nhờ lợng phí giao dịch thấp nên đẩy kết quả

3.2.1. QĐTCK cung cấp vốn cho doanh nghiệp, cung cấp thông tin. Doanh
nghiệp huy động vốn qua QĐTCK sẽ tiết kiệm đợc chi phí hơn so với huy động
qua các hình thức khác. Các quỹ đầu t thờng đầu t một lợng vốn nhất định vào
doanh nghiệp tạo tính ổn định của nguồn vốn kinh doanh cho doanh nghiệp. Bên
cạnh đó các QĐTCK còn cung cấp thông tin tin cậy về thị trờng, về xu hớng kinh
doanh. Quỹ còn là nơi đánh giá hiệu quả các dự án, qua đó giúp cho doanh nghiệp
đánh giá đợc tính khả thi của các dự án đầu t.
3.2.2. Nhờ việc giảm chi phí phát hành cổ phiếu khi doanh nghiệp bán cổ phần
cho QĐTCK mà quá trình cổ phần hoá của các doanh nghiệp đợc thúc đẩy
nhanh hơn. Các công ty cổ phần khi cổ phần hoá có thể bán cổ phiếu của mình
cho nhà đầu t là cá nhân hoặc tổ chức. Thông qua bán cổ phiếu cho các tổ chức
12
nh các ngân hàng bảo lãnh, ngân hàng thơng mại....doanh nghiệp sẽ chịu mức phí
GD cao hơn là thông qua bán cổ phiếu cho các QĐTCK. Do đó, QĐTCK có vai
trò thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp và góp phần hình
thành phát triểnTTCK.
3.3. Vai trò của QĐTCK đối với nền kinh tế.
3.3.1. Các QĐTCK giúp tạo thêm hàng hoá cho TTCK thông qua phát hành cổ
phiếu/chứng chỉ đầu t. QĐTCK vừa đóng vai trò là nhà đầu t chứng khoán, vừa
đóng vai trò là nhà phát hành chứng khoán. Vai trò nhà đầu t chứng khoán thể
hiện ở việc sử dụng nguồn vốn huy động đợc đem đầu t vào các loại chứng khoán
khác nhau. Còn vai trò nhà phát hành chứng khoán thể hiện: để huy động đợc vốn
đem đi đầu t, quỹ phát hành các cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ rộng rãi ra công
chúng, từ đó thu hút sự tham gia của nhà đầu t tạo thêm kênh hàng hoá cho TTCK.
3.3.2. Nhờ việc QĐTCK dùng tiền của mình để đầu t vào TTCK mà cầu đầu t
trên thị trờng đợc đẩy lên. Các QĐTCK nhờ có u thế về lợng vốn huy động lớn
nên khi tham gia vào TTCK, nó là một khách hàng tiềm năng của thị trờng.
QĐTCK giúp cho việc huy động vốn của doang nghiệp trở nên dễ dàng hơn và
nhanh chóng hơn.
3.3.3. Không chỉ tạo thêm hàng hoá cho TTCK và kích thích đầu t, QĐTCK còn

nớc ngoài chủ yếu vào các khoản vay có lãi suất cao của chính phủ. Các quỹ đầu t
tơng tự cũng ra đời vào năm 1890 tại Anh và Scotland. Và đến năm 1893 quỹ tín
thác tài sản cá nhân Boston dạng đóng ra đời đầu tiên tại Mỹ. Gần đây sự ra đời và
phát triển của các QĐTCK đã diễn ra một cách nhanh chóng trên các TTCK thế
giới. Ví dụ ở Mỹ, vào năm 1999 có khoảng 82,8 triệu cá nhân thuộc 48,4 triệu gia
đình đã đầu t trung bình mỗi ngời khoảng 5500 $ vào các quỹ QĐTCK. Khoản
tiền này chiếm trên 81% tổng giá trị tài sản của các quỹ QĐTCK. Cũng tại Mỹ
năm 1999 trong tổng giá trị 505 tỷ $ đầu t mới của các cá nhân vào TSTC có tới
327 tỷ $ đợc đầu t thông qua các QĐTCK (chiếm 65%). Sự phát triển của các
QĐTCK ngày càng mở rộng cả về quy mô và loại hình. Đầu thế kỷ 20 đặc biệt là
những năm 20 QĐTCK dạng đóng ra đời và phát triển mạnh mẽ. Sau đó phát triển
cao hơn thành các quỹ đầu t dạng mở. QĐTCK dạng mở đầu tiên đợc thành lập tại
Mỹ năm1924 và đến nay có thể nói nó chiếm u thế về quy mô và số lợng quỹ. Quỹ
đầu t dạng mở là mô hình phổ biến nhất và đợc áp dụng ở hầu hết các nớc. Điều
14
này đợc thể hiện qua bảng tổng tài sản và tốc độ tăng tài sản của các QĐTCK mở
ở các nớc.
Bảng số liệu: Về tổng tài sản của các QĐTCK mở ở một số nớc.
(Đơn vị: tỷ $)
STTCK QG 1990 1994 %94/90 94/90
1 Australia 29,4 44,1 15 14,7
2 Canada 21,5 97,6 453,9 76,1
3 Pháp 378,8 531,1 140,2 152,3
4 Đức 145,5 253,4 174,2 107,9
5 Hồng
Kông
18,3 32,5 177,6 14,2
6 Nhật 353,5 466,9 132,1 113,4
7 Anh 91,5 135,2 147,7 43,7
8 Mỹ 1766,9 2161,4 202,6 1094,5

lý, những yếu tố môi trờng hay chính khả năng nội bộ của công ty.
1. Yếu tố pháp lý.
Bất kỳ hoạt động nào khi đợc tiến hành đều chịu sự chi phối của các chế tài
đó là luật pháp và các quy định khác có liên quan. Các QG đặt ra luật pháp nhằm
một mặt đảm bảo cho hoạt động thống nhất, tạo sự công bằng và ổn định cho các
đối tợng một mặt nhằm hạn chế mọi tiêu cực có thể xảy ra nh hoạt động tự do vô
tổ chức gây thiệt hại cho ngời khác. Cỡng chế mọi ngời phải sống và làm việc theo
luật pháp. QĐTCK ngay từ khi ra đời đã phải hoạt động trong một khuôn khổ luật
pháp nói chung. Ngoài ra còn có các khung pháp lý riêng cho hoạt động của
QĐTCK. Các quỹ này hoạt động vừa phải theo sự điều chỉnh của pháp luật chuyên
nghành vừa tuân thủ định hớng của hệ thống pháp luật chung. Sự hình thành và
phát triển của các QĐTCK có thuận lợi hay không một phần lớn chịu ảnh hởng
của các quy định của pháp luật. Ví dụ nh ở Mỹ có Uỷ ban chứng khoán và hối
đoái Hoa Kỳ (SEC), đây là cơ quan điều hành mọi hoạt động của TTCK và các
đối tợng tham gia kể cả QĐTCK. Khi các QĐTCK đợc thành lập đều phải có sự
cho phép của SEC và hoạt động theo những mục tiêu định hớng mà SEC đề ra.
2. Yếu tố môi trờng.
Không một hoạt động nào lại có thể hoạt động đợc một cách độc lập và
xung quanh nó không có gì liên quan. Các QĐTCK khi ra đời đã nằm ngay trong
một môi trờng đó là môi trờng kinh tế. Nếu không có TTCK, không có các công ty
niêm yết, không có các nhà đầu t... thì QĐTCK sẽ hoạt động ở đâu, với ai và nh
thế nào? Giữa QĐTCK và các yếu tố trên luôn có sự liên hệ mật thiết với nhau:
16
TTCK là nơi cho QĐTCK hoạt động, các công ty niêm yết là đối tợng đầu t của
quỹ còn nhà đầu t là khách hàng của quỹ. Môi trờng kinh tế không chỉ bó gọn
trong phạm vi hẹp mà nó còn bao gồm mọi hoạt động kinh tế nói chung không
riêng trong lĩnh vực chứng khoán. Các hoạt động này không những chỉ ở trong nớc
mới có ảnh hởng mà cả ở nớc ngoài.
Các QĐTCK hoạt động trong môi trờng kinh doanh rộng lớn nhng cũng rất
trọng tâm. Nó chỉ tham gia vào hoạt động của TTCK. Mỗi đất nớc không chỉ có

t. Nếu một QG có lịch sử hình thành và phát triển TTCK non trẻ, số công ty CPH
không nhiều, quy mô vốn của các CTCP không lớn thì buộc các quỹ đầu t khi đầu
t vào nớc đó chỉ có thể lựa chọn các dự án liên doanh hoặc 100% vốn nớc ngoài.
Nh vậy, không thể phủ nhận rằng yếu tố nội bộ công ty là không quan
trọng. Nó thậm chí còn có vai trò to lớn và là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Một QĐTCK dù nằm trong môi trờng vĩ mô thuận lợi về
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nếu không có một ban quản trị tốt, một chiến lợc
đầu t đúng đắn thì dù hoạt động thế nào cũng không thể tồn tại và phát triển đợc.
Ch ơng II
Điều kiện và khả năng phát triển QĐTCK ở VN trong
giai đoạn hiện nay
I. Khái quát chung về hoạt động CủA TTCK Việt Nam.
1. Quá trình hình thành và phát triển TTCK ở Việt Nam.
Lịch sử quá trình dựng nớc và giữ nớc của Việt Nam đã kéo dài suốt hơn
4000 năm. Qua mỗi giai đoạn lịch sử nhất định các hình thái kinh tế dần đợc hình
thành và phát triển từ thấp đến cao. Qua vài thập kỷ gần đây, Việt Nam đã có
những bớc chuyển biến kinh tế đợc coi là có ý nghĩa giúp Việt Nam vơn lên phát
triển đó là việc chấm dứt hẳn nền kinh tế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, đặt
bớc chân đầu tiên vào ngỡng cửa cơ chế thị trờng vào năm 1986. Và từ đó một cơ
chế mới đợc xác lập: cơ chế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong điều
kiện cơ chế kinh tế mới đòi hỏi phải phát triển thêm nhiều loại thị trờng đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Từ những thị trờng tiền tệ đáp ứng nhu cầu vốn
ngắn hạn đến thị trờng tài chính phát triển cao là TTCK cung cấp vốn trung và dài
hạn cho nền kinh tế. Có thể nói TTCK là thị trờng phát triển cao nhất do nhiều đặc
18
tính hữu ích của nó. Và ở Việt Nam ta, đứa con tinh tuý nhất của nền kinh tế đã ra
đời vào ngày 20/7/2000 đánh dấu mốc lịch sử phát triển của thị trờng Việt Nam.
Đây là sự kiện trọng đại và có ý nghĩa, nó là kết quả của cả quá trình thai nghén
trong nhiều năm. Từ cơ sở đầu tiên cho nó ra đời đó là quá trình CPH các DNNN
diễn ra từ năm 1990 và đến nay đã có trên 970 công ty cổ phần đang hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status