Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
LỜI CAM ĐOAN
Kính gừi: Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Đồng kính gửi: Khoa Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực
Tên em là : Nguyễn Thị Hồng Vân
Sinh ngày : 25/10/1982.
Mã số sinh viên : CT071034
Sinh viên lớp : HCKT – QTNL – K7.
Trong thời gian vừa qua được sự phân công em đã liên hệ và thực tập tại Công ty
Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình. Trong quá trình thực tập được sự hướng dẫn
tận tình của cô giáo Vũ Hoàng Ngân, và được sự giúp đỡ của các cô chú phòng Tổ chức kế
hoạch và hành chính Công ty em đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp có tên là: “
Hoàn thiện công tác trả lương, trả thưởng cho CBCNV và người lao động ở Công ty Cổ
phần Tư vấn - Đầu tư xây dựng Ba Đình”.
Em xin cam đoan tất cả những gì được viết trong chuyên đề này không được sao
chép từ bất kỳ một chuyên đề nào khác. Nếu có em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Vân.
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-1-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
LỜI MỞ ĐẦU
Tiền lương, tiền thưởng là một phạm trù kinh tế tổng hợp và có ý nghĩa to lớn vì
vậy nó luôn được xã hội quan tâm. Tiền lương, tiền thưởng có ý nghĩa vô cùng quan trọng
đối với người lao động và được họ hết sức quan tâm và nó là nguồn thu nhập chủ yếu giúp
đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình họ. Đồng thời tiền lương, tiền thưởng cũng là
một yếu tố động viên vật chất quan trọng, nó kích thích người lao động trong việc tăng
năng suất lao động. Ngoài ra tiền lương, tiền thưởng cũng là một loại chi phí sản xuất kinh
doanh thường xuyên của doanh nghiệp và được cấu thành vào giá thành sản phẩm. Hình
thức trả lương, thưởng hợp lý sẽ động viên người lao động nâng cao trình độ lành nghề,
cải tiến kỹ thuật, phát huy sức sáng tạo, hợp lý các khâu trong sản xuất, tiết kiệm nguyên
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-3-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG
VÀ TIỀN THƯỞNG
1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG
1.1.1 Bản chất và ý nghĩa của tiền lương.
1.1.1.1 Bản chất của quỹ tiền lương.
Quỹ tiền lương là tổng số tiền dùng để trả lương cho người lao động, do cơ quan
(doanh nghiệp) quản lý. Có các loại quỹ tiền lương như sau:
Căn cứ vào mức độ ổn định các bộ phận quỹ tiền lương được chia thành các loại
như sau:
- Quỹ lương cố định (còn gọi là quỹ lương cấp bậc, cơ bản, bộ phận lương
cứng) là quỹ tiền lương được tính dựa vào hệ thống thang lương, bảng
lương.
- Quỹ lương biến đổi: Bao gồm các khoản phụ cấp, tiền thưởng.
Căn cứ vào sự hình thành và tình hình sử dụng quỹ lương, quỹ tiền lương được chia
ra như sau:
- Quỹ lương kế hoạch: là quỹ lương dự tính tại thời kỳ nào đó.
- Quỹ lương báo cáo (thực hiện): là số tiền thực tế đã chi, trong đó bao gồm cả
các khoản không được lập trong kế hoạch
Căn cứ vào đơn vị thời gian quỹ tiền lương được chia thành các loại như sau:
- Quỹ tiền lương giờ.
- Quỹ tiền lương ngày.
- Quỹ tiền lương tháng.
- Quỹ tiền lương năm.
1.1.1.2 Ý nghĩa của tiền lương.
Trả công lao động là một hoạt động quản lý nhân sự có ý nghĩa rất lớn trong việc
giúp cho tổ chức đạt được hiện suất cao trong sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng tác
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người
lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-5-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
hoặc hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng.
1.1.2.2 Chức năng của tiền lương.
a) Chức năng tái sản xuất sức lao động: Tiền lương phải đảm bảo được tái sản xuất
sức lao động (bao gồm tái sản xuất đơn tức, tức là khôi phục sức lao động và tái
sản xuất sức lao động mở rộng). Điều này có nghĩa là với tiền lương, người lao
động không chỉ đủ sống mà còn dư để nâng cao trình độ về mọi mặt cho bản
thân và con cái họ, thậm chí có một phần nhỏ để tích luỹ.
b) Chức năng kích thích người lao động: Tiền lương đảm bảo và góp phần tác
động để tạo ra cơ cấu lao động hợp lý trong toàn bộ nền kinh tế, khuyến khích
phát triển kinh tế ngành và lãnh thổ. Tiền lương đồng thời là đòn bẩy kinh tế thu
hút người lao động hăng say làm việc. Là động lực thúc đẩy tăng năng suất,
khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, gắn trách nhiệm cá nhân
với tập thể và công việc.
c) Chức năng thanh toán của tiền lương: Dùng tiền lương để thanh toán các khoản
chi tiêu phát sinh trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, giúp cho người lao động
tính toán các khoản chi tiêu và họ sẽ tự điều chỉnh, cân đối chi tiêu cho hợp lý
với số tiền họ nhận được khi kết thúc một quá trình lao động.
d) Tiền lương là thước đo mức độ cống hiến của người lao động: Chức năng này là
biểu hiện của quy luật phân phối theo lao động.
1.1.2.3 Các nguyên tắc tiền lương.
Nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiên lương là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng
được một cơ chế trả lương, quản lý tiền lương và chính sách thu nhập thích hợp trong một
thể chế kinh tế nhất định. Ở nước ta, khi xây dựng các chế độ tiền lương và tổ chức trả
lương phải theo các nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc 1: Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau
vực II được dùng cho tiêu dùng để nâng cao tiền lương, mà một phần trong đó được
dùng để tích luỹ. Điều này cũng chỉ ra rằng, muốn tăng tiền lương thì phải tăng năng
suất lao động xã hội với tốc độ cao hơn.
Trong từng doanh nghiệp thì thấy rằng, tăng tiền lương dẫn đến tăng chi phí sản
xuất kinh doanh; tăng năng suất lao động lại làm giảm chi phí cho từng đơn vị sản
phẩm. Một doanh nghiệp chỉ thực sự kinh doanh có hiệu quả khi chi phí nói chung
cũng như chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm đi. Tức là mức giảm chi phí do tăng
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-7-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
năng suất lao động phải lớn hơn mức tăng chi phí do tăng tiền lương bình quân.
Rõ rang nguyên tắc này là cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, nâng cao đời sống của người lao động và phát triển kinh tế.
Nguyên tắc 3: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa người lao động làm
các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động làm việc
trong các ngành nghề khác nhau nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong trả
lương cho người lao động. Thực sự nguyên tắc này là cần thiết, dựa trên những cơ sở
sau đây:
Thứ nhất là trình độ lành nghề bình quân của người lao động ở mỗi ngành: Do đặc
điểm và tính chất phức tạp khác nhau về kỹ thuật và công nghệ ở các ngành nghề khác
nhau nên trình độ lành nghề bình quân giữa các ngành khác nhau cũng khác nhau. Sự
khác biệt này cần thiết phải được phân biệt trong trả lương có như vậy mới khuyến
khích được người lao động học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lành nghề và kỹ năng
làm việc nhất là trong những ngành nghề đòi hỏi kiến thức và tay nghề cao.
Thứ hai là điều kiện lao động: Điều kiện lao động khác nhau có ảnh hưởng đến
mức hao phí sức lao động trong quá trình làm việc. Những người làm việc trong môi
trường nặng nhọc, độc hại, hao tốn nhiều sức lực phải được trả lương cao hơn những
người làm việc trong điều kiện bình thường. Sự phân biệt này làm cho tiền lương bình
quân trả cho người làm việc ở những nơi, những ngành có điều kiện làm việc khác
x Q
TT
(1)
Trong đó:
- TC: Tiền công
- Đ
G
: Đơn giá
- Q
TT
: Số lượng sản phẩm thực tế.
Ưu điểm của hình thức trả lương theo sản phẩm:
- Quán triệt tố nguyên tắc trả lương theo lao động, vì tiền lương mà người lao
động nhận được phụ thuộc vào số lượng và chất lượng sản phẩm đã hoàn thành.
Điều này có tác dụng làm tăng năng suất lao động của người lao động.
- Trả lương theo sản phẩm có tác dụng trực tiếp khuyến khích người lao động
ra sức học tập nâng cao trình độ lành nghề, tích luỹ kinh nghiệm, rèn luyện kỹ
năng, phát huy sáng tạo… để nâng cao khả năng làm việc và năng suất lao
động.
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-9-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
- Trả lương theo sản phẩm góp phần vào việc nâng cao và hoàn thiện công tác
quản lý, nâng cao tính tự chủ, chủ động làm việc của người lao động.
Tuy nhiên để hình thức trả lương theo sản phẩm thực sự phát huy tác dụng của nó
các doanh nghiệp cần phải đảm bảo được các điều kiện sau đây:
- Thứ nhất là phải xây dựng được các mức lao động có căn cứ khoa học. Đây là
điều kiện rất quan trọng làm cơ sở để tính toán đơn giá tiền lương.
- Thứ hai là phải đảm bảo tổ chức và phục vụ tốt nơi làm việc. Tổ chức phục
vụ nơi làm việc nhằm đảm bảo cho người lao động có thể hoàn thành vượt mức
- Chế độ trả lương sản phẩm có thưởng: Chế độ trả lương này là sự kết hợp
trả lương theo sản phẩm (theo các chế độ đã trình bày ở phần trên) và tiền
thưởng.
Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng gồm hai phần:
o Phần trả lương theo đơn giá cố định và số lượng sản phẩm thực tế đã
hoàn thành.
o Phần tiền thưởng được tính dựa vào trình độ hoàn thành và hoàn
thành vượt mức các chỉ tiêu thưởng cả về số lượng và chất lượng sản
phẩm.
- Chế độ trả lương theo sản phẩm luỹ tiến: Chế độ trả lương này thường được áp
dụng ở những “khâu yếu” trong sản xuất. Đó là khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến
toàn bộ quá trình sản xuất.
Trong chế độ trả lương này dùng hai loại đơn giá:
o Đơn giá cố định: dùng để trả cho những sản phẩm thực
tế đã hoàn thành.
o Đơn giá luỹ tiến: Dùng để tính lương cho những sản
phẩm vượt mức khởi điểm. Đơn giá lũy tiến là đơn giá cố định nhân
với tỷ lệ tăng đơn giá.
b) Hình thức trả lương theo thời gian
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những người làm công tác
quản lý. Đối với công nhân sản xuất thì hình thức trả lương này chỉ áp dụng ở những
bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những công việc không thể tiến hành
định mức một cách chặt chẽ và chính xác, hoặc vì tính chất của sản xuất nếu thực hiện
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-11-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
trả công theo sản phẩm không đem lại hiệu quả thiết thực.
Hình thức trả lương theo thời gian được tính toán dựa trên cơ sở mức tiền công đã
được xác định cho công việc và số đơn vị thời gian (giờ hoặc ngày) thực tế làm việc,
với điều kiện họ phải đáp ứng được các tiêu chuẩn thực hiện công việc tối thiểu đã
: Tiền lương cấp bậc tính theo thời gian.
- T: Thời gian làm việc thực tế của người lao động.
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-12-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
Có 3 loại lương theo thời gian đơn giản:
o Lương giờ: tính theo mức lương cấp bậc giờ và số giờ làm việc.
o Lương ngày: tính theo mức lương cấp bậc ngày và số ngày làm việc thực
tế trong tháng.
o Lương tháng: tính theo mức lương cấp bậc tháng.
Chế độ trả lương này có nhược điểm là mang tính chất bình quân, không
khuyến khích sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên vật liệu, tập
trung công suất của máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động.
- Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng: Chế độ này là sự kết hợp giữa chế
độ trả lương theo thời gian đơn giản với tiền thưởng, khi đạt được chỉ tiêu về số
lượng hoặc chất lượng đã quy định.
Chế độ này chủ yếu áp dụng đối với những công nhân phụ làm công việc
phục vụ như công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị… Ngoài ra, còn áp dụng
đối với công nhân chính làm những khâu sản xuất có trình độ cơ khí hoá, tự
động hoá cao hoặc những công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng.
Tiền lương của công nhân được tính bằng cách lấy lương trả theo thời gian
đơn giản (mức lương cấp bậc) nhân với thời gian làm việc thực tế sau đó cộng
với tiền thưởng.
Lương theo thời gian đơn giản trong chế độ trả lương này không những phụ
thuộc vào trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn gắn chặt với
thành tích công tác của từng người thông qua các chỉ tiêu xét thưởng đã đạt
được. Vì vậy, nó khuyến khích người lao động quan tâm đến trách nhiệm và kết
quả công tác của mình. Do đó, cùng với ảnh hưởng của tiến bộ kỹ thuật chế độ
trả lương này ngày càng mở rộng.
1.1.2.5 Vai trò của tiền lương.
chuẩn mực để thực hiện một hình thức tiền thưởng nào đó. Đồng thời các
điều kiện đó còn được dùng để kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu thưởng.
- Nguồn tiền thưởng: Nguồn tiền thưởng là những nguồn tiền có thể được
dùng (toàn bộ hay một phần) để trả tiền thưởng cho người lao động. Trong
các doanh nghiệp thì nguồn tiền thưởng có thể gồm nhiều nguồn khác nhau
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-14-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
như: từ lợi nhuận, từ tiết kiệm quỹ lương…
- Mức tiền thưởng: Mức tiền thưởng là số tiền thưởng cho người lao động khi
họ đạt các chỉ tiêu và điều kiện thưởng. Mức tiền thưởng trực tiếp khuyến
khích người lao động. Tuy nhiên, mức tiền thưởng cao hay thấp tuỳ thuộc
vào nguồn tiền thưởng và yêu cầu khuyến khích của từng loại công việc.
1.2.3 Các hình thức tiền thưởng
Các hình thức tiền thưởng là các loại tiền thưởng hiện đang áp dụng phổ biến trong
các loại doanh nghiệp hiện nay. Các hình thức đó là:
- Thưởng giảm tỷ lệ sản phẩm hỏng
- Thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm
- Thưởng hoàn thành vượt mức năng suất lao động
- Thưởng tiết kiệm vật tư, nguyên liệu.
Ngoài các chế độ và hình thức thưởng như trên, các doanh nghiệp còn có thể thực
hiện các hình thức khác, tuỳ theo điều kiện và yêu cầu thực tế của hoạt động sản xuất kinh
doanh.
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-15-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRẢ
LƯƠNG, TRẢ THƯỞNG TẠI CÔNG TY TƯ VẤN -
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BA ĐÌNH.
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG, TRẢ
trung rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các trường dạy nghề. Chính vì thế,
đây là một thị trường lao động rộng lớn, thuận lợi cho Công ty trong việc thu hút những
người lao động giỏi, có trình độ. Công ty sẽ ít tốn kém trong việc tìm lao động như ở các
Công ty phân bố ở các khu vực ngoại vi thành phố.
2.1.1.2 Luật pháp và các quy định của Chính phủ.
Đã từng là một Công ty Nhà nước nay chuyển sang cổ phần nên chế độ thưởng của
Công ty chủ yếu theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn đơn giá tiền lương là do cơ quan
có thẩm quyền giao, quỹ tiền lương bổ sung trong tổng quỹ tiền lương của Công ty cũng
theo chế độ quy định của Nhà nước. Như vậy, quỹ lương thực hiện của Công ty phụ thuộc
nhiều vào các quy định của Nhà nước. Nếu đơn giá tiền lương cao, quỹ tiền lương bổ sung
nhiều thì quỹ tiền lương của Công ty sẽ tăng lên và ngược lại quỹ tiền lương sẽ giảm đi.
Cũng như vậy, mức lương tối thiểu, hệ số phụ cấp hoàn toàn do Nhà nước quy định. Nếu
mức lương tối thiểu, hệ số cấp bậc, hệ số phụ cấp tăng thì mức lương cơ bản của người lao
động sẽ tăng lên và ngược lại mức lương cơ bản sẽ giảm đi. Cụ thể trong đợt cải cách tiền
lương năm 2007 thì mức lương tối thiểu đã tăng từ 450.000đ lên 540.000đ. Điều này tạo ra
sự khuyến khích cho người lao động tăng năng suất lao động, năng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của Công ty. Nhưng điều này lại lại tạo ra sự gò bó cho công tác trả lương, trả
thưởng của Công ty. Công ty không thể tự thay đổi mức lương tối thiểu, đơn giá tiền
lương, sệ số phụ cấp nên không thể linh động trong việc trả lương, trả thưởng cho người
lao động.
Tuy nhiên, do chế độ lương thưởng của Công ty theo quy định của Nhà nước nên
tạo ra nhiều thuận lợi cho các nhà quản lý lao động trong Công ty, họ không phải tính toán,
suy nghĩ nhiều, nhanh chóng trong việc tính toán phân bổ tiền lương cho người lao động.
Và do Công ty thực hiện theo thang bảng lương của Nhà nước nên công tác tiền
lương của Công ty đòi hỏi nhiều phụ cấp khác nhau như phụ cấp chức vụ; phụ cấp độc hại,
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-17-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
nguy hiểm; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp thu hút… nên cũng gò bó Công ty trong việc xây
dựng quỹ lương, tính lương, trả lương. Những cán bộ quản lý trong Công ty luôn có một
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
tế quốc dân, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp… Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư
xây dựng Ba Đình là một doanh nghiệp xây dựng vì thế trong quá trình sản xuất kinh
doanh cần phải sử dụng rất nhiều công nhân. Và trình độ của công nhân lại được chia
thành 7 bậc khác nhau nên rất khó khăn cho Công ty trong công tác trả lương, trả thưởng
cho người lao động. Cụ thể theo Nghị định 205/204/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính
phủ thì hệ số lương và mức lương của các công nhân chuyên ngành xây dựng được quy
định như sau:
Bảng 1: Thang bảng lương áp dụng cho CBCNV khối sản xuất
Đơn vị: đồng
NGÀNH/NHÓM
NGÀNH
BẬC/ HỆ SỐ,MỨC LƯƠNG
1 2 3 4 5 6 7
Nhóm I
Hệ số
Mức lương CB
1,55
697.500
1,83
823.500
2,16
972.000
2,55
1.147.500
3,01
1.354.500
3,56
1.602.000
4,20
1.593.000
4,17
1.876.500
4,90
2.205.000
Nguồn: Chính sách đổi mới chế độ tiền lương (tháng 11 năm 2006)
Mặt khác, vì là Công ty xây dựng nên trong quá trình thi công các công trình người
lao động phải làm việc trong các điều kiện khác nhau, điều này cũng ảnh hưởng đến việc
tính lương, thưởng cho người lao động. Với các vùng miền khác nhau, địa hình khác nhau,
thời tiết khác nhau thì người lao động sẽ hưởng mức lương khác nhau. Tức là ngoài mức
lương cơ bản người lao động sẽ được hưởng thêm một mức phụ cấp nhất định như: phụ
cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại, phụ cấp ca 3...
Bên cạnh đó, trong xây dựng người ta cũng đòi hỏi rất nhiều kỹ thuật trong quá
trình thi công một công trình. Bên cạnh đó cũng phần nào gây khó khăn cho công tác trả
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-19-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
lương, trả thưởng của Công ty.
2.1.2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty.
Sơ đồ tổ chức hiện tại của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức
năng. Đây là một môt hình khá linh hoạt và gọn nhẹ đối với Công ty. Bộ máy quản lý chỉ
bao gồm 1 Chủ tịch hội đồng quản trị, 2 giám đốc, 3 phòng ban trực thuộc và 5 tổ đội sản
xuất trực tiếp. Trong đó số lượng người trong mỗi phòng ban cũng không quá 8 nhân viên.
Điều này có tác động tích cực tới việc tính lương cũng như trả lương cho CBCNV bởi vì
nó làm đơn giản hoá quá trình tính toán tiền lương cũng như trả lương cho họ. Tiết kiệm
được thời gian cũng như chi phí, tránh được tình trạng phổ biến trong các Công ty Nhà
nước hiện nay đó là quỹ lương thường bị lãng phí vì phải trả cho số lượng CBCNV dư
thừa so với nhu cầu hiện tại của Công ty.
Một vấn đề đáng quan tâm đó là việc phân công cho từng người trong một số phòng
ban còn chưa hợp lý và không rõ ràng. Có những người phải đảm nhận quá nhiều công
mức lương của kỹ sư mới ra trường cao hơn mức lương của lao động phổ thông. Nói tóm
lại, đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến công tác trả lương, trả thưởng của Công ty.
Đối với những Công ty xây dựng thì đội ngũ cán bộ và lao động kỹ thuật có vai trò
rất quan trọng. Số lượng và trình độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân của Công ty
được tập hợp trong bảng sau:
Bảng 2: Số lượng và trình độ của đội ngũ lao động trong Công ty
TT TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN SỐ LƯỢNG (NGƯỜI)
I Đại học 70
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-21-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
1 Kỹ sư xây dựng 18
2 Kỹ sư kiến trúc 17
3 Kỹ sư điện 08
4 Kỹ sư giao thông 10
5 Kỹ sư chế tạo máy 04
6 Kỹ sư mỏ địa chất ngành khoan thăm dò 05
7 Cử nhân kinh tế 08
II Cao đẳng, trung cấp kinh tế, kỹ thuật 38
1 Cao đẳng giao thông 08
2 Cao đẳng mỹ thuật 03
3 Trung cấp mỏ địa chất 03
4 Trung cấp xây dựng 13
5 Trung cấp điện 08
6 Trung cấp tài chính 03
III Công nhân kỹ thuật 188
1 Công nhân cơ khí 12
2 Công nhân mộc 12
3 Công nhân nề 17
4 Công nhân bê tông 23
đại với nhiều chủng loại khác nhau. Và để tiếp tục nâng cao khả năng cạnh tranh trong
nền kinh tế thị trường bằng cách nâng cao chất lượng các công trình, rút ngắn thời gian
thi công, đảm bảo tối đa các yêu cầu về mặt kỹ thuật khi thi công các công trình. Thì
thời gian vừa qua Công ty đã mua sắm thêm nhiều máy móc thiết bị hiện đại, công suất
lớn được thể hiện qua bảng sau.
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-23-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
Bảng 3: Máy móc trang thiết bị của Công ty
TT TRANG THIẾT BỊ CÁC LOẠI
NƯỚC SẢN
XUẤT
SỐ
LƯỢNG
I
MÁY MÓC, THIẾT BỊ PHỤC VỤ KHẢO SÁT, THIẾT KẾ CÁC
CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG.
1 Máy đo phương hướng bàn Nga 01
2 Máy đo kinh vỹ Nga 02
3 Máy tính Mỹ 15
4 Máy quét hình Mỹ 01
5 Máy in A4 Mỹ 04
6 Máy in A0, A3 Mỹ 02
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-24-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
7 Máy khoan điện Đức 01
8 Máy cắt Hàn Quốc 01
9 Máy đột lỗ Hàn Quốc 01
10 Máy photocopy Nhật 01
21 Xe thang nâng 7m Hàn Quốc 01
22 Tời, tó Việt Nam 02
23 Máy mài 2 đá Hàn Quốc 02
24 Máy xay đá công suất 7m
3
/h Trung Quốc 02
III
MÁY MÓC, THIẾT BỊ PHỤC VỤ THI CÔNG GIAO THÔNG, THUỶ
LỢI
25 Máy đào một gầu bánh xích
- Dung tích 1m
3
; 2,5m
3
Nga 03
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
-25-