Báo cáo đánh giá tác động tiềm năng của VPA đến sinh kế của nhóm đối tượng dễ bị tổn thương - Pdf 23

class="bi x0 y0 w0 h1"
MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VIỆT NAM VỀ
THỰC THI LÂM LUẬT, QUẢN TRỊ RỪNG VÀ THƯƠNG MẠI LÂM SẢN
(VNGO-FLEGT) BÁO CÁO
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG TIỀM TÀNG CỦA VPA ĐẾN
SINH KẾ CỦA NHÓM ĐỐI TƯỢNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG

Hà Nội, Tháng 3 năm 2014
12


4.2.1 Kiến nghị về Tính hợp pháp của gỗ và Hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ 42
4.2.2. Các vấn đề về đảm bảo an toàn xã hội và kiến nghị 44
4.2.3 Kiến nghị về giáo dục và thông tin đại chúng (phụ lục VPA ) 45
4.2.4 Kiến nghị về kiểm soát, giám sát VPA 46
PHỤ LỤC 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

LỜI CẢM ƠN
Mạng lưới Các tổ chức Phi chính phủ Việt Nam về Thực thi Lâm luật, Quản trị
rừng và Thương mại lâm sản (VNGO-FLEGT) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác
động tiềm tàng của VPA đến các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương sống phụ thuộc vào
rừng. Với sự nỗ lực hợp tác của Nhóm nghiên cứu và các bên liên quan, báo cáo đã
được hoàn thành sau 9 tháng triển khai gồm, tập huấn, nghiên cứu bàn giấy, thu thập
thông tin điển hình tại một số địa bàn nghiên cứu, tổng hợp, phân tích số liệu, viết báo
cáo, hội thảo phản hồi và hoàn thiện báo cáo.
Thay mặt Ban điều hành Mạng lưới, xin trân trọng cảm ơn Cơ quan Hợp tác
Phát triển Vương quốc Anh – DFID, tổ chức FERN và Forest Trend đã tài trợ kinh phí
để Mạng lưới có thể thực hiện được nghiên cứu này. Mạng lưới xin gửi lời cảm ơn đặc
biệt tới ông Michael Richards, bà Mary Hobley và ông Edwin Shanks đã hỗ trợ, hướng
dẫn kỹ thuật cho các thành viên trong suốt các giai đoạn triển khai nghiên cứu.
Để nghiên cứu được thực hiện, không thể không nhắc tới sự nỗ lực của các
thành viên tham gia nghiên cứu. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Nhóm nghiên cứu
và các cơ quan đã tạo điều kiện cho cán bộ của cơ quan mình tham gia thực hiện
nghiên cứu này bao gồm: Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD), Trung tâm
Phát triển Nông thôn miền Trung (CRD), Trung tâm Nghiên cứu Rừng và Đất ngập
nước (ForWet), Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature), Viện Quản lý rừng
Bền vững và Chứng chỉ rừng (FSMI), Trung tâm Môi trường và Phát triển cộng đồng
(CECoD), Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý tài nguyên (CORENARM),
Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng, Chuyển giao khoa học và công nghệ Tây Bắc
(CARTEN), Hợp tác xã Phát triển Nông thôn Quan Hóa (CRD) và Trung tâm Phát

KTXH Kinh tế xã hội
LD Định nghĩa gỗ hợp pháp
LIA Đánh giá tác động tiềm tàng của VPA tới sinh kế của các nhóm
dễ bị tổn thương
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
PCCC Phòng cháy chữa cháy
QLBVR Quản lý Bảo vệ rừng
QLTT Quản lý Thị trường
QSDĐ Quyền sử dụng đất
TCA Phân tích kênh truyền tải
TLAS Hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
UBND Ủy ban Nhân dân
TCLN Tổng cục lâm nghiệp
VNGO-FLEGT Mạng lưới các tổ chức Phi chính phủ Việt Nam về
Thực thi lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản
VPA Hiệp định đối tác tự nguyện

5

I. GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Mở đầu
Việt Nam hiện đang trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán để tiến tới ký
kết Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA) với Liên minh châu Âu (EU) như là một phần
của Kế hoạch hành động Thực thi Lâm Luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản
(FLEGT), nhằm mục đích bảo đảm thương mại gỗ hợp pháp và quản trị rừng hiệu quả.
Báo cáo này nhằm cung cấp một bản tóm tắt phương pháp, những kết quả và khuyến
nghị chính của nghiên cứu “Đánh giá tác động tiềm tàng của VPA đến sinh kế của
các nhóm dễ bị tổn thương (LIA)” đã được tiến hành bởi Mạng VNGO-FLEGT trong
năm 2013.

FLEGT/VPA cũng được thực hiện thông qua nhiều kênh truyền thông như Website và
cập nhật thường xuyên qua Email.
VPA được dự đoán sẽ có nhiều tác động tích cực và mang lại nhiều lợi ích cho
thị trường gỗ Việt Nam. Việc cải thiện quản trị và các quy định của ngành lâm nghiệp
sẽ dẫn đến triển vọng mới cho nền kinh tế thị trường, bao gồm những cơ hội thị trường
có liên quan trong việc thay đổi môi trường thương mại gỗ toàn cầu, đảm bảo khả năng
tiếp cận thị trường EU đối với các sản phẩm được cấp phép FLEGT và cơ hội kinh tế
cho những nhà chế biến và xuất khẩu gỗ. Tuy nhiên, quá trình của việc chính thức và
hợp pháp hoá, cộng với việc thực thi nghiêm ngặt pháp luật và các quy định VPA cũng
có khả năng tác động tiêu cực đến những người có sinh kế phụ thuộc vào rừng. Những
hệ quả không thể tránh khỏi của quá trình đàm phán và thực thi VPA là sẽ dẫn đến việc
người thắng và kẻ thua, và có thể sẽ là một loạt các hiệu ứng xã hội, một số sẽ có tác
động tích cực còn một số khác thì ngược lại. Quyền quản lý và sử dụng đất ở Việt
Nam đã dần dần phát triển trong các giai đoạn khác nhau, các văn kiện khác nhau tồn
tại là cơ sở pháp lý cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng
rừng. Tuy nhiên, hiện đang có sự thiếu hụt các văn bản pháp luật có liên quan để cung
cấp các chứng cứ cần thiết và đảm bảo một sự hiểu biết rõ ràng một số khía cạnh của
tính hợp pháp. Các biện pháp để tích hợp các chiến lược xác minh Hệ thống đám bảo
tính hợp pháp của gỗ (TLAS) của chính quyền địa phương vẫn phải được cải thiện và
một vấn đề đang được quan tâm hiện nay là giấy chứng nhận hàng nhập khẩu từ các
nước xuất khẩu gỗ.
Để có cái nhìn sâu sắc và rõ ràng hơn, Mạng lưới VNGO-FLEGT đã tiến hành
nghiên cứu những tác động tiềm tàng của VPA tới các nhóm dễ bị tổn thương (LIA).
Tại Việt Nam, VPA vẫn trong quá trình đàm phán, tức là LIA đã được thực hiện trước
khi các văn bản VPA được hoàn tất, và do đó mục tiêu của đánh giá là chỉ ra tác động
tiềm tàng có thể xảy ra của VPA tới các bên liên quan dễ bị tổn thương. Nghiên cứu
LIA có thể đóng góp có giá trị vào việc xây dựng VPA, bao gồm việc xác định các vấn
đề liên quan tới an toàn xã hội và câu trả lời cho vấn đề này, đồng thời tìm kiếm cơ hội
để nâng cao hiệu quả sinh kế. Nghiên cứu LIA sẽ tìm hiểu về tác động của VPA đối
với sinh kế của các nhóm dễ bị tổn thương và xem xét các quy định và luật pháp có

nhưng không có đất rừng và rừng.
• Nhóm 3: Nhóm hộ gia đình trồng rừng, cung cấp gỗ cho ngành công
nghiệp gỗ, nhưng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trồng rừng
(sổ đỏ);
Sau Hội thảo khởi động, các thành viên của Mạng lưới đã tiến hành các nghiên
cứu bàn giấy để phân tích các bên liên quan và phân tích thể chế (giai đoạn 1 LIA ).
Kết quả các phân tích đã được trình bày tại hội thảo LIA lần thứ hai được tổ chức tại
Huế vào tháng 9 năm 2013 với sự tham dự của 30 đại biểu, bao gồm các thành viên
của Mạng lưới VNGO-FLEGT và đại diện 3 nhóm dễ bị tổn thương được xác định ở
8

trên. Tại hội thảo LIA lần thứ hai các thành viên tham gia đã chia sẻ và thảo luận về
các kết quả chính từ báo cáo phân tích các bên liên quan và phân tích thể chế, và cung
cấp cơ hội quý giá để tiếp tục cải thiện và điều chỉnh các kết quả phân tích. Phần lý
thuyết và thực hành của giai đoạn 2 LIA (phân tích kênh truyền tải) đã được một
chuyên gia nước ngoài đến từ tổ chức Mandala giới thiệu trong hội thảo này và các
thành viên tham gia hội thảo cũng đã xây dựng các kênh truyền tải cho ba nhóm liên
quan trong quá trình làm việc nhóm.
Hội thảo LIA lần thứ ba, được tổ chức tại thành phố Vĩnh Phúc vào tháng 11
năm 2013, hội thảo đã sử dụng kết quả phân tích các bên liên quan và phân tích kênh
truyền tải để phát triển Lý thuyết về sự thay đổi và kế hoạch hành động để đóng góp
cho các cuộc đàm phán VPA. Hội thảo có 33 thành viên tham dự, bao gồm các đại
diện từ Mạng lưới VNGO-FLEGT, TCLN, các NGO quốc tế, ngoài ra còn có sự hỗ trợ
kỹ thuật của các chuyên gia nước ngoài đến từ Forest Trends, Mandala và FERN. Hội
thảo LIA lần thứ ba là bước quan trọng để có thể kết luận thành công của phân tích
LIA. Đầu tiên, các nhóm nghiên cứu đã trình bày và thống nhất về kết quả phân tích
kênh truyền tải cho ba nhóm các bên liên quan. Các nhóm sau đó thực hành xây dựng
cây vấn đề, chuỗi kết quả, phân tích khả năng và mức độ nghiêm trọng của rủi ro để đề
xuất một lý thuyết về sự thay đổi với các chiến lược và các biện pháp giảm thiểu rủi ro.
Các thành viên tham gia hội thảo cùng đồng ý rằng những kết quả và khuyến nghị từ

một tập hợp các giả định nguyên nhân và kết quả đáng tin cậy mà được những người
đề xuất hy vọng sẽ trở thành sự thật. Định nghĩa về lý thuyết của sự thay đổi liên
quan đến việc đặt ra và theo dõi một tập hợp các "chuỗi kết quả" liên kết với chiến
lược của một sự can thiệp và các hoạt động với các đầu ra, kết quả, các tác động, và
phân tích các giả định nguyên nhân và kết quả giữa chúng.
Giai đoạn 4: Xây dựng kế hoạch giám sát với một tập hợp các chỉ số
Một khía cạnh quan trọng của LIA là phát triển một quá trình giám sát những tác
động của việc thực thi VPA tới sinh kế. Điều này đòi hỏi việc xác định các chỉ số
thích hợp. Một chỉ số lý tưởng sẽ thấy quá trình giữa đầu vào, hoạt động, đầu ra, kết
quả, tác động, và sẽ được bắt nguồn từ các mục tiêu SMART (cụ thể, có thể đo lường
được, có khả năng thực thi, thực tế và có thời gian rõ ràng) được xây dựng từ các kết
quả quan trọng trong chuỗi kết quả. Từ các mục tiêu SMART, các chỉ số có thể được
xây dựng để theo dõi và đánh giá tiến độ. Một khi các chỉ số được phát triển, kế
hoạch giám sát có thể được tạo ra. Kế hoạch giám sát vạch ra những dữ liệu cần thiết,
và cách thức thu thập như thế nào đối với mỗi chỉ số.
10

1.3. Các thành viên tham gia nghiên cứu
Bảng 2: Thông tin chung của nhóm nghiên cứu các bên liên quan
Nghiên cứu
các bên liên
quan
Địa điểm
nghiên
cứu điển
hình
Thành viên nhóm

rừng nhưng
không có đất
rừng và rừng
Thừa
Thiên Huế
-Trương Quang Hoàng
(CRD-Huế),
-Trần Nam Thắng
(CORENARM)
Nhóm 3:
Nhóm hộ gia
đình trồng
rừng trên đất
không có sổ
đỏ
Đắk Lắk,
Thanh
Hóa, Phú
Thọ, Hòa
Bình
-Dương Thị Liên
(SFMI)
-Đặng Ngọc Toàn
(CHCC)

Phần 3 - Tóm tắt phần phân tích kênh truyền tải;
Phần 4 - Tổng hợp các khuyến nghị quan trọng cho đoàn đám phán của Tổng
cục Lâm nghiệp và EU dựa trên những phát hiện từ các nghiên cứu của các nhóm
nghiên cứu và đánh giá thể chế.
Phần cuối cùng là danh sách các phụ lục bao gồm các báo cáo đầy đủ của các
nhóm nghiên cứu.

12

II. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÁC BÊN LIÊN QUAN VÀ PHÂN
TÍCH THỂ CHẾ
2.1 NHÓM HỘ SẢN XUẤT CHẾ BIẾN GỖ NHỎ LẺ
2.1.1 Đặc trưng chính của nhóm hộ sản xuất chế biến gỗ nhỏ lẻ
Hộ gia đình chế biến gỗ là một bên liên quan quan trọng vì đây là một nhóm lớn
về số lượng cung cấp sản phẩm gỗ truyền thống cho người dân, đặc biệt là trong các
khu vực ngoài đô thị trên cả nước. Hiện nay không có số liệu chính thức về số lượng
các hộ sản xuất nhỏ lẻ. Các số liệu chính thức của Bộ NN&PTNT chỉ thu thập trên các
cơ sở có công suất hoạt động trên 200m
3
gỗ tròn/năm (Bộ NN&PTNT 2011), mà
không có số liệu chắc chắn về các hộ nhỏ lẻ. Số liệu về hộ sản xuất chế biến nhỏ
(<200m
3
/năm) không được thống kê và có nhiều khác biệt. Bộ NN&PTNT (2011) ước
tính hiện tại có khoảng 10,000 hộ, 201 làng nghề gỗ ở Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH),
5 làng nghề gỗ ở duyên hải Nam Trung Bộ. Theo Tô Xuân Phúc (2012, dẫn nguồn
HRPC 2009) có 20,000 hộ và 302 làng nghề cả nước.
Các cơ sở sản xuất tiêu thụ khoảng 1 triệu m
3
gỗ/năm. Trong đó 350.000 -

công nghiệp; iii) Hộ sản xuất cho thị trường trong nước theo cách công nghiệp; iv) Hộ
sản xuất, gia công nhỏ lẻ. Các vấn đề mà các nhóm hộ này đang phải đối mặt được mô
tả sơ lược trong sơ đồ 1- Sơ đồ cây vấn đề dưới đây.
Các hộ sản xuất chế biến, kinh doanh gỗ chịu sự theo dõi, quản lý nhà nước trực
tiếp của UBND phường, xã đồng thời chịu sự quản lý, kiểm tra, cấp phép của các cơ
quan chức năng trên địa bàn như: UBND phường, xã; Phòng Kinh tế (tham mưu cho
UBND cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh (ĐKKD) cho hộ), Phòng Tài nguyên Môi
trường, Chi cục Thuế, Phòng Thống kê, Chi cục Quản lý thị trường (trực tiếp là Đội
QLTT), Hạt Kiểm lâm, Cảnh sát môi trường, Cảnh sát PCCC, Công an kinh tế, cơ
quan có liên quan SXKD như Ngân hàng, Quỹ tín dung, v.v Tuy vậy, nhìn chung việc
quản lý giám sát sự tuân thủ các quy định pháp luật tại các hộ sản xuất nhỏ lẻ lỏng lẻo,
chưa có sự phối hợp thống nhất giữa các cơ quan liên quan.
Rất nhiều hộ kinh doanh, đặc biệt các hộ sản xuất nhỏ lẻ không có giấy phép ở
địa phương, và không báo cáo nhập lượng, sản lượng, doanh thu. Một số hộ của nhóm
này chỉ phải trả thuế cố định thuế mỗi tháng và chỉ đến chi cục thuế mua hóa đơn khi
cần. Ở làng nghề Hố Nai (Đồng Nai), số hộ gia công có ĐKKD chỉ chiếm 12.5% tổng
số hộ gia công. Hầu hết các hộ nhỏ lẻ không thể cung cấp hóa đơn bán hay gia công
cho khách hàng. Theo báo cáo nghiên cứu các làng nghề phía Bắc 30% đến 78% số hộ
bán sản phẩm mà không có hồ sơ sản phẩm cho khách hàng (Forest Trends, 2012). Lý
do của việc này là một phần để hộ tránh thuế, phần khác do năng lực, quy mô sản xuất
của hộ quá nhỏ, không phù hợp với các ràng buộc kềnh càng của luật pháp. Các hộ sản
xuất nhỏ cũng thường không tham gia các tổ chức xã hội nghề nghiệp.
Sơ đồ 1: Các vấn đề mà các nhóm hộ sản xuất chế biến gỗ nhỏ lẽ đang phải đối mặt Thiếu trang thiết bị
phù hợp, hiệu quả
Hộ SX không đủ năng
lực, quy mô để xin giấy
phép

manh mún
Thu nhập các
hộ sản xuất nhỏ
giảm (bỏ nghề)
Chi phí sản
xu

t tăng
Sản lượng kém
Hiểu biết của dân
v

lu

t kém
Sản phẩm không đồng bộ về
chất lượng, không kịp thời
về mẫu mã
Thiếu thông tin
Năng lực kỹ thuật về mẫu
mã, tìm kiếm đánh giá thị
trường kém
Thiếu vốn, thiếu liên
kết để trang bị máy
móc
Thiếu liên kết &
k
ê
nh
t

Quy mô nhà xưởng, trang thiết bị của các nhóm khác nhau thì khác nhau. Ở
Đồng Nai, do tính chất sản xuất khá lớn, đa số các hộ sản xuất có diện tích nhà xưởng
dao động từ 200-1000m
2
. Các hộ sản xuất nhỏ lẻ có mặt bằng sản xuất trung bình
khoảng 50 m
2
. Tuy vậy, đa số các hộ có thêm diện tích kho nguyên liệu khoảng từ vài
đến vài chục mét vuông. Đối với các hộ sản xuất nhỏ, phương tiện, máy móc sản xuất
cũng không phức tạp, chủ yếu ở tầm công cụ cá nhân thường gồm cưa đĩa, cưa lộng,
máy bào, máy làm mộng, máy thổi PU, máy bắn đinh. Trang thiết bị trong các hộ này
mỗi loại chỉ từ 1 đến 2 cái. Đối với các hộ gia công công nghiệp, vì không phải thực
hiện toàn bộ các công đoạn của quá trình sản xuất nên trang bị cũng đơn giản, tuy vậy
mang tính chuyên nghiệp cao. Một số hộ có thể xẻ gỗ tròn bằng cưa CD được đặt ở
những nơi xa khu dân cư. Theo một số hộ sản xuất nhỏ, đa phần các trang thiết bị có
giá dưới 15 triệu và đều là máy sản xuất tại Việt Nam hoặc Trung Quốc. Tuy nhiên,
trang thiết bị các hộ quy mô lớn là khá hiện đại với một số khâu bố trí theo dây
chuyền.
Quan hệ giữa chủ hộ sản xuất và người lao động ít ràng buộc. Nguồn lao động
phổ thông là dồi dào trong khi đó nguồn lao động có tay nghề là hiếm. Điều này tạo
môi trường dễ dàng hơn cho các hộ sản xuất công nghiệp, trong khi đó các hộ sản xuất
nhỏ lẻ cần nhân lực ít nhưng tay nghề cao thường gặp khó khăn. Các hộ sản xuất nhỏ
lẻ có số lao động từ 2-10 người tùy theo mùa. Tuy vậy, ngoại trừ ở các cơ sở lớn, các
công nhân thường được ăn lương theo tháng và một số có hợp đồng lao động, đa số
16

người lao động, kể cả thợ cả ở các hộ sản xuất nhỏ ăn lương tuần và không có hợp
đồng, bảo hiểm lao động, bảo hiểm xã hội. Do quan hệ giữa hộ và người lao động ít bị
ràng buộc bởi hợp đồng mà chỉ là thỏa thuận miệng, vì thế người lao động phải tự chịu
khi có sự cố xảy ra trong quá trình lao động. Khi mùa thấp điểm đến, nhiều lao động

thiết bị phòng cháy chữa cháy còn sơ sài chỉ mang tính hình thức đưa đến những nguy
cơ cao về cháy, nổ. Về vấn đề vệ sinh, môi trường và phòng chữa cháy, đa số các hộ
17

“mạnh ai nấy làm” không được hướng dẫn, tập huấn và cũng không tuân thủ các quy
định.
Chủng loại sản phẩm của các hộ sản xuất nhỏ đa dạng gồm bàn ghế, salon, tủ
thờ, tủ áo, giường, đồ gỗ văn phòng, kệ, tủ bếp, tủ đứng, tay vịn cầu thang, trụ cầu
thang, ván sàn, lam ri trần nhà, vách nhà. Ở một số nơi còn có nhiều loại sản phẩm
trang trí nội thất, mỹ nghệ (thần tài, tượng, đồng hồ, v.v ). Đa phần các hộ nhỏ sản
xuất sản phẩm cung cấp cho thị trường địa phương. Một số nhỏ các hộ gia công cho
các công ty xuất khẩu như các hộ ở khu vực tỉnh Đồng Nai. Ở các làng nghề phía Bắc,
hàng hóa được đưa đi tiêu thu khắp cả nước với hơn 83% được tiêu thụ trong nước và
hơn 16% được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Riêng ở làng nghề Đồng Kỵ, có
đến 33,3% số công ty và 42,8% số hộ gia đình có xuất hàng đi thị trường Trung Quốc
(Forest Trends 2012). Tuy vậy, số liệu chính xác về sản lượng, loại gỗ của các hộ sản
xuất nhỏ cho thị trường và các ngành công nghiệp khác trong nước và quốc tế là không
chính thức kể cả ở tầm quốc gia hay địa phương.
Trong khi nhiều hộ sản xuất lớn thường có quan hệ thân mật, chặt chẽ với Kiểm
lâm, phòng kinh tế, quản lý thị trường, các hộ sản xuất nhỏ thường có rất ít liên hệ với
các cơ quan nhà nước và không nắm rõ các quy định pháp luật liên quan. Nhiều hộ vận
hành thông qua các cách thức phi chính thống. Các định chế không chính thống quan
sát được bao gồm các quan hệ của hộ với nguồn cung cấp gỗ, một số cán bộ chức
năng, người lao động, cộng đồng dân cư, nguồn vay vốn. Các quan hệ không chính
thống giúp nhiều hộ đi xuyên qua nhiều quy định, ràng buộc của luật pháp để duy trì
sản xuất. Theo quy định, hộ có trách nhiệm báo cáo xuất nhập gỗ định kỳ cho kiểm
lâm sở tại, hoặc khi gỗ về tới xưởng, đặc biệt khi nhập gỗ rừng tự nhiên, hộ phải báo
ngay. Nhưng thực tế, các hộ không ghi chép thường xuyên cũng không báo cáo, và cơ
quan kiểm lâm cũng không kiểm tra thường xuyên đặc biệt là đối với các cơ sở nhỏ.
Tuy vậy, kiểm lâm sở tại thường nắm rõ các hộ sản xuất mộc trong địa bàn. Do điều

ảnh hưởng bởi việc thực thi lâm luật, quản lý lâm sản trong nước. Nhiều hộ sử dụng
một phần nguồn gỗ tự nhiên trôi nổi, bao bì, trụ tiêu, sẽ gặp khó khăn khi phải chứng
minh tính hợp pháp của nguồn gỗ. Bên cạnh đó, một số hộ có tiềm lực lớn có mua gỗ
qua đấu thầu khai thác, tận thu, tỉa thưa hay mua gỗ vi phạm qua đấu giá hợp pháp có
thể không còn tiếp cận với nguồn này dễ dàng như trước. Các hộ nhóm này thường có
môi trường làm việc ô nhiễm, không đảm bảo an toàn lao động cũng như phòng chữa
cháy, và quyền lợi của người lao động. Việc thực thi các quy định trong VPA, có thể
sẽ làm tăng chi phí sản xuất của nhóm này. Tuy vậy, do quy mô sản xuất, vốn lớn, các
hộ này sẽ không khó thích nghi.
Việc thực thi VPA một cách nghiêm túc và hiệu quả sẽ có tác động lớn nhất đến
nhóm hộ sản xuất nhỏ lẻ. Các thay đổi về đòi hỏi các hộ sản xuất gia công nhỏ phải
đáp ứng các yêu cầu về giấy phép, thuế, vệ sinh môi trường, hợp đồng lao động. Trong
khi đó đa số các hộ sản xuất gia công nhỏ có vốn ít, không có giấy phép kinh doanh,
không có năng lực làm sổ sách kế toán, thuế, và không có ký kết hợp đồng lao động
với nhân công do tính mùa vụ của nó. Do đó các yêu cầu về các vấn đề này sẽ làm các
hộ gặp nhiều khó khăn, thậm chí phải rời bỏ nghề, nếu họ không được hỗ trợ, cải thiện
19

năng lực thích đáng. Sự thành công của VPA sẽ không trọn vẹn nếu một số nhóm bị
đẩy vào kết cục này do đây là nhóm lớn trên bình diện cả nước, là nguồn cung cấp sản
phẩm mộc truyền thống ở các vùng ngoài đô thị.

2.2. NHÓM HỘ GIA ĐÌNH DÂN TỘC THIỂU SỐ SỐNG PHỤ THUỘC
VÀO RỪNG
2.2.1. Đặc trưng chính của nhóm đối tượng nghiên cứu
Theo đánh giá, nhóm đối tượng nghiên cứu có những đặc điểm chung hoặc
những đặc trưng cụ thể như sau:
- Dân tộc thiểu số (DTTS): Phần lớn là đồng bào thiểu số, có thể có người
kinh.
- Sống gần rừng hoặc trong rừng tự nhiên (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất)

tộc Thừa Thiên Huế, 2013).
Với người dân tộc địa phương ở khu vực Thừa Thiên Huế, rừng và sản phầm
rừng đóng vai trò rất quan trọng với cuộc sống của họ. Theo khảo sát của các nghiên
cứu thì sản phẩm rừng đóng góp tỷ lệ khá lớn vào thu nhập của người dân địa phương,
đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc (Wetterwald et al, 2004). Theo một số nghiên cứu
đánh giá về mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng của người dân địa phương khu vực
Nam Đông, A Lưới, mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng của nhóm đồng bào người
dân tộc trung bình chiếm từ 30%-50% (thậm chí có một số gia đình có mức phụ thuộc
đến 70%) vào những năm 2004 – 2005 (Thắng, 2004) và sau đó giảm dần xuống 18%
vào thời điểm 2009 (Thắng, 2010).
Đặc biệt là trong thời gian vừa qua (2010, 2011), sự mở rộng của các khu bảo
vệ (mở rộng vườn quốc gia Bạch Mã, thành lập mới Khu bảo tồn Sao La Quảng Nam
và Thừa Thiên Huế) đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của đồng bào.
Các diện tích rừng trước kia thuộc sự quản lý của các Công ty lâm nghiệp, Ban quản lý
rừng phòng hộ thì các sản phẩm như lâm sản ngoài gỗ (LSNG) người dân vẫn được
phép thu hái. Nhưng khi mở rộng/thành lập mới khu bảo tồn, về nguyên tắc tất cả các
sản phẩm này đều không được phép khai thác. Các diện tích đất canh tác của người
dân địa phương (nương rẫy) đều không được triển khai, thực hiện.
2.2.2 Tầm quan trọng, ảnh hưởng của nhóm đối tượng nghiên cứu tới VPA
Đây là một nhóm đối tượng có thể nói không thật sự liên quan trong việc cung
cấp gỗ, chế biến sản phẩm gỗ cho các thị trường xuất khẩu, quy mô về số lượng của họ
cũng không lớn. Tuy nhiên, họ là những cộng đồng dân tộc ít người có truyền thống
lịch sử và cuộc sống phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng, chính vì thế, những tác
động của VPA, FLEGT lên tài nguyên rừng sẽ gián tiếp tác động đến họ, họ dễ bị tổn
thương và mức độ bị tổn thương của họ rất nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, phần lớn các nhóm dân tộc ít người là các nhóm có điều kiện kinh
tế và mức sống thấp so với mặt bằng chung của xã hội, ở đây họ lại là đối tượng không
21

được giao/khoán rừng tự nhiên trong khi họ có truyền thống rất lâu đời trong quản lý,

Chuyển đổi sử dụng
đất NN sang LN
Quy hoạch và quản
lý quy hoạch đất
đai kém

Mất đất sản
xuất
Ưu tiên của lãnh đạo
địa phương
Gỗ nhập
khẩu bất
hợp pháp
giảm
Phát triển rừng
trồng
Bị dụ dỗ bán đất
Thiếu sự tham gia
trong quy hoạch
Rừng tự nhiên bị
thu hẹp
Giao rừng ngoài
cộng đồng
Mất quyền
thu hái lâm
sản phụ
Lợi nhuận từ gỗ tăng
VPA
Cơ chế chia sẻ lợi
ích không hiệu quả

thấp
k
ế
Không công
bằng trong tiếp
cận thị trường
lao động
Tiếp cận vốn vay hạn
chế
Cạnh tranh lao động
Thiếu vốn đầu tư
Năng lực truyền thông
kém
Phương tiện nội dung
chưa phù hợp
Nhận thức chưa cao
Thủ tục phức tạp
Truyền thông chưa
hiệu quả
Ít chính sách ưu tiên
lao động tại chỗ
Năng lực tiếp cận
kém
Không nắm rõ
thủ tục của VPA
Vấn đề cốt lõi
Vấn đề trực tiếp
Vấn đề trung gian
22


là gỗ hợp pháp để có thể tham gia vào thị trường xuất khẩu sang Châu Âu. Điều này có
thể giúp cho các hộ gia đình dân tộc ít người sống phụ thuộc vào rừng có thu nhập tốt
hơn từ rừng tự nhiên mà họ đã gắn bó bao đời nay.
Có thể có hai hình thức xảy ra:
Giao cho các đơn vị, tổ chức ngoài cộng đồng (Ban QLRPH, Nông Lâm trường,
Công ty lâm nghiệp, ): Một khi giao cho các đơn vị, tổ chức này, rừng có thể bị quản
lý nghiêm ngặt hơn, và cùng với phương pháp quản lý thiếu sự tham gia sẽ hạn chế sự
24

tiếp cận rừng và đất rừng của các hộ gia đình dân tộc ít người có sinh kế phụ thuộc vào
rừng được giao. Những hoạt động sinh kế của hộ gia đình dân tộc phụ thuộc vào rừng
như khai hoang đất để sản xuất nông nghiệp, khai thác lâm sản từ rừng sẽ bị hạn chế
và dẫn đến giảm nguồn thu nhập cũng như giảm đi sự đa dạng sinh kế của những hộ
gia đình này.
Giao cho hộ gia đình, các tổ chức trong cộng đồng: ba nhóm đối tượng được
giao là cộng đồng, nhóm hộ và hộ gia đình. Việc giao rừng với những quyền lợi hợp
pháp khẳng định quyền tiếp cận với rừng và đất rừng của người dân địa phương.
Mất quyền thu hái lâm sản phụ
VPA/FLEGT tạo cơ hôi tốt hơn để Việt Nam xuất khẩu gỗ sang thị trường châu
Âu, cùng với dân số tăng và rừng phục hồi chậm hoặc có xu hướng suy giảm ở một số
nước, sẽ làm cho nhu cầu gỗ ở Việt Nam ngày càng tăng, thị trường gỗ ngày càng mở
rộng, và theo đó giá gỗ tăng cao, tạo ra lợi nhuận hấp dẫn từ gỗ. Điều này có thể thúc
đẩy các chủ rừng (đơn vị, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình được giao rừng) mở rộng diện
tích rừng trồng. Nhất là các chủ rừng là các công ty lâm nghiệp, mối quan quan tâm
chính yếu của họ là lợi nhuận hơn là bảo tồn tài nguyên rừng, vì vậy họ càng tập trung
nhiều hơn vào việc phát triển rừng trồng. Mở rộng rừng trồng có thể dẫn đến nhiều
diện tích rừng tự nhiên bị lấn chiếm và thay thế bằng các rừng trồng. Những diện tích
rừng tự nhiên, cho dù được xem là nghèo kiệt hiện nay (về trữ lượng gỗ), cũng cung
cấp một lượng lâm sản phi gỗ đáng kể và vì vậy có vai trò quan trọng đối với sinh kế
của hộ gia đình dân tộc sống phụ thuộc vào rừng. Một khi rừng tự nhiên bị thu hẹp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status