điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc, bài thuốc cho chăm sóc sức khỏe tại huyện sapa, tỉnh lào cai - Pdf 23

1
Bộ giáo dục và đào tạo Bộ y tế
học viện y dợc học cổ truyền việt nam
HOàNG THị HƯờNG
ĐIềU TRA CÂY THUốC Và KINH NGHIệM
Sử DụNG CÂY THUốC, BàI THUốC CHO CHĂM SóC SứC KHỏE
TạI huyện SA PA tỉnh lào cai
Chuyên ngành: Y học cổ truyền
Mã số : 60720201
luận văn thạc sỹ y học
Ngời hớng dẫn khoa học:
GS.TS trƯơng việt bình
Hà Nội - 2012
Bộ giáo dục và đào tạo Bộ y tế
học viện y dợc học cổ truyền việt nam
HOàNG THị HƯờNG
ĐIềU TRA CÂY THUốC Và KINH NGHIệM
Sử DụNG CÂY THUốC, BàI THUốC CHO CHĂM SóC SứC KHỏE
2
TạI huyện SA PA tỉnh lào cai
luận văn thạc sỹ y học
Hà Nội 2012
3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi luôn nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều
Thầy, cô giáo, của các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình. Cho phép tôi được bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học - Học Viện Y dược học cổ
truyền Việt Nam, Viện dược liệu, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình học tập và các địa điểm nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thầy Giám đốc học

CSSK Chăm sóc sức khỏe
CSSKBĐ Chăm sóc sức khỏe ban đầu
GMP Tiêu chuẩn thực hành tốt Sản xuất
GPP Nhà thuốc thực hành tốt, đủ tiêu chuẩn
NXB Nhà xuất bản
UBND Ủy ban nhân dân
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
(World Health Organization)
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
(World Trade Organization)
YHCT Y học cổ truyền
YHHĐ Y học hiện đại
YTTB Y tế thôn bản
6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Y dược cổ truyền Việt Nam có lịch sử lâu đời, với tiềm năng và vai trò to
lớn trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân trong suốt hàng ngàn năm đấu
tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, người Việt Nam đã từng tự hào “Nam
dược trị Nam nhân”. Là một quốc gia có 54 dân tộc khác nhau cùng sinh sống,
mỗi địa phương vùng miền đều có những cây thuốc quý, nhiều bài thuốc hay và
nhiều kinh nghiệm chữa bệnh dân gian của đồng bào các dân tộc. Trải qua thực
tiễn hàng nghàn năm, đến nay vẫn còn nguyên giá trị chữa bệnh cứu người góp
phần nâng cao thể trạng và giống nòi [31]. Trong quá trình phát triển, dược liệu
với phong trào thuốc Nam đã khẳng định vị trí của nó đối với sự nghiệp Chăm
sóc sức khoẻ nhân dân. Các bạn quốc tế luôn đánh giá cao những kết quả đã đạt
được trong ngành dược liệu thông qua chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu
(CSSKBĐ) và chương trình Thuốc thiết yếu Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế cho
thấy, đến nay các vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị suy giảm nghiêm trọng
do khai thác một cách cạn kiệt. Nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú nay đã
hoàn toàn bị phá bỏ, như khu vực núi Hàm Rồng (Sa Pa, Lào Cai); Cao nguyên

tiến hành nghiên cứu đề tài:“Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc, bài thuốc cho chăm sóc sức khỏe tại huyện Sapa, tỉnh Lào Cai” với hai
mục tiêu là:
1. Điều tra thực trạng cây thuốc và bài thuốc, bước đầu phân loại dược
liệu hiện có tại 03 xã huyện Sapa, tỉnh Lào Cai.
2. Mô tả kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của người dân địa phương
trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng của người dân tại 03 xã huyện
Sapa, tỉnh Lào Cai.
Chương 1
8
TỔNG QUAN
1.1. Sơ lược tình hình Y học cổ truyền ở một số nơi trên thế giới.
1.1.1. Sơ lược về lịch sử phát triển y học cổ truyền trên thế giới:
YHCT có lịch sử phát triển từ rất sớm. Hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều có nền YHCT của dân tộc mình, mang bản sắc riêng và có những đóng góp
ở nhiều mức độ khác nhau vào sự nghiệp CSSK cho người dân. Thế giới có
nhiều nền YHCT lớn (Trung Quốc, Ấn Độ, ).
Trung Quốc( TQ) với nền YHCT lâu đời có các học thuyết của YHCT như
học thuyết âm dương, học thuyết ngũ hành, học thuyết kinh lạc, học thuyết thiên
nhân hợp nhất. Sau khi giành độc lập vào năm 1949 với sự ra đời của Nhà nước
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, YHCTTQ đã hợp nhất vào hệ thống Y tế chung
của quốc gia, hoạt động dưới sự quản lí của Bộ Y tế [9].
Những năm gần đây, trào lưu dùng thuốc thiên nhiên của Thế giới nóng trở
lại đã mang đến cơ hội phát triển mới cho ngành Đông dược, nhưng đồng thời
cũng phải đối mặt những thách thức gay gắt. Các nước trên Thế giới cạnh tranh
áp dụng các kỹ thuật khoa học hiện đại để tiến hành nghiên cứu khai thác và phát
triển, sự cạnh tranh trên thị trường Quốc tế ngày càng trở nên khốc liệt, ngành
Đông dược phải đối mặt với nhiệm vụ cấp bách là buộc phải hiện đại hóa. Mười
năm đầu của thế kỷ 21 là thời kỳ quan trọng cho sự phát triển kinh tế và xã hội
Trung Quốc, và cũng là thời kỳ mấu chốt cho sự phát triển ngành Đông dược.

công tác Y tế ở các quốc gia.
1.1.2. Những nghiên cứu về cây thuốc dân tộc.
10
Bên cạnh nền YHCT chính thống, các cộng đồng dân tộc tích lũy tri thức
và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc chỉ lưu truyền trong các cộng đồng hẹp.
Điều tra tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc dân tộc (Ethnomedical
Plants) là một hướng nghiên cứu được triển khai từ lâu ở các quốc gia phát triển
và gần đây được đặc biệt quan tâm tại các nước đang phát triển. Hiện nay nhiều
tri thức, kinh nghiệm quý báu và sử dụng cây thuốc trong phòng chữa bệnh chỉ
được lưu hành trong các cộng đồng dân cư hẹp. Việc điều tra, phát hiện các cây
thuốc, bài thuốc dân tộc có hiệu quả điều trị cao cho việc sản xuất các dược
phẩm mới chữa trị các bệnh hiểm nghèo với chi phí và thời gian ngắn.
Từ lâu, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các bộ lạc thổ dân đã được các
nhà nghiên cứu quan tâm và nghiên cứu ứng dụng. Khi quan sát hiện tượng
không mắc chứng Ascorbus của thổ dân Mỹ vào mùa đông, các nhà khoa học đã
phát hiện nguyên nhân chống được bệnh này là do thổ dân thường xuyên uống
nước nấu bằng là một loài thông (Pinus sylvestyt). Từ nghiên cứu đó chiết xuất
thành công một loại axit chống lại Ascorbus (Ascorbic acid), hiện nay thường
gọi là Vitamin C, tương tự như vậy, khi nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng các cây
thuốc của bộ tộc thổ dân vùng Tây Ấn Độ, các nhà thực vật Mỹ đã phát hiện tác
dụng an thần của nước sắc từ rễ loài Ba gạc (Rawolfia verticillata ). Kết quả điều
tra này là cơ sở để sản xuất thuốc reserpin được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Nhiều loại dược phẩm hiện hành trên thị trường thế giới đã được điều tra thông
qua hướng dẫn nghiên cứu này hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp.
Trong khoảng thời gian 30 năm gần đây, riêng Viện Ung thư Hoa kỳ (NCT)
đã điều tra, nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc và phát hiện hàng
trăm loài cây thuốc có khả năng chữa bệnh ung thư. Trên cơ sở nghiên cứu này,
một số thuốc kháng ung thư đã được chiết xuất từ các cây thuốc dân
tộc(Vinblastine từ cây dừa cạn, Taxoltere từ cây thông đỏ,…).
11

nghiệm dân gian phong phú sử dụng cây thuốc trong phòng và chữa bệnh tại
cộng đồng.
YHCT Việt Nam ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự phát triển của lịch sử và
truyền thống văn hóa dân tộc. Ngay từ thủo khai hoang, dân tộc Việt Nam đã
biết dùng thảo mộc, kết hợp với một số loài động vật, khoáng vật để làm thuốc
trong phòng và chữa bệnh tại cộng đồng. Những kinh nghiệm dùng thuốc Nam
của từng người dân lưu truyền từ người này cho người khác, từ đời này đến đời
sau, kết hợp với hàng nghìn ông lang, bà lang trong từng thôn xóm, bản làng làm
nghề chữa bệnh cho cộng đồng bằng thuốc cổ truyền. Do đó, kinh nghiệm ấy
được nhân rộng và phát triển[8]. Lịch sử đã ghi lại từ thế kỷ XIV, Tuệ Tĩnh –
một danh Y nổi tiếng của nước ta viết hai tác phẩm có giá trị “Hồng nghĩa giác
tự y thư” và “Nam dược thần diệu” trong đó mô tả kỹ về tên, tác dụng và kinh
nghiệm sử dụng của 499 vị thuốc nam. Đến thế kỷ thứ XVII, đại danh Y Hải
Thượng Lãn Ông đã viết bộ sách “Hải Thượng Y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66
quyển. Ông đã phát huy tư tưởng tự chủ “Dùng thuốc Nam chữa bệnh cho người
Nam” của Tuệ Tĩnh và đã bổ sung được 300 vị thuốc nam ngoài các vị thuốc đã
được ghi trong sách của Tuệ Tĩnh.
Nhận thấy tầm quan trọng của YHCT trong chăm sóc sức khỏe, ngay từ
ngày hòa bình lập lại, Đảng và Chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản qui
phạm pháp luật nhằm khẳng định vai trò của YHCT nhằm bảo tồn, phát huy phát
triển YHCT, tạo hành lang pháp lý cho những người hành nghề YHCT. Đặc biệt
Chính phủ đã lồng ghép YHCT vào hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia thể
hiện ở các văn bản qui phạm pháp luật như: Chính sách quốc gia về y dược cổ
truyền đến năm 2010 của thủ tướng chính phủ ban hành ngày 03/11/2003, trong
đó nêu rõ: kế thừa, bảo tồn và phát triển y dược học cổ truyền, kết hợp YHCT
với YHHĐ trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; xây dựng nền y dược
Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng. Quan điểm chỉ đạo của Ban
13
Bí thư Trung ương Đảng tại chỉ thị số 24- CT/TW ngày 04/7/2008 là phát triển
nền Đông y Việt Nam là góp phần bảo tồn bản sắc, phát huy và phát triển một bộ

Cỏ tản piện, Cọ ương cả, Cây bông trăng. Bài thuốc chữa chứng tiêu chảy, viêm
đại tràng, trẻ con người lớn đi kiết lỵ, sắc lên dùng 1 ấm là khỏi. Để chữa khỏi
bệnh thận dùng: Cỏ đượi, Cỏ chú khạu, Cọ tạn (Mã đề), Nha côn khển, Rau
ngót, Cọ phương ( Cây khế), Cọ xón (Râm bụt); Đun sắc uống thay nước trong
vòng 1 tháng thì khỏi bệnh. Để chữa bệnh phụ nữ sa dạ con dùng: Cỏ khọp khí
phay (Chia khải tùi), chưa chịp chiển, Mạc pị đỉn; tất cả giã ra, gói vào lá lùi vào
tro bếp nóng đắp vào chỗ sa dạ con, mặc quần lót chặt 1 tiếng thay thuốc 1 lần,
có thể kết hợp uống Mạc pi đin. Chữa đau dạ dày dùng: Cọ phan hái, Chưa mạc
vanh, Cọ trái hèo, Chưa xa lán, Cọ cháy, Cọ pia men, Cọ hín lán; Đun uống đến
khi khỏi trong khi dùng thuốc kiêng thịt bò, cá tanh, lạnh, các chất kích thích
như chè, ớt.[ 38].
1.2.2.1 Kinh nghiệm sử dụng thuốc YHCT của người Cao Lan.
Theo nghiên cứu về người Cao Lan xã Đội Cấn, huyện Yên Sơn, tỉnh
Tuyên Quang của Ty Thị Hoàn ( 2004) : người Cao Lan chữa bệnh gan có phù
dùng: Hơng cưng toọc (nghệ trắng), Bong bóng lợn cỏ (lợn rừng), Mây min (Cây
gạo), Sà mây nin (Tầm gửi cây gạo), Mây min ổn (cây gáo), Mạc pầy pà (cây
sổ), Hau slay ma lưng (Dạ cẩm), Nhứ tộc tam (Cỏ thốt nốt), Dây tơ hồng, Ca
lần cậy lưng (Hoa mào gà vàng), Va lần cậy loơng (hoa mào gà đỏ), Mây hồng
tám. Bài thuốc này có tác dụng tiêu phù thũng, bổ mắt, trị bệnh về gan, kích
thích tiêu hóa. Để chữa khỏi thận dùng: Mây hò phứng (Cơm khê), Bàng cư (ống
tre đựng muối lâu năm), tung mạc qua (cuống quả bí ngô), ăn lòng tôm (tổ con
ong bò vẽ trên vách đất), mây lệnh (cây gác bếp). Các vị thuốc trên băm nhỏ
hoặc chặt khúc mỗi thứ một nắm đem sắc kỹ, sau đó đem tổ ong bò vẽ nung
nóng giã mịn, hòa vào thuốc đã sắc uống. Để chữa phụ nữ bị động thai người
Cao Lan có kinh nghiệm dùng: Cây gai, cây cơm đỏ, cỏ chân vịt, lá liễu, ké hoa
15
vàng dùng rễ tươi hoặc khô đem sắc uống. Thường uống từ 1-2 lần là khỏi.Bị sốt
xuất huyết thì dùng: Nàng trứng ếch (đen, trắng) hai vị làm chủ quân, lá cơm
nếp, mía dò, kim giao, cỏ nhọ nồi, dương xỉ mỗi thứ một nắm (dùng tươi), sắc
uống, uống lúc nguội. Theo kinh nghiệm của họ thì hai vị thuốc nàng nàng

mỏng buộc lại cạo dọc thăn thịt hai bên cột sống. Hoặc khi đau mình, đau tay
chân thì lấy lá Cây dây gió, lá cây nhuội duối, mỗi vị khoảng 100-500g giã,
chưng nóng, trải đều và chườm chỗ đau, ngày làm một lần, làm từ 2-3 ngày.
Chữa ho, lấy từ 3-5 con sâu đục trong thân cây dâu, nướng thành than, hòa vào
nước cho tan rồi uống. Với phụ nữ ngày sinh con người mẹ ăn cơm nếp cẩm
(cơm xôi), ngoài các tục lệ khiêng kỵ ngày sinh con người chồng phải nấu riêng
một nồi cơm nếp cẩm thơm ngon và nướng gói muối giã với rau bẹ cho vợ ăn.
Sau ngày sinh con người mẹ ăn cơm nếp cẩm (cơm ôi) với lá tắc chiềng, có khả
năng chống được bệnh sài cho mẹ và con, nên xung quanh nhà nào cũng trồng
loại cây này. Sau đẻ, tục uống nước nóng nấu với các loại lá cây thuốc như lá
cườm, lá bò ma, lá làm tan, lá thoang thoảng, lá chẹo, lá lạnh, lá triền, lá chân
chim, người mẹ phải uống no, uống nhiều để thải các chất độc ra ngoài. Người
đẻ suốt ngày đêm phải ngồi bên bếp lửa, tục sưởi lửa bắt buộc áp dụng cho
người đẻ bất kỳ là mùa nào. Họ cho rằng lửa sưởi để cho khí huyết lưu thông và
tăng nhiệt lượng cho người đẻ. Sau đẻ 3 ngày, người mẹ được lau tắm thân thể
bằng nước đun sôi, từ đó mới được tự do đi lại bên bếp lửa buồng trong. Qua cữ
có thể làm các công việc nội trợ. Người mẹ thiếu sữa, lấy quả và lá cây sung đồ
chín ăn kèm xôi nếp để lấy sữa nuôi con[ 23 ].
Một nghiên cứu khác về người Mường ở xã Cúc Phương huyện Nho Quan,
tỉnh Ninh Bình của Nguyễn Văn Hiệu(1997) người Mường có bài thuốc chữa
đau dạ dày thân lá cây khôi xanh, khôi tía sắc uống. Điều trị bệnh tê liệt dùng lá
17
cây nhâm, lá cây bò cu vẽ, thân và lá cây co giãn, lá hoặc cây cúc tần, lá cây
ngải cứu, mỗi vị 50g đun sôi 15-20 phút, uống nóng một chén nhỏ và xông nóng
đến khi nguội có thể cho tay vào được thì tắm nước đó xoa bóp vào cơ thể bị liệt.
Chữa ỉa chảy người Mường dùng cây nắc nẻ, vỏ cây xương cá, thân lá cây ngải
cứu, mỗi vị 100g đun sôi 15-20 phút chắt lấy nước để uống [ 24 ].
1.2.2.4. Kinh nghiệm sử dụng thuốc YHCT của người H’Mông.
Theo nghiên cứu về người H’mông ở Hòa Bình của Đặng Thị Hoa (1997)
[25]. Người H’mông ở Hòa Bình có cách thức phòng bệnh cho trẻ em rất lý thú

độ cao trên 700m trở lên, được hình thành từ 2 dãy núi lớn là dẫy Hoàng Liên
Sơn và dãy Con Voi. Dãy Hoàng Liên Sơn có nhiều đỉnh cao như đỉnh Phan Xi
Păng cao 3.143 m, Tả Giàng Phình cao 3.090m so với mặt nước biển; Vùng thấp
chủ yếu là thung lũng dọc ven sông, ven suối lớn, địa hình máng trũng có bề mặt
dạng đổi. Ngoài ra còn có các thung lũng nhỏ hẹp, bao bọc bởi các dãy núi[1].
Là một tỉnh miền núi, Lào Cai có diện tích rừng lớn, cung cấp nhiều cây dược
liệu quí, do được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện tự nhiên nên nhiều loại cây, con
dược liệu như tam thất, xuyên khung, đỗ trọng, mật ong được trồng, nuôi có
hiệu quả tại các huyện vùng cao. Cùng với đội ngũ thầy thuốc YHCT có kinh
nghiệm với các bài thuốc đông y gia truyền chính là những điều kiện tốt để phát
triên nền YHCT của tỉnh. Nói chung đồng bào dân tộc ở đây cũng đã sử dụng
thuốc YHCT một cách tự nhiên theo kinh nghiệm truyền miệng từ đời này qua
đời khác hoặc từ người này qua người khác, vì là truyền miệng nên nhiều bài
thuốc hay và các cây thuốc quý còn bị thất lạc chưa được phát huy trong công
tác CSSK cho nhân dân.
Do vậy, việc sử dụng YHCT có ý nghĩa rất quan trọng trong CSSKBĐ cho
người dân, đặc biệt là ở miền núi vì nó kế thừa được những kinh nghiệm quý báu
của nhân dân các dân tộc, khai thác được nguồn dược liệu tại chỗ rất đa dạng và
phong phú dễ kiếm lại đỡ tốn kém cho người bệnh.
19
Là một tỉnh có tiềm năng lớn về YHCT, nhưng công tác khám chữa bệnh
bằng YHCT của Lào Cai vẫn chưa phát huy được thế mạnh chưa đáp ứng được
nhu cầu khám, chữa bệnh bằng phương pháp YHCT của nhân dân. Từ những
đánh giá trên UBND tỉnh Lào Cai đã ra quyết định thành lập bệnh viện YHCT
vào 9 tháng 4 năm 2004 [46]. Đây chính là việc làm cụ thể hóa quan điểm chỉ
đạo của Đảng về phát triển nền YHCT nói chung và hoàn thiện mạng lưới Y tế
cho tỉnh Lào cai nói riêng. Sự ra đời của Bệnh viện YHCT với nhiệm vụ khám
chữa bệnh cho nhân dân, nghiên cứu, đánh giá và kế thừa các bài thuốc YHCT
để góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu CSSK của
nhân dân tại địa phương.

- Chăn nuôi, toàn huyện chủ yếu trang trại bò, trâu, lợn, gia cầm…. Diện
tích nuôi cá nước lạnh tiếp tục được mở rộng, sản lượng cá thương phẩm ước
tính đạt 110 tấn.
- Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, công nghiệp tiểu thủ công
nghiệp (như là các mặt hàng truyền thống dệt, may thổ cẩm, ).
- Thương mại - du lịch, là thị trấn có khu du lịch nổi tiếng nên lượng khách
du lịch đến địa bàn cao 450.268 lượt, doanh thu đạt 2,720 tỷ đồng.
- Mạng lưới điện, 18 xã thị trấn có điện lưới quốc gia, có 6.844/9.150 hộ sử
dụng điện chiếm 74.7 % số hộ toàn huyện.
1.3.2.3 Văn hóa xã hội [2].
- Giáo dục đào tạo.
Toàn huyện có 63 điểm trường, có 602 phòng học, so với tổng số học sinh
các cấp 18.343 học sinh. Tổng số 12/63 trường đạt chuẩn quốc gia.
Độ tuổi của trẻ 6 tuổi vào lớp 1 là 1.884 em đạt 89.33%; lớp 6 có
1.419/1.427 đạt 99,6%; trẻ đi học đúng độ tuổi tiểu học là 98%, Trung học cơ sở
đạt 95%; Trung học phổ thông đạt 94%.
21
- Y tế [2][5][7].
+ 01 Bệnh viện đa khoa với tổng số giường bệnh là 120, gồm 108 người
có 6 khoa và 4 phòng chức năng, trong đó có 1 khoa YHCT( có 2 y sỹ YHCT),
và trực tiếp quản lý 5 phòng khám đa khoa khu vực.
+ Hệ thống y tế xã; Có 17 trạm Y tế xã - Thị trấn thực hiện công tác CSSK
cho người dân tại địa phương, 10/17 trạm đạt chuẩn Quốc gia y tế.
+ Về công tác khám chữa bệnh bằng YHCT; do mới được thành lập nên đội
ngũ cán bộ còn thiếu, các trang thiết bị chưa đầy đủ, các nghiên cứu về mô hình
bệnh tật, nhu cầu và thực trạng sử dụng thuốc YHCT của nhân dân trong cộng
đồng cũng như tìm hiểu khai thác những kinh nghiệm quí báu của các dân tộc về
việc sử dụng nguồn dược liệu tự nhiên trong việc chữa bệnh còn nhiều hạn chế.
Hiện có 01 Hội Đông y của Huyện. Hội thường xuyên sinh hoạt và báo cáo công
tác Hội theo quí. Các hoạt động sinh hoạt thường là trao đổi chia sẻ thông tin,

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu.
- Thị Trấn Sapa Huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
- Xã Tả Phìn Huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
- Xã Trung Chải Huyện Sapa, tỉnh Lào Cai.
2.2. Đối tượng nghiên cứu.
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu.
* Các cây thuốc có trên địa bàn nghiên cứu.
* Người dân có kinh nghiệm sử dụng thuốc cây thuốc và bài thuốc Nam trong
chăm sóc sức khỏe, gồm;
Nhóm 1: Những người có kinh nghiệm sử dụng thuốc YHCT trên địa bàn 3 xã
gồm các ông lang, bà lang. Ông lang, bà lang được hiểu là những người dân
sinh sống tại địa phương có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong phòng và chữa
một số chứng bệnh được mọi người dân cùng địa bàn tin tưởng đến khám và lấy
thuốc đề chữa bệnh.
Nhóm 2: Cán bộ Y tế và người có liên quan đến công tác y tế gồm:
- Cán bộ trạm Y tế xã, hội YHCT xã, y tế thôn bản.
- Cán bộ xã phụ trách Y tế.
- Trưởng thôn, già bản, trưởng dòng họ
2.2.2. Cách chọn mẫu đối tượng người có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc.
- Nhóm 1: Là những người có kinh nghiệm sử dụng thuốc nam trên địa
bàn 3 xã: (ông lang, bà lang). Chọn 100%.
24
- Nhóm 2: Là những cán bộ phụ trách công tác Hội Đông Y ở huyện, quản
lý phòng y tế, cán bộ y tế xã, cộng tác viên y tế thôn bản, cán bộ xã phụ trách y
tế. Chọn 100%.
Bảng 1.1. Số người tham gia phỏng vấn trong thời gian nghiên cứu.
TT Đối tượng Phương pháp Số người
1 Cán bộ y tế xã Phỏng vấn bán cấu trúc

Phỏng vấn, lấy
mẫu, phân loại
Mô tả kinh nghiệm thu
hái, bảo quản, chế biến
Định tính
Phỏng vấn sâu,
quan sát trực tiếp
Tỷ lệ các phương thức sử
dụng cây thuốc
Định lượng Phỏng vấn
2
Kinh
nghiệm
phòng và
chữa bệnh
bằng thuốc
Nam
Mô tả các kinh nghiệm sử
dụng thuốc Nam của ông
lang, bà lang
Định tính Phỏng vấn sâu
2.3.3. Cỡ mẫu trong nghiên cứu:
- Chọn mẫu: Có chủ định
- Cõ mẫu: Lấy mẫu toàn thể
2.3.4. Các phương pháp thu thập số liệu.
Các phương pháp cụ thể bao gồm:
+ Phương pháp đánh giá nhanh PRA(Praticipatory Rapid Appraisal), [16], [54].
Qua trạm y tế xã để biết những người hay sử dụng nguồn cây thuốc tại địa
phương để phòng và chữa bệnh trong khu vực nghiên cứu đó là các ông lang, bà
lang biết về cây thuốc, bài thuốc. Họ là những người được đề nghị hợp tác trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status