BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trường Đại Học Dân Lập Đông Đô
Khoa Du Lịch
O0O
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ DU LỊCH CỦA THĂNG LONG TỨ
TRẤN PHỤC VỤ LOẠI HÌNH DU LỊCH TÂM LINH TRÊN ĐỊA
BÀN HÀ NỘI”
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS – TS NGUYỄN THỊ HẢI
Sinh Viên Thực Hiện : PHẠM ĐẠI PHÚC
Khóa : K15VH1 (2009 – 2013)
Chuyên Ngành : Văn Hóa Du Lịch
’
HÀ NỘI, 2013
LỜI CẢM ƠN
Dưới sự dẫn dắt chỉ bảo tận tình của thầy cô trong khoa Du Lịch –Trường
Đại Học Dân Lập Đông Đô, trong suốt 4 năm học vừa qua em đã tiếp thu được
rất nhiều kiến thức bổ ích, những vốn sống thực tế quý báu trong hành trang
bước vào đời.
Đặc biệt, trong năm học cuối cùng của quãng đời sinh viên này đối với em
là một kỉ niệm đẹp mãi không quên, các thầy cô đã dậy bảo em trong những năm
vừa qua, để giờ đây em vận dụng những kiến thức đã học, để em hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Cô giáo, Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ
Nguyễn Thị Hải – Người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em trong thời gian hướng
dẫn tìm hiểu đề tài và hoàn thành bài khóa luận.
Em xin cảm ơn Thầy giáo, Tiến Sĩ Vũ Đình Thụy – Trưởng Khoa Du Lịch
và các thầy cô giáo trong Khoa Du lịch đã giúp đỡ em nhiều trong những năm
học vừa qua.
Em xin gửi lời cảm ơn đền những người thân trong gia đình, bạn bè đã cổ
1.4.5 Am 17
1.4.6 Nghè 18
1.4.7 Điếm 18
1.4.8 Quán 18
1.4.9 Miếu 18
1.4.10 Đàn 19
Chương 2: Giá trị văn hóa tâm linh của Thăng Long Tứ Trấn và thực trạng
khai thác phục vụ du lịch 20
20
2.1 Giới thiệu khái quát Thăng Long Tứ Trấn 20
2.2 Các giá trị văn hóa tâm linh của Thăng Long Tứ Trấn 21
2.2.1 Đền Bạch Mã 21
2.2.2 Đền Quán Thánh 27
2.2.3 Đền Kim Liên 31
2.2.4 Đền Voi Phục 36
2.3 Thực trạng khai thác phục vụ du lịch ở Thăng Long Tứ Trấn 40
2.3.1 Các tổ chức quản lí Thăng Long Tứ Trấn 40
2.3.2. Các hoạt động dịch vụ văn hóa tâm linh tại Thăng Long Tứ Trấn 42
2.3.3. Đối tượng Khách du lịch Thăng Long Tứ Trấn 43
2.3.4 Một số chương trình tour du lịch tham quan Thăng Long Tứ Trấn 44
2.3.5 Những ưu điểm và nhược điểm 47
Chương 3: Một số giải pháp phát huy giá trị của Thăng Long Tứ Trấn phục
vụ du lịch 48
3.1 Giải pháp về tổ chức và quản lí 48
3.2 Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm du lịch 48
3.3 Giải pháp về nguồn nhân lực 49
3.4 Giải pháp về cảnh quan 50
3.5 Giải pháp về tăng cường tuyên truyền, quảng bá và hoạt động nghiên cứu 50
3.6 Giải pháp nâng cao nhận thức người dân 51
KẾT LUẬN 53
1
Như vậy, vấn đề tâm linh đang được nhiều người quan tâm chú ý tới, do đó
trong khoảng thời gian những năm gần đây các chương trình tour du lịch văn
hóa tâm linh ngày càng phát triển mạnh. Hà nội là thủ đô của Việt Nam, có
hang ngàn di tích văn hóa, lịch sử hấp dẫn, là nguồn tài nguyên lớn cho ngành
du lịch phát triển.
Thăng Long Tứ Trấn – bốn ngôi đền Trấn Yểm bốn Phương Đông Tây Nam
Bắc trên long mạch lớn Hà Nội, đã có từ lâu đời, là đối tượng thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, kiến trúc. Làm thế nào để thu hút
lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến với Thăng Long Tứ Trấn, lam thế
nào để bảo tồn và phát huy những nét đẹp văn hóa của dân tộc. Đó đang là những
câu hỏi đặt ra cho ngành du lịch nói chung và cho địa điểm du lịch Thăng Long
Tứ Trấn nói riêng. Đó cũng là lí do mà em chọn đề tài “Nghiên cứu giá trị du lịch
của Thăng Long Tứ Trấn phục vụ loại hình du lịch tâm linh trên địa bàn Hà Nội’’.
2.M ục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Mục tiêu : Tìm hiểu và đưa ra những đánh giá về những giá trị quý báu và
hiện trạng du lịch của Thăng Long Tứ Trấn, từ đó nhấn mạnh khả năng phục vụ
du lịch tâm linh trên địa bàn Hà Nội, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm thu
hút khách đến với những di tích văn hóa tâm linh ngày càng nhiều.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài : Nghiên cứu khả năng khai thác tài nguyên
du lịch văn hóa tâm linh tại 4 Đền thờ, Đền Bạch Mã, Đền Quán Thánh, Đền Kim
Liên, Đền Voi Phục. Đề tài cũng sẽ trở thành một tài liệu phục vụ cho việc nghiên
cứu tìm hiểu về Thăng Long Tứ Trấn, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Giá trị văn hóa tâm linh của Thăng Long Tứ Trấn phục vụ du lịch tâm linh về
các di tích lịch sử văn hóa tâm linh ‘‘Thăng Long Tứ Trấn’’: Thăng Long Tứ
Trấn gồm có bốn ngôi đền thờ lớn trấn giữ bốn Phương Đông Tây Nam Bắc của
Hà Nội:
2
Trấn Bắc: Đền Quán Thánh nằm ở ngã tư đường Thanh Niên và Quán Thánh.
thác phục vụ du lịch.
Chương 3: Một số giải pháp phát huy giá trị của Thăng Long Tứ Trấn phục vụ
du lịch.
4
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch tâm linh.
1.1 Các khái niệm liên quan.
1.1.1 Khái niệm văn hóa.
Hiện nay có tới hơn 300 định nghĩa về văn hóa.Trong đó quen thuộc thường
hay nhắc đến đó là khái niệm văn hóa của Taylor – nhà dân tộc người Anh nêu ra
năm 1871: “Văn hóa là những tổng thể phức hợp bao gồm các kiến thức, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng và thói
quen con người đạt được với tư cách là thành viên trong xã hội”.Hoặc theo
Paulmush: “Văn hóa là toàn bộ những hình ảnh đã nắm bắt được soi sáng và
chuyển dịch các hình ảnh ấy vào trong tập quán cá nhân và tập thể”. Theo Các Pốp
– nhà văn Liên Xô trước đây: “Văn hóa là toàn bộ những của cải vật chất và tinh
thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người
(…) Văn hóa là một hiện tượng nhiều mặt phức tạp liên quan đến nền sản xuất và
chế độ kinh tế của đời sống xã hội – văn hóa biểu hiện trong một mặt của đời sống
xã hội”.
Mới đây nhân dịp phát động thập kỉ thế giới phát triển văn hóa (1988 – 1997),
tổ chức văn hóa thế giới Unessco đã công bố định nghĩa mới về văn hóa: “Văn hóa
là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh
thần của xã hội. Nó không thuần túy bó hẹp trong các sáng tác nghệ thuật mà bao
gồm cả phương thức sống, những quyền con người cơ bản, truyền thống, tín
ngưỡng”.
Những khái niệm văn hóa trên tuy chưa trực tiếp nhắc đến chữ tâm linh nhưng
đã nhắc đến tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, truyền thống, những chữ gắn
liền với tâm linh, với niềm tin thiêng liêng. Niềm tin thiêng liêng về những vị thần
hộ mệnh đã hình thành tín ngưỡng thờ thần ở làng xóm, gia đình. Niềm tin về biểu
tượng mẹ đã hình thành tín ngưỡng thờ mẫu ở nước ta.Phật giáo, Đạo giáo, Gia Tô
Tất cả những biểu hiện liên quan tới đời sống tâm linh con người sẽ tạo nên văn
hóa tâm linh. Cũng như tất cả mọi hiện tượng trong cuộc sống, văn hóa tâm linh có
những mặt tích cực và tiêu cực, vì vậy cần phải có một cái nhìn hiện chứng, khách
quan để có cách ững xử hợp lý, phát huy được mặt tích cực và hạn chế những ảnh
hưởng của nó đối với đời sống cộng đồng.
1.1.4 Khái niệm du lịch tâm linh.
Du lịch tâm linh là gì ? du lịch tâm linh là kết hợp việc “đi cho biết đó biết đây”
với “tín ngưỡng” . Đó là hai nhu cầu cần thiết trong đời sống con người, nhằm
mang lại nét đẹp cho cuộc sống đi đôi với sự thăng hoa trong tâm hồn.
1) Đi cho biết đó biết đây chính là mục đích của du lịch nhằm mở mang kiến thức
về thiên nhiên và con người nơi mình đến. Du lịch còn là một liệu pháp xả stress
rất hiệu quả. Ngày nay, đời sống con người quá nhiều tất bật, quá nhiều bận rộn lo
toan, quá nhiều cạnh tranh trên mọi mặt đời sống v.v… khiến cho con người luôn
phải chịu nhiều sức ép từ cuộc sống. Du lịch chính là cứu tinh mang đến cho con
người những giờ phút thong dong, tạm quên những phiền toái đời thường để tận
hưởng cái đẹp của cuộc sống.
2) Tín ngưỡng: nói đến tâm linh tức là nói đến tín ngưỡng. Tín ngưỡng gồm có tín
ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Từ tín ngưỡng tôn giáo, người ta tổ chức những lễ hội tôn giáo như : lễ hội Chùa
Hương (Hà Tây), lễ hội Quán Thế Âm (Đà Nẵng), lễ hội Ponagar (Nha Trang), lễ
hội Đôl ta của người Khơ Me các tỉnh miền Tây Nam Bộ v.v…
Từ tín ngưỡng dân gian, chúng ta thấy có các lễ hội Thánh Gióng (Hà Nội), lễ hội
Tế Cá Ông (Bình Thuận), lễ hội vía Bà Tây Ninh, lễ hội vía Bà núi Sam (Châu
Đốc) v.v.
Như vậy, qua danh từ du lịch tâm linh, chúng ta thấy có hai vế trong cụm từ này :
- Vế thứ I: Du lịch
- Vế thứ II: Tín ngưỡng
7
Phân tách cụm từ này, chúng ta thấy giữa hai nhu cầu du lịch và nhu cầu tín
ngưỡng tác động một cách ngang bằng nhau. Có khi nhu cầu tâm linh là động cơ
Đặc điểm các nghi thức, nghi lễ thờ cúng ở các di tích văn hóa tâm linh bao giờ
cũng mang yếu tố “Thiêng”: Thời gian thiêng, không gian thiêng, ngôn ngữ, văn tự
thiêng. Nghi lễ là những nghi thức, cách thức mà con người dâng lễ vật lên cúng
thần linh, nhằm “hữu thể hóa”, “hiện thực hóa” cái thiêng liêng vốn vô hình, tạo ra
sự giao thoa giữa Người – Thần, Đời – Đạo,… tạo ra sự cộng cảm, mênh mông
trong đời sống văn hóa cộng đồng.
Nhiều lễ hội văn hóa tâm linh trở thành những nét bản sắc văn hóa vùng miền,
dân tộc độc đáo.
Thế giới văn hóa tâm linh của người Việt được xây dựng theo mô hình
“dương sao, âm vậy – trần sao, âm vậy”. Vì vậy, nên coi đây là quan niệm xuất
phát để tìm hiểu về mô hình thế giới tâm linh của người Việt. Vì quan niệm “trần
sao âm vậy” nên mới có những tục lê như chia của cho người chết, chon theo
người chết tiền bạc, các đồ dùng, rồi nghi lễ đốt vàng mã cũng là một cách để “tiếp
tế” cho người chết. Có gia đình trước mỗi bữa ăn con cháu đều cất lời mời bà
ngoại mới mất về ăn cơm.
Hình thành từ xã hội nguyên thủy, người Việt có tín ngưỡng bách thần “thần
cây đa, ma cây gạo”, gán cho các thế lực siêu nhiên, các sự kiện chưa giải thích
được là các vị thần. Thế giới thần linh bao gồm thần Sông, thần Núi, thần Biển,
thần Lửa, thần Sấm Sét… và còn có cả thần Bếp, thần Tài, thần Nhaanduyeen…
Nhân gian có người xấu người tốt nên các vị thần cũng có thần Thiện và thần Ác,
có thánh thần luôn giúp người và cũng có ma quỷ chuyên hại người.
Do ảnh hưởng của xã hội phong kiến, thế giới tâm linh cũng được hình dung
thoe một mô hình tổ chức tương tự: trên có Ngọc Hoàng Thượng Đế, có các vị
thần bề tôi với các cơ quan chuyên trách, giữa có thế giới người trần mắt thịt
9
và dưới đất có Diêm Vương phụ trách việc xét xử những linh hồn của con
người trần gian.
Một đặc điểm khá nổi bật trong văn hóa tâm linh Việt Nam, đó là tính “vô tôn
giáo”, hoặc tín ngưỡng đa thần, đã đưa nhiều thần linh khác nhau vào thờ trong
cùng một nơi. Trong đền, chùa, cùng lúc thờ thần, phật, thánh mẫu,… thể hiện tính
những hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam, là nơi kết tinh các giá trị lịch
sử – văn hóa – xã hội, là cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu tìm hiểu về đất nước
con người Việt Nam trong tiến trình lịch sử.
Với những vai trò như trên, việc đưa các di tích văn hóa tâm linh trở thành sản
phẩm du lịch là điều cần thiết. Trong sự phát triển du lịch của đất nước, các di tích
lịch sử văn hóa tâm linh trở thành một trong những “điểm chốt”để xây dựng các
tuyến du lịch văn hóa, mở rộng các tour du lịch văn hóa đặc sắc tới các vùng quê
hương khác của đất nước, nối rộng và mở thêm hiểu biết cho nhân dân các địa
phương, đồng thời khai thác các thế mạnh của các vùng miền trong tổng thể phát
triển kinh tế xã hội quốc gia.
Đưa du khách tới thăm các di tích lịch sử văn hóa tâm linh, đối với một số đối
tượng khách còn là dịp tạo điều kiện cho họ tiếp xúc với các sự kiện, nhân vật lịch
sử được lưu giữ, tôn thờ tại các điểm di tích. Bằng các hoạt động tôn giáo tín
ngưỡng của mình tại các tuyến điểm di tích,du khách được thỏa mãn nhu cầu tâm
linh tinh thần chính đáng của mình, phù hợp với hệ thống pháp luật nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định: “Người Việt Nam có quyền tự do tín
ngưỡng và tự do tín ngưỡng”. Đây cũng là một thế mạnh đáng kể mà hệ thống di
tích lịch sử văn hóa tâm linh đem đến cho du lịch, giúp tang thêm nguồn thu từ du
khách với nhiều đối tượng khách khác nhau, không phụ thuộc vào giới tính, lứa
tuổi, chủng tộc, quốc tịch hay nghề nghiệp, địa vị – vị trị trong xã hội, ý thức hệ tư
tưởng, tâm lí tình cảm.
11
Đưa du khách đến với các di tích lịch sử văn hóa tâm linh chính là hình thức
phát triển du lịch bền vững. Xét dưới góc độ vật thể, muốn phát triển du lịch bền
vững thì các điểm tham quan du lịch phải tồn tại bền vững lâu dài. Dưới góc độ
này, hệ thống di tích lịch sử văn hóa tâm linh chính là những công trình bền vững
nhất trong các loại hình kiến trúc trên tất cả các giác độ.
Về hoạt động du lịch, dịch vụ ở Việt Nam, trong khi chúng ta chưa xây dựng
được một cách đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch, chưa có nhiều
các khu du lịch mới, hiện đại thì ngành du lịch đang triệt để khai thác giá trị nhiều
- Thờ những đối tượng siêu hình có thể là nhân thần, tự nhiên thần,… mà tính
danh sự nghiệp,công trạng không rõ nhưng từ lâu đã đi vào đời sống cộng đồng cư
dân bản địa, được người dân thờ phụng với mong muốn sẽ mang lại phúc lành,
những điều tốt đẹp cho họ.
Những vị thần tương đối danh tiếng thường thờ ở các Đền lớn, quy mô của Đền
thường lớn hơn các công trình như Nghè, Miếu. Nhìn chung, các di tích thuộc loại
hình Đền thường là những di tích mà ở đó đối tượng được thờ là Thần, Thánh hay
những nhân vật đã được thần thánh hóa.
Đôi khi với tính chất như vậy nên Đền thờ thường là dạng kiến trúc nửa Đền
thờ, nửa cung điện. Ở các di tích này,hai bên phía trước của Đền thường có bia
“Hạ Mã” Xuống Ngựa. Khi qua đó mọi người đều phải: “khuynh cái, Hạ Mã” –
nghiêng tàn, lọng, bỏ mũ nón, xuống Ngựa để thể hiện và bày tỏ sự tôn kính đối
với vị Thần được thờ trong di tích.
Cửa ra vào các đền thờ được gọi là Nghinh môn với cấu trúc 3 Cửa hoặc 5 cửa
ra vào như thông thường ở các loại di tích khác.
13
Hệ thống cổng cũng được xây dựng và trang trí với hình tượng các linh vật.
Trên sân, phía trước thường có tượng Voi, Ngựa với tư cách là những công cụ của
Thánh Thần. Trên sân, phía trước nhà tiền tế thường có bố trí nhang án lộ thiên để
cho các tín đồ lễ Thần từ xa, bởi vì ở một đền thờ không phải bất kì tín đồ nào
cũng có thể được vào trong hậu cung để chiêm bái Thần.
Trong các Đền thờ,đối tượng thờ cúng có thể là Nhiên Thần, Nhân Thần, những
anh hùng dân tộc hoặc anh hùng văn hóa đã từng có công trạng với dân với nước
cùng các bộ tướng của ngài. Đền thờ là nơi thâm nghiêm trong tâm thức người dân
nên đối tượng thờ cúng thường đặt trong hậu cung, cung cấm thâm nghiêm, có
khoảng cách nhất định với người dân. Đối tượng được thờ cúng được thể hiện qua
hình thức tượng tròn chân dung hay mô phỏng về đối tượng đó bằng tâm thức dân
gian. Ở nhiều công trình di tích, tượng tròn có thể được thay thế bằng thần vị, ngai
thờ với mũ áo của Thần. Tất cả đều được được đặt trong cung cấm.
Trong nội tự các ngôi Đền thường bài trí hệ thống đồ thờ, nghi trượng trang
thể vào khoảng thế kỉ XV trở về trước thì ngôi Chùa kiêm luôn chức năng của ngôi
Đình. Nhiều nơi ngôi Chùa đã được sử dụng như một trung tâm hành chính của địa
phương: họp hành…
Chùa đã từng là trường học dành cho các tăng sĩ và cư dân bản địa. Đây vừa
là nơi truyền thụ giáo lý Phật giáo, vừa là nơi truyền thụ tri thức nhân văn cho
nhân dân.
Chùa còn là nơi cư trú, học tập, tu luyện của những người có hoàn cảnh và điều
kiện đặc biệt trong xã hội như: (Trẻ mồ côi, người khuyết tật…)
Trong một số trường hợp ngôi Chùa còn kiêm luôn chức năng như là một bệnh
viện. Trong khuôn viên nội tự, người ta trồng rất nhiều cây thuốc để chữa trị cho
những người ốm đau. Ngôi Chùa trở thành nơi an dưỡng nghỉ ngơi hoặc luyện tập
để nâng cao sức khỏe, trí lực cho một bộ phận tu hành và dân bản địa.
15
Đối tượng thờ cúng trong Chùa: Phật, Mẫu, Thánh, Thần.
1.4.3 Phủ
Ngoại trừ là nơi ở, sinh hoạt và làm việc của các chúa dưới thời kì phong kiến
như Phủ chúa Trịnh, Phủ chúa Nguyễn hoặc là phủ đệ của các ông hoàng, bà
(công) chúa còn là để chỉ nơi dành cho việc thờ Mẫu, có thể đó là Mẫu Thiên, Mẫu
Địa, Mẫu Thoải (Thủy) hoặc phổ quát là Mẫu Liễu Hạnh. Những công trình di tích
nổi tiếng như Phủ Dầy (Nam Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội) …
Tín ngưỡng Thờ Mẫu ra đời khi con người có ý thức về giá trị của sự sinh sôi
nảy nở. Mà tư duy của cư dân nông nghiệp thường biện lý từ những cái cụ thể, nên
giá trị về sự sinh sôi nảy nở không có gì khác ngoài người Mẹ cụ thể mang nặng đẻ
đau sinh sôi nguồn nhân lực. Những gì sinh sôi nuôi sống, che chở, bảo vệ con
người chiến thắng thiên tai và thú dữ ấy chính là Mẹ. Và khởi nguồn của tín
ngưỡng thờ mẫu gắn với con người Việt khi còn cư trú ở núi rừng, với hình ảnh
đầu tiên là Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn Lâm, rồi dần dần lan tỏa xuống đồng
bằng – Mẫu Thoải.
1.4.4 Đình
Đình làng là công trình kiến trúc công cộng của làng xã, dùng làm nơi diễn ra
Là Chùa nhỏ, Miếu nhỏ nơi thờ các nhân vật lịch sử hay văn hóa hoặc thờ
cúng cộng đồng sinh linh (am cô hồn, am công đồng…) Theo từ điển Phật học,
Chùa nhỏ gọi là am. Thường am là nơi thờ Phật đồng thời là nơi tu hành của
người xuất gia.
Am còn là những ngôi nhà nhỏ hẻo lãnh, tĩnh mịch của người ở ẩn thời xưa. Đó
có thể là cá bậc thiền Sư hay Đạo Sĩ.
17
1.4.6 Nghè
Là kiến trúc sớm được dựng lên để thờ Thần ở những đơn vị nhỏ hơn làng. Ví
dụ như làng Lim ở Bắc Ninh có Nghè ở giáp Đoài, Nghè giáo Đông, Nghè hai giáp
Nam Bắc ở sau Đình làng Lim.
Sau này khi thi cử Nho học phát triển, thời Nguyễn, những Ông thi đỗ từ Tiến
Sĩ trở lên, dân làng phải dựng Đình nghi để Ông về ở, lâu dần gọi thành Đình
Nghè. Ông Nghè có quyền chiếm ruộng bất cứ nào trong Tổng, vì thế xưa kia có
câu: ‘‘chưa đỗ Ông Nghè đã đe Hàng Tổng’’. Khi Ông Nghè qua đời, nếu được
tôn làm Thần thì cũng được thờ trong Nghè.
1.4.7 Điếm
Là kiến trúc được dựng lên ở đơn vị nhỏ hơn làng, xóm,giáp, ngõ để thờ thần
thổ công, thổ địa trong xóm ngõ. Hàng năm ở Điếm, xóm, ngõ cũng có lệ cúng
Thần, tổ chức ăn uống, vui văn nghệ.
1.4.8 Quán
Gắn liền với Đạo giáo. Xuất phát từ xa xưa bên Trung Quốc có các nghĩa
Quán, những kiến trúc sơ sài dựng lên bên đường, trong đó để sẵn những đồ ăn,
nước uống. Những hiệp sĩ đi làm việc nghĩa, đến bữa cứ việc vào quán ăn uống
vừa đủ, không phải trả tiền. Dần về sau, nghĩa quán trở thành những nơi hoạt động
thờ cúng của đạo quán. Hiện nay ở Hà Nội và một số tỉnh đồng bằng xung quanh
cũng còn ít di tích đạo quán.
1.4.9 Miếu
Có 3 dạng Miếu:
Miếu thờ Thần Cây,Thần Đá, Thần Núi, Thần Sông, Thần Giếng.
Bốn ngôi đền trấn ngự ở bốn phương. Đó là phương thức sáng tạo không gian
thiêng, là quy hoạch của thành Thăng Long xưa, đóng vai trò quan trọng trong việc
bảo vệ Linh khí của Thủ đô nghìn năm văn hiến. Tứ trấn tạo ra sức mạnh huyền
diệu, thần quyền, hỗ trợ cho thế quyền, để uy lực của Thủ đô ngày càng vững
mạnh, đất nước ngày càng yên vui.
Tứ trấn gồm: Đền Bạch Mã (phương Đông), thờ thần Long Đỗ, vị thần bảo hộ
kinh thành Thăng Long, đền Voi Phục (phương Tây), thờ thần Linh Lang Đại
Vương, đền Quán Thánh (phương Bắc), thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, đền Kim Liên
(phương Nam), thờ thần Cao Sơn.
Phía Đông tượng trưng cho màu hồng, thể hiện khả năng phát triển, do đó trấn
phía Đông nhằm bảo vệ 36 phố phường Hà Nội, giúp cho việc phát triển công
thương, dịch vụ của kinh thành. Trấn phía Tây nhằm bảo vệ uy lực quân sự. Trấn
phía Bắc nhằm chống ngoại xâm, sự xâm nhập của các thế lực thù địch và trấn phía
20