SỞ Y TẾ HÀ NỘI
BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Năm 2012
Tên đề tài: Khảo sát thực trạng sự tuân thủ vệ sinh tay thường quy của
nhân viên y tế tại bệnh viện Tim Hà Nội
Chủ nhiệm đề tài: CNĐD Đoàn Hoàng Yến
Thư ký đề tài: CNĐD Đỗ Cẩm Thuý
Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2012
I. Đặt vấn đề:
Bình thường trên da tay người cán bộ y tế thường có 2 loại vi khuẩn: Vi
khuẩn thường trú và vi khuẩn vãng lai. Các vi khuẩn thường trú có thể vào cơ
thể qua các thủ thuật xâm lấn. các vi khuẩn vãng lai thường là những tác nhân
gây nhiễm trùng bệnh viện phổ biến và thường tồn tại trên da không quá 28
giờ chúng dễ dàng bị loại bỏ bằng vệ sinh bàn tay với nước và xà phòng hay
dung dịch rửa tay nhanh.
Tổ chức y tế thế giới khẳng định “ Rửa tay là biện pháp đơn giản và
hiệu quả nhất trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện” nhiều nghiên cứu về
vệ sinh bàn tay trên thế giới đã chững minh rằng các biện pháp VSBT đã
giảm 50% nguy cơ gây nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) cũng như nguy cơ
phơi nhiễm bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế, với hiệu quả trong dự phòng
NKBV các biện pháp VSBT đã tích cực góp phần giảm chi phí trong điều trị,
giảm thời gian điều trị nội trú, giảm tỷ lệ tử vong… Theo Tổ chức Y tế thế
giới: rửa tay được coi là liều vacxin tự chế, rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu
- Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc thực hiện VSBT của nhân viên y tế
II. Tổng quan:
Hầu hết các báo cáo tại Hội nghị Kiểm soát nhiễm khuẩn Khu vực
Châu Á Thái Bình Dương lần thứ III và thứ IV (7/2007, 7/2009) có chung
một khuyến cáo, đó là cần tăng cường sự tuân thủ rửa tay. Rửa tay và chà sát
tay bằng dung dịch chứa cồn là biện pháp quan trọng, hữu hiệu, khả thi.
Trong bài này, tác giả xin điểm qua mốc lịch sử quan trọng và những quan
điểm, ý kiến của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn hàng đầu thế giới
3
xoay quanh vấn đề tưởng chừng rất đơn giản nhưng lại rất quan trọng, đó là
Quy trình rửa tay thường quy và sát khuẩn tay bằng dung dịch chứa cồn.
1. Mốc lịch sử và tầm quan trọng của vệ sinh bàn tay
1.1. Mốc lịch sử quan trọng: Trong suốt thế kỷ thứ XIX, ở Châu Âu và Mỹ,
25% bà mẹ sinh con tại bệnh viện đã tử vong do sốt hậu sản. Sau đó, nguyên
nhân của những tử vong đó được tìm thấy là do vi khuẩn Streptococcus
pyogenes. Năm 1843, bác sĩ Oliver Wendell Holmes (Mỹ) yêu cầu một bác sĩ
của khoa sản (nơi ông làm việc) nghỉ việc trong thời gian một tháng sau 2
trường hợp bà mẹ tử vong mà ông cho rằng liên quan đến vệ sinh bàn tay của
bác sĩ đó. Vào những năm 1840’s, Bác sĩ Ignaz Semmelweis (1818-1865)
công tác tại Bệnh viện đa khoa Viên (Áo) khám phá ra sự khác biệt về tử lệ tử
vong ở các bà mẹ sau sinh con giữa hai khoa sản của bệnh viện. Năm 1846,
Semmelweis nghiên cứu và thấy rằng tại hai khoa sản của bệnh viện, cùng
thực hành một kỹ thuật rửa tay. Khoa thứ nhất là khoa thực hành của sinh
viên y khoa, nơi mà chỉ có các BS và sinh viên y khoa làm việc có tỷ lệ tử
vong do sốt hậu sản là 13,10%, tỷ lệ này cao gấp gần 5 lần so với khoa thứ 2
là khoa hướng dẫn thực hành cho nữ hộ sinh (bao gồm các nữ hộ sinh và học
sinh hộ sinh) có tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ sau sinh là 2.03%. Ông quan sát và
thấy rằng, các bác sĩ và sinh viên y khoa thường không rửa tay sau khi thăm
khám bệnh nhân này và chuyển sang thăm khám bệnh nhân kia hoặc thậm chí
sau khi mổ tử thi bệnh nhân Ông cho rằng nguyên nhân của sốt hậu sản là do
2.1. Cấu trúc của da: Nếu dùng kính hiển vi soi trên bề mặt da, sẽ thấy hình
ảnh da giống như bản đồ mặt đất: những thung lũng (nếp nhăn), Da chiếm
diện tích trên cơ thể chúng ta khoảng 2m2, với tổng trọng lượng khoảng 15-
20% trọng lượng cơ thể. Da là hàng rào bảo vệ cơ thể, giúp cơ thể ổn định
thân nhiệt, chống mất nước, bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân độc hại của môi
trường như: vi khuẩn, bụi bẩn, ánh nắng, Da còn là nơi đón nhận các xúc giác
của cơ thể, giúp ta biết đau, nóng, lạnh và khoái cảm
2.2. Tác nhân gây nhiễm khuẩn do da bàn tay
5
Vi khuẩn cư trú trên bàn tay (tập trung số lượng lớn ở kẽ tay và kẽ móng
tay), đặc biệt tụ cầu khuẩn thường xuyên có trên bề mặt da và trong niêm mạc
mũi của người khỏe mạnh, loại vi khuẩn rất nguy hiểm này truyền nhiễm sang
người khác qua tiếp xúc thông thường. Nhiều người chỉ nhận thức vi khuẩn là
các vết bẩn nhìn thấy bằng mắt thường. Trên thực tế, vi khuẩn luôn tồn tại
trong không khí, trên các đồ vật, quần áo và có rất nhiều trên da bàn tay mà
bằng mắt thường không thể nào nhìn thấy.
Các nhà khoa học chứng minh, trên bề rộng của da người bình thường
có diện tích là centimet vuông chứa tới 40.000 vi khuẩn, trên da bàn tay thì số
lượng vi khuẩn còn nhiều hơn, vì đôi tay thường xuyên tiếp xúc với đủ mọi
vật trong cuộc sống. Trong cuộc sống hằng ngày đôi khi chúng ta quên rằng
vô số vi khuẩn và virus đang rình rập quanh ta chờ có dịp để lây nhiễm và tấn
công Bàn tay thường là trung gian đem mầm bệnh vào cơ thể con người.
Mỗi khi bắt tay hay sờ mó một vật gì chẳng hạn như nắm khóa cửa, robinet,
chốt xả nước bồn cầu, v.v… chắc chắn là bàn tay chúng ta đã bị nhiễm và có
thể là với nhiều loại vi khuẩn khác nhau. Để phòng ngừa sự lây nhiễm thì có
một cách rất dễ, đó là chúng ta hãy chịu khó rửa tay thường xuyên! Trên da
nói chung và da bàn tay nói riêng có hai loại vi khuẩn, đó là vi khuẩn thường
trú và vi khuẩn vãng lai. Vi khuẩn thường trú sống và sinh sản ở lớp sâu của
da, khó loại bỏ bằng rửa tay thường quy. Bình thường vi khuẩn này không
gây nhiễm khuẩn mà là hàng rào hiệu quả chống lại sự tụ tập của vi khuẩn
Pháp (2002) và ý kiến của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn hàng đầu
trên thế giới dựa vào các kết quả nghiên cứu khoa học đã đưa ra khuyến cáo:
- Rửa tay là biện pháp đơn giản nhất, rẻ tiền nhất và cũng hiệu quả nhất
trong KSNK do đó cần tăng cường sự tuân thủ rửa tay.
- Sát khuẩn tay bằng dung dịch chứa cồn là phương pháp nhanh nhất,
hiệu quả nhất trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện. Tăng cường sự tuân
thủ rửa tay là điều quan trọng nhất trong các cơ sở y tế. Kết quả nhiều nghiên
7
cứu cho thấy sự tuân thủ này giao động từ 16 đến 81% và trung bình là 40 %.
Người ta cũng cho rằng sự tuân thủ có liên quan đến tính hiệu quả, sức chịu
đựng của da tay và thời gian rửa tay.
Định nghĩa vệ sinh bàn tay
Mục đích của rửa tay thường quy là làm sạch và loại bỏ vi khuẩn vãng lai
trên da tay, đảm bảo an toàn cho người bệnh, nhân viên y tế và góp phần làm
giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện.
Vệ sinh bàn tay gồm:
* VSBT thường quy:
Rửa tay: với xà phòng thường (trung tính) và nước
Chà tay bằng dung dịch chứa cồn: Rửa tay bằng dung dịch chứa cồn (Hand
rub)
VSBT Ngoại khoa
Rửa tay sát khuẩn: Rửa tay với xà phòng chứa chất sát khuẩn
Rửa tay/sát trùng tay phẫu thuật: Rửa tay sát khuẩn hay chà tay bằng dung
dịch chứa cồn trước khi phẫu thuật bởi nhân viên phẫu thuật
* Chỉ định và cơ hội VST:
- Chỉ định: lý do cần VST tại thời điểm xác định
- Cơ hội cần VST: Thời điểm cần VST khi chăm sóc, điều trị nhằm cắt đứt lan
truyền mầm bệnh qua bàn tay. Cơ hội vệ sinh tay là số lần cần VST , một cơ
hội được tạo ra từ ít nhất một chỉ định
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
*Kỹ thuật quan sát: Thu thập số liệu thông qua quan sát trực tiếp tại 03
khoa lâm sàng và điền vào các biểu mấu đánh giá, NVYT không biết thời
điểm VSBT nào được đưa vào nghiên cứu
Mỗi BS, ĐD, HL được quan sát ít nhất là 05 cơ hội VST trong 1 lần giám sát,
thời gian trung bình cho 1 lần giám sát là 20 phút
9
- Phỏng vấn gián tiếp: sau khi được quan sát đủ 05 cơ hội rửa tay. BS,
ĐD, HL điền vào mấu phiếu khảo sát kiến thức sau đó cán bộ giám sát thu lại
và chấm điểm, ( trả lời đúng 1 điểm, trả lời sai hoặc không trả lời: 0 điểm)
Phương pháp kiểm soát sai lệch: Nhóm NC được tập huấn và thống nhất
phương pháp quan sát, thực hiện đúng các chỉ tiêu đề ra.
- Kiểm soát sai lệch bằng cách tuân thủ tiêu chí chon mẫu và tiêu trí
loại trừ
- Kiểm soát sai lệch của người quan sát bằng cách tập huấn thật kỹ cho
giám sát viên, khảo sát thử để xem xét, chỉnh sửa bảng khảo sát cho phù hợp
- Xử lý số liệu bằng chương trình phần mềm Excel năm 2003
4. Kết quả
4.1. Đánh giá sự tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế
Khảo sát của chúng tôi được tiến hành từ 1/7/2012 đến 15/10/2012 tại 3
khoa lâm sàng trọng điểm Hồi sức, khoa ngoại, điều trị, tổng số có 65 bác sỹ,
điều dưỡng và hộ lý được chon vào nghiên cứu, tỷ lệ chấp nhận trả lời phỏng
vấn là 100% và 400 cơ hội VSBT
Bảng 1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng
Bác sỹ Điều dưỡng Hộ lý Tổng
Tuổi trung bình 32,7 27,6 32,8 28,43
Giới Nam
5 13 0
18
(27,7%)
NVYT chưa thực hiện VST
Khi so sánh giữa các đối tượng NVYT, tỉ lệ tuân thủ VSBT ở điều
dưỡng là cao nhất (73,1% trong 290 cơ hội), hộ lý là đối tượng có tỉ lệ tuân
thủ VSBT kém nhất (37,1% trong 35 cơ hội)
Đối tượng
Cơ hội VST
Bác sỹ Điều dưỡng Hộ lý N %
T.Số cơ hội 75(18,6%) 290 (72,5%) 35 (8,7%) 400 100
Có VST 49(65,3%) 212(73,1%) 13(37,1%) 274 68,5
11
Không VRT 26 (34,7%) 78(26,9%) 22(62,8%) 126 31,5
Nhận xét: Trong 400 cơ hội của mẫu nghiên cứu tỷ lệ cơ hội VST của
điều dưỡng là cao nhất (290; 72,5 %) BS là 75;18,6%, ít nhất là Hộ lý có 35;
8,7% và
Tỷ lệ NVYT có thực hiện VST là 68,5%. Không thực hiện VST 31,5%
(trong đó ĐD thực hiện VST cao hơn các đối tượng khác n= 212; 73,1%, BS
n= 49; 65,3% và thấp nhât là HL n= 13; 37,1% )
Bảng 3. So sánh số cơ hội VST của nhân viên y tế tại 3 khoa lâm sàng:
Khoa
Đối tượng
Số cơ hội
Điều trị
Ngoại
Hồi sức
Bác sỹ
Có RT 20 ( 66,7 %) 18 ( 90 %) 11 (44 %)
Không RT 10 ( 33,3 %) 2 ( 10%) 14 (56 %)
Tổng cơ hội 30 20 25
Điều dưỡng
Có RT 41 (74,6 %) 65 (86,7 %) 106 (66,3 %)
4. Sau khi thực hành thủ thuật xâm lấn 42 38(90,4%) 4(9,5%)
5. Trước khi vào buồng bệnh 29 14(48,3%) 15(51,7%)
6.Trước khi ra khỏi buồng bệnh
24 9(37,5%)
15
(62,5%)
7. Trước khi đi găng 45 25(55,5%) 20(44,4%)
8. Sau khi tháo găng 50 45(90%) 5(10%)
9. Ngay sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ
thể
18
18( 100%
)
0
10.Sau khi tiếp xúc vật dụng xung quanh
BN
26 9 (34,6%)
17
(65,4%)
Tổng
400
100 %
274
68,5%
126
31,5%
Nhận xét: Qua thực tế khảo sát thực hành VST của NVYT cho thấy
thời điểm sau khi tiếp xúc các vật dụng xung quanh người bệnh chưa được
NVYT VST chiếm tỷ lệ khá cao (65,4%) và trước khi ra khỏi buồng bệnh
(62,5%) và 44,4%) không có thói quen rửa tay trước khi đi găng. Tuy nhiên
55,3
%
17
44,7 %
(5) Trước khi vào buồng bệnh 14 11
78,6
%
3
21,4 %
(6) Trước khi ra khỏi buồng
bệnh
9 5
55,6
%
4
44,4 %
(7) Trước khi đi găng 24 5
20,8
%
19
79,2 %
(8) Sau khi tháo găng 45 25
55,6
%
20
44,4 %
(9) Ngay sau khi tiếp xúc với
máu và dịch cơ thể
18 18
100 %
5. Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn
tay này vào lòng bàn tay kia
(≥ 5 lần)
90 69,2 40 30,8
6. Dùng bàn tay này xoay ngón cái của
bàn tay kia và ngược lại
64 49,2 66 50,8
7. Xoay các đầu ngón tay này vào lòng
bàn tay kia và ngược lại
44 33,8 86 66,2
8. Làm sạch tay dưới vòi nước chảy
đến cổ tay
129 98,4 1 0,8
9. Làm khô tay bằng khăn lau tay và
dùng khăn lau tay khóa vòi nước chảy
127 97,6 3 2,4
10. Tổng thời gian thực hiện: ≥ 30 giây 108 83,1 22 16,9
Nhận xét: Tại bảng 6 cho thấy khi thực hiện Quy trình Rửa tay bằng
nước với dung dịch khử khuẩn NVYT chưa tuân thủ đủ các bước theo quy
trình tập chung ở các ( bước 5,6,7 chiếm tỷ lệ cao 30,8 – 66,2%) và còn 16.9
% chưa thực hiện đúng thời gian rửa tay theo quy định
Bảng 7. Thực hiện quy trình vệ sinh tay bằng dung dịch sát khuẩn tay nhanh
Quy trình sát khuẩn tay nhanh Có thực hiện Không thực hiện
n % n %
1. Lấy 3ml dung dịch cồn sát khuẩn 144 100 0 0
2. Chà 2 lòng bàn tay vào nhau 144 100 0 0
3. Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ
ngoài các ngón tay của bàn tay kia và
ngược lại
135 93,7 9 6,3
Nhận xét: Trong 65 nhân viên y tế được khảo sát chỉ có 1,5 đạt loại tốt,
64,6 đạt loại khá, điểm trung bình tương đối cao chiếm 32,4% ;
Bảng 9. Kết quả khảo sát kiến thức từ câu 1 - 15
Câu số
Đáp án
đúng
Trả lời đúng Trả lời sai
n % n %
1 D 61 93,8 4 6,2
2 B 31 47,7 34 52,3
3 A 35 53,8 30 46,2
4 A 46 70,7 19 29,3
5 A 34 52,3 31 47,7
16
6 A 61 93,8 4 6,2
7 D 60 92,3 5 7,7
8 B 48 73,8 17 26,2
9 D 58 89,2 7 10,8
10 D 62 95,4 3 4,6
11 C 63 96,9 2 3,1
12 D 58 89,2 7 10,8
13 D 46 70,7 19 29,3
14 B 6 9,2 59 90,8
15 D 42 64,6 23 35,4
Nhận xét:
Khi khảo sát kiến thức của NVYT đa số đã trả lời đúng, tuy nhiên vẫn
có 46,2 - 52,3 % trả lời sai câu số 2,3 có liên quan mật thiết với nhau (Vi
khuẩn vãng lai là phổ tác nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện và cũng là
loại vi khuẩn có thể loại bỏ dễ dàng bằng các biện pháp cơ học thông thường
như rửa tay bằng nước và xà phòng). Đây là một trong những nội dung quan
Có rửa tay 55 (84,6%)
Khi có chỉ định
VSBT mà da tay bị
Không rửa tay 0 ( 0% )
Hạn chế rửa tay tối đa 0 ( 0% )
Mang găng tay để thay thế VSBT 3 ( 4,6%)
Rửa tay kết hợp dùng kem dưỡng ẩm 62 ( 95,4%)
Nhận xét: Về lựa chọn phương thức VST đa số NVYT đều chọn cả 2
cách VST ( 81, 5 %) và chọn dung dịch có kem dưỡng ẩm da tay (95%) tuy
nhiên vẫn có 4,6% NVYT trả lời là mang găng tay để thay thế VSBT
*Phương tiện và điều kiện VSBT
Tiêu chuẩn phương tiện vệ sinh tay thường quy:
Vị trí rửa tay bằng nước đạt 5 tiêu chí:
- Lavabo rửa tay: loại vòi nước có cần gạt, bồn rửa không có vết bẩn
nhìn sờ thấy được, quanh bồn không để phương tiện đồ vật khác
- Bình cấp dung dịch rửa tay kin có bơm định lượng, hoạt động tốt, còn
hạn sử dụng hoặc xà phòngđể trọng hộp khô ráo có lỗ thoat nước
- Có hệ thống cấp nước sạch thường xuyên
- Khăn lau tay dùng một lần để trong tui nilon hoặc trong hộp riêng, có
hộp đựng khăn bẩn
- Có tờ hướng dẫn quy trình VST
Tiêu chuẩn dung dịch khử khuẩn tay: 04 tiêu chí
- DD khử khuẩn tay được giữ trong bình kín
- Có bơm định lượng, còn hạn sử dụng, có chất dưỡng da
- Được gắn cố định bằng móc treo trên tường lối ra vào buồng bệnh,
hoặc ở đầu giường bệnh, hay trên các xe tiêm và xe thay băng
19
- Có tờ hướng dẫn quy trình VST
Bảng 12: Phương tiện VSBT thường quy chung tại 3 khoa:
Phương tiện Khoa Điều trị
Phương tiện Buồng thủ thuật
(n = 2)
Buồng bệnh nhân
( n = 18)
có Đạt(%) có Đạt (%)
Có vị trí rửa tay đạt 5 tiêu chí 1 50% 0 0%
Đạt dưới 2 tiêu chí 1 50% 10 55,6%
Vị trí sát khuẩn tay bằng cồn
đạt 4 tiêu chí
03 60% 01 5,6%
Đạt dưới 2 tiêu chí 02 40% 0 0
Nhận xét: Tại khoa điều trị, chỉ có 01 bồn rửa tay ở buồng thủ thuật đat
chuẩn (5 tiêu chí) còn lại có 01 bồn rửa tay ở buông bệnh và 09 bồn RT tại
nhà vệ sinh của NV và bệnh nhân chỉ đạt 02 tiêu chí ( có nước sạch, có tờ
HD QT rửa tay)
- Dung dịch VST được cung cấp đầy đủ tại buồng thủ thuật, trên xe
tiêm, xe thay băng tuy nhiên chỉ 60% đạt đủ 4 tiêu trí và chỉ có 5,6% được
gắn ở giường bệnh hoặc buồng bệnh
Bảng 13. Phương tiện VSBT đạt chuẩn tại khoa Ngoại
Phương tiện Buồng thủ thuật
(n =1)
Buồng bệnh nhân
( n = 8)
Có Đạt % Có Đạt %
Có vị trí rửa tay bằng
nước đạt 5 tiêu chí
1 100% 0 0
Đạt dưới 2 tiêu chí 0 0% 1 12,5%
Vị trí sát khuẩn tay bằng
cồn đạt 4 tiêu chí
biện pháp tăng cường VST giúp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện
5.1.Đánh giá thực trạng sự tuân thủ VST thường quy của nhân viện y tế
- Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu:
Tổng số đối tượng tham gia Nc là 65, trong đó ĐD(n= 54;83%) nhiều
gấp gần 9 lần số BS ( n = 7; 10/7%) nữ giới gấp 3 lần nam giới(72,3% ở nữ so
với 27,7% ở nam. Tuổi trung bình toàn bộ nhân viên y tế được khảo sát là
22
28,43 tuổi nhỏ nhất 24, tuổi lớn nhất 41. Điều này phù hợp với tình hình nhân
sự ở đa số các bệnh viện và nhân lực tại bệnh viện Tim Hà Nội
- Thâm niên công tác: phần lớn là nhân lực trẻ nên thâm niên từ 3 năm
trở nên chiếm tỷ lệ khá cao ( 61,5%). Điều này cho thấy nhân viên y tế của
bệnh viện có tuổi đời và thâm niên công tác đều còn rất trẻ, phù hợp với kết
quả NC của BV nhi đồng 2 là ( 67%)
- Khi quan sát 400 cơ hội VST thường quy của NVYT tại 3 khoa lâm
sàng chúng tôi thấy tỷ lệ tuân thủ VST đạt 68,5% cao hơn so với các nghiên
cứu trước đấy ( BVND2 tỷ lệ tuân thủ VST là 63,8% năm 2010; 56,7% ở BV
thanh nhàn năm 2009 ) điều này cũng đáng mừng vì là bệnh viện chuyên khoa
về phẫu thuật tim, đòi hỏi mỗi NVYT phải có ý thức tuân thủ VST để góp
phần thành công cho một ca mổ, giảm chi phí cho người bệnh sau khi phẫu
thuật, tuy nhiên vẫn có 31,5% NVYT chưa thực hiện VST thường quy khi có
chỉ định
- Khi so sánh giữa các đối tượng NVYT tại 3 khoa lâm sàng số cơ hội
VST của điều dưỡng là cao nhất (290; 72,5 %) BS là 75;18,6%, ít nhất là Hộ
lý có 35; 8,7% và sự tuân thủ VST của điều dưỡng cũng cao hơn BS và Hộ lý
(73,1% trong 290 cơ hội), hộ lý là đối tượng có tỉ lệ tuân thủ VSBT kém nhất
(37,1% trong 35 cơ hội) điều này cho thấy điều dưỡng là người thực hiên
công việc chăm sóc trực tiếp người bệnh nên có thói quen VST cao hơn các
đối tượng khác, kết quả này phù hợp với NC của Bv nhi đồng 2 là 60,4% so
với BS chỉ có 18,6%
- So sánh số cơ hội và tỷ lệ VST của NVYT tại 3 khoa lâm sàng cho
5,6,7{} và 16.9 % chưa thực hiện đúng thời gian rửa tay theo quy định, điều
này cũng phải xem lại nguyên nhân có thể do quá tải NVYT không có nhiều
thời gian cho VST, thời gian VST ảnh hưởng tới mức độ loại bỏ vi khuẩn trên
bàn tay, nghiên cứu của bệnh viện Bạch mai, lượng vi khuẩn sau VST ≥ 20
giây: 0,7Log giảm hơn nhóm VST< 20 giây:1,1log(p<0,05). Năm 2011 bệnh
viên đã tổ chức phát động lễ vệ sinh tay và lấy mẫu ngay sau khi NVYT vừa
24
thực hiện VST xong để đánh giá, kết quả cho thấy tỷ lệ vi khuẩn còn rất nhiều
tại những NVYT không tuân thủ đủ các bước và thời gian VST theo quy
trình, theo kết quả NC của Taylor và cộng sự sử dụng bột màu để giám sát
thực hiện QT VST của NVYT cho thấy 89 % NVYT không thực hiện đúng
hoàn toàn kỹ thuật VST nhiều vùng da tay không được chà, thường bỏ sót
vùng da ngón cái, mu các ngón, bàn tay do vậy đã không được tiếp xúc với
hoá chất VST và vi khuẩn cũng không được loại bỏ ở những nơi này, VST
đúng quy trình giúp hoá chất tiếp xúc toàn bộ bề mặt bàn tay, loại bỏ vi sinh
vật ở bàn tay hiệu quả hơn. Nghiên cứu tại BV Bạch Mai (2007) cho thấy
lượng vi khuẩn lạc ở các đầu ngón tay NVYT thực hiện đúng kỹ thuật
VST:0,2log thấp hơn so với NVYT thực hiện không đúng kỹ thuật VST: 1log
(p<0,05).
5.2. Một số yếu tố liên quan VST thường quy:
Khi phỏng vấn kiến thức của 65 đối tượng nghiên cứu, chỉ có 1,5 đạt
loại tốt, 64,6 đạt loại khá, điểm trung bình tương đối cao chiếm 32,4%.
NVYT trả lời sai câu số 2,3 chiếm tỷ lệ cao 46,2 - 52,3 % có liên quan mật
thiết với nhau (Vi khuẩn vãng lai là phổ tác nhân chính gây nhiễm khuẩn
bệnh viện và cũng là loại vi khuẩn có thể loại bỏ dễ dàng bằng các biện pháp
cơ học thông thường như rửa tay bằng nước và xà phòng) và 90,8%, cho rằng
VK tập chung chủ yếu tại các đầu ngón tay và móng tay, câu trả lời đúng là
“Phần lớn vi khuẩn trên bàn tay được tìm thấy xung quanh lòng (gan) bàn
tay”Đây là một trong những nội dung quan trọng quyết định việc tuân thủ
VSBT của NVYT; NVYT không có kiến thức và thái độ đúng sẽ không tuân