Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại một số xã, thị trấn trong huyện tiên du tỉnh bắc ninh - Pdf 30

BỘ YTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN HUY
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG s ử DỤNG THUỐC KHÁNG
SINH CỦA NGƯỜI DÂN TẠI MỘT s ố XÃ, THỊ TRẤN
TRONG HUYỆN TIÊN DU- TỈNH BẮC NINH
(KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP Dược sĩ KHOÁ 1998-2003)
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương
Nơi thực hiện : Huyện Tiên Du- Bắc Ninh
Bộ môn Quản lý và Kinh Tế Dược
Thời gian thực hiện : 2-5/2003
HÀ NỘI 5/2003
M ồ i e ỏ M t
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới:
Thạc sỹ\ Nguyễn Thị Thanh Hương: Bộ môn Quản Lý và Kinh Tế Dược đã
hướng dẫn tôi tận tình trong quá trình làm luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo ở Bộ môn Quản Lý và Kinh Tê
Dược đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại Học Dược Hà Nội đã dạy dỗ
tôi trong suốt quá trình học tập.
Xỉn cảm ơn các cơ quan, đơn vị, bạn bè đã giúp đỡ tôi tận tình trong quá
trình làm luận vãn này.
Hà Nội Ngày 25/5/2003
Sinh viên
Nguyễn Văn Huy
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỂ 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN
2
1. Định nghĩa thuốc kháng sinh 2

ĐẶT VẤN ĐỂ
Trước đặc điểm mô hình bệnh tật của nước ta hiện nay, thuốc kháng sinh
được sử dụng rộng rãi và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thuốc nhập khẩu
cũng như sản xuất hàng năm của nước ta [15]. Hiện nay thuốc kháng sinh là
một trong 3 nhóm thuốc được dùng nhiều nhất tại Việt Nam [29].
Đặc biệt trong những năm gần đây, số lượng và chủng loại kháng sinh được
đưa vào thị trường Việt Nam ngày càng đa dạng và phong phú. Thêm vào đó
cơ chế thị trường đã tạo ra một số thói quen của bác sỹ trong chỉ định dùng
thuốc. Cùng vói việc các mạng lưới cung ứng thuốc rộng khắp các nơi đã đưa
thuốc tới mọi tầng lớp nhân dân.
Việc tự mua thuốc kháng sinh một cách dễ dàng để tự điều trị không cần
đơn của người dân cùng với sự ủng hộ nhiệt tình của những người bán thuốc
chỉ cần quan tâm tới lợi nhuận mà bất chấp tất cả. Người bán thuốc sán sàng
bán thuốc phải kê đơn mà không cần đơn. Còn người dân thì sử dụng theo thói
quen, theo sự mách bảo của những người không có chuyên môn, thời gian
dùng thuốc không đúng theo nguyên tắc thậm chí còn đối nghịch hẳn, liều
lượng sử dụng cũng không đúng, từ đó dẫn tói việc vi khuẩn kháng lại thuốc
kháng sinh ngày càng gia tăng.
Đặc biệt ở các vùng nông thôn Việt Nam nơi mà người dân còn nhận được
ít thông tin, đặc biệt là thông tin về sử dụng thuốc. Do đó họ sử dụng kháng
sinh càng không đúng, lạm dụng thuốc kháng sinh một cách quá độ mà họ lại
không biết là mình đang sử dụng thuốc kháng sinh một cách sai lầm.
Trước thực trạng đó để tìm hiểu một cách cụ thể tình hình sử dụng thuốc
kháng sinh ở vùng nông thôn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại một số xã,
thị trấn trong huyện Tiên Du- Bắc Ninh” nhằm các mục tiêu:
-Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng thuốc kháng sinh của người dân nơi đây.
-Tìm hiểu kiến thức của người dân về thuốc kháng sinh.
-Đưa ra một số kết luận
1

thuốc thế giới có 20.000 hoạt chất chữa bệnh với 100.000 sản phẩm thuốc. Xét
về mặt lợi nhuận, được xếp vào loại có lợi nhuận cao.
Trong thị trường thuốc hiện nay thuốc chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ 13%
[2]. Trong khi đó vấn đề điều trị các bệnh nhiễm khuẩn vẫn còn gặp rất nhiều
khó khăn[7].
Theo bác sỹ chuyên khoa nội bệnh viện truyền nhiễm A.Beucler, bệnh viện
trung tâm Juvissy-Sur.orge cộng hoà Pháp viết rằng: Trong bệnh học cộng
đồng, nếu nghiên cứu lại bệnh án hoặc các bản thống kê sử dụng kháng sinh
cho một bệnh nhất định thì thấy thuốc kháng sinh chưa được sử dụng đúng
mức
Những kháng sinh mới ra đời làm cho bác sỹ kê đơn những kháng sinh mới
đắt tiền mà xa rời việc sử dụng kháng sinh an toàn hợp lý [4].
Từ năm 1996 WHO đã cảnh báo về cuộc khủng hoảng nhiễm khuẩn trên
toàn cầu rằng “Chúng ta đang đứng trên bờ vực một cuộc khủng hoảng toàn
cầu về bệnh nhiễm khuẩn” [17].
Trong báo cáo về sức khoẻ toàn cầu năm 1996. Các bệnh nhiễm khuẩn làm
chết 17 triệu người mỗi năm . Nhiều bệnh nhiễm khuẩn như tả, sốt rét và lao
quay trở lại nhiều vùng trên thế giới. Trong khi đó thuốc kháng sinh và nhiều
thuốc khác nhanh chóng mất hiệu lực do tăng vi khuẩn kháng thuốc. Vi khuẩn
kháng kháng sinh chiếm tới 60% nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện ở Mỹ.
Nhiều chủng kháng thuốc trong lao, sốt rét, tả, ỉa chảy, viêm phổi đã gây tác
động lớn. Còn quá ít thuốc mới được triển khai để thay thế các thuốc đã mất
hiệu lực. Thuốc mới phải mất 10 năm mới có thể vào thị trường nhưng thời
gian hiệu lực lại ngắn ngủi. Báo cáo nêu một nguyên nhân chủ yếu của cuộc
khủng hoảng là tình hình sử dụng kháng sinh không kiểm soát, không hợp lý
trên toàn cầu, quá nhiều người dùng kháng sinh không đúng bệnh, không
3
đúng liều, không đúng thời gian. Mặt khác có những lượng lớn kháng sinh
được sử dụng trong chăn nuôi sản xuất thịt. Vì vậy vi khuẩn kháng thuốc đã
truyền từ chuỗi thực phẩm vào người tiêu dùng [17].

bệnh của Mỹ, một nửa trong số 133 triệu liều thuốc kháng sinh được sử dụng
hàng ngày bên ngoài bệnh viện là không cần thiết. Chúng được dùng trong các
nhiễm trùng virus, vốn không đáp ứng với thuốc kháng sinh. Cơ quan Quản
Lý Thuốc và Thực Phẩm Mỹ đã đề nghị dán lòi cảnh báo lên các lọ thuốc
kháng sinh, nhắc chỉ nên kê đơn khi thật cần thiết [31]. Theo một kết quả điều
tra gần đây, các bác sỹ Mỹ thường kê hơi “quá tay” các loại thuốc kháng sinh
phổ rộng cho các căn bệnh viêm nhiễm thông thường. Bác sỹ Michael
Steinman, người phụ trách cuộc điều tra này nói : “Sự lạm dụng thuốc kháng
sinh phổ rộng trong việc điều trị các bệnh thông thường có thể dẫn đến những
kết cục không hay. Vi khuẩn sẽ nhanh chóng nhờn thuốc” [32]. Bác sỹ
Steinman và các đồng nghiệp đã tiến hành thu thập dữ liệu trên 2000 trường
hợp. Họ phát hiện ra rất nhiều các bệnh nhân đã được kê các đơn thuốc có
thuốc kháng sinh phổ rộng trong khi họ chỉ mắc các chứng cảm lạnh thông
thường hoặc một số bệnh đường hô hấp thường”. Báo cáo của họ viết rõ:
“Thuốc kháng sinh thường được kê đơn cho khoảng 63% các trường hợp viêm
nhiễm đường hô hấp cấp tính, trong đó thuốc kháng sinh phổ rộng có mặt tới
54%” [32].
Đến cuối thế kỷ 20 việc chi phí cho nghiên cứu phát triển một thứ thuốc
mới trung bình là 500 triệu USD, với một thuốc kháng sinh bị kháng, để có
kháng sinh mới thì phải tốn rất nhiều tiền.
Các nhà khoa học cũng đã cảnh báo thế giới đang đứng trên bờ vực của
việc khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng do tình hình kháng kháng sinh của vi
khuẩn gia tăng. Tại một hội nghị quốc tế họp tại Luân Đôn 16/7/1996 các nhà
5
vi trùng học bàn về kháng thuốc của vi khuẩn. Tình hình đa kháng của vi
khuẩn gia tăng, nhiều bệnh nhân không còn đáp ứng với kháng sinh và chết do
không có thuốc có hiệu lực [17].
4. TÌNH HÌNH sử DỤNG KHÁNG SINH TẠI VIỆT NAM
Việt Nam là một nước mà bệnh nhiễm khuẩn vẫn xếp loại một trong các
nguyên nhân gây bệnh do đó việc dùng kháng sinh là không thể thiếu được.

doanh số bán ra của các doanh nghiệp dược. Tỷ lệ này trái ngược với các nước
tiên tiến [10]. Ngay từ 1994 một điều tra của Bộ Y Tế về việc sử dụng kháng
sinh của người tiêu dùng tại các cửa hàng thuốc Quốc doanh tại Hà Nội gồm
37 điểm bán thuốc cho thấy: thuốc kháng sinh được sử dụng rộng rãi chiếm
28%, có 18,4% người mua kháng sinh không theo đơn. Kể cả Cefotaxim, các
Floroquinolon cũng mua không đơn [15].
Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng kháng sinh trong bệnh viện được thống kê như
sau: nội trú sử dụng kháng sinh chiếm 77,1% so với tổng số, ngoại trú sử dụng
kháng sinh chiếm 59,9% so vói tổng số bệnh nhân, người bệnh tự mua kháng
sinh chiếm 41,1% so với tổng số người mua. Kháng sinh hiện nay mua dễ
dàng, người bệnh tự mua kháng sinh để điều trị mặc dù chưa đủ kiến thức để
sử dụng đúng loại, đúng thời gian, dẫn đến sự kháng thuốc của vi khuẩn [29].
Có tới 30% dùng liều thấp dưới 2 ngày. Ví dụ Gentamycin có tói 70% dùng
dưới 2 ngày kể cả điều trị ngoại trú và điều trị nội trú. Chỉ dùng kháng sinh 1
ngày: 43% với Chloramphenicol, 32% với Gentamycine, 26% với Ampicilin.
Hiện tượng sử dụng kháng sinh không hợp lý đang phổ biến trong cộng
đồng. Theo điều tra của đơn vị chăm sóc sức khoẻ ban đầu của Bộ Y Tế tại 9
tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Nam Hà, Vĩnh Phú, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ,
Long An cho thấy 34-37% dùng kháng sinh để điều trị cảm cúm, 78% dùng
cho bệnh đau đầu, đau dây thần kinh [21].
7
Tại Hà Nội trong một cuộc điều tra khi được hỏi: Theo ông (bà) kháng sinh
được dùng để chữa bệnh gì ?: thì có 34,5% số người được hỏi trả lời để chữa
bệnh nhiễm trùng, 20% không biết kháng sinh dùng để chữa bệnh gì, 9,8 trả
lời dùng để chữa ho, 2,4% chữa ỉa chảy, 8,4% để chữa sốt và 19% chữa đau
họng [5]. Việc không chấp hành đầy đủ qui chế kê đơn diễn ra thường xuyên
mặc dù ai cũng biết, cũng vi phạm mà không ai xử lý, điều này dẫn tới tình
trạng vi khuẩn kháng kháng sinh ngày càng gia tăng [10].
Trong những năm qua một số giải pháp nhằm đưa ra việc sử dụng kháng
sinh hợp lý được tiến hành. Nhiều Hội đồng thuốc và điều trị ở các bệnh viện

Theo báo cáo của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, tình hình kháng
thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp ở khu vực Đông Nam Á khá cao:
97% số chủng Shigella flexneri ở Hồng Kông đã kháng lại Tetracycllin, ở
Trung Quốc 91,3% kháng với Ampicilin còn ở Philipin là 81%. Đặc biệt
Klebseỉlla spp đã kháng lại Ampicilin ở tất cả các nước trong khu vực, cao
nhất là Hàn Quốc 98%, tiếp đó đến Malaysia 91,3%, thấp nhất là Nhật Bản
85%, ở Trung Quốc có 66% số chủng này kháng với Contrimoxazol, còn ở
Philipin là 54,8% [6]. Tại các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương
như Malaysia, Singapore tỷ lệ kháng Tetracyclin của lậu cầu năm 1996 là
7,4%, 1997 là 8,2% , 1998 là 84%, năm 1999- 2000 là 70% [9]
Trong 30 năm nay tỷ lệ bệnh Salmonella tăng mạnh ở Châu Âu và cả ở
nhiều nước tại khu vực Trung Đông và Đông Nam Á [18]
Trên thực tế tình hình kháng kháng sinh ngày càng trầm trọng hơn. Theo
báo cáo của đơn vị ASTS do GS Lê Đăng Hà (Giám đốc Bệnh Viện Y Học
Lâm Sàng Các Bệnh Nhiệt Đới) làm chủ nhiệm, trong 3 năm 99-2001 trong 16
loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp thì vi khuẩn nhiễm trùng chủ yếu là vi
khuẩn Gr(-) (64,9%). Trong số vi khuẩn Gr(-) E.coli chiếm tỷ lệ cao nhất
t
9
(22,4%). Mức độ kháng của E.coli cũng cao (trên 50% với 4 kháng sinh :
Ampicilin, Tetracyclin, Chloramphenicol, Co-trimoxazol) [10]
Ngày càng có nhiều bệnh nhân không còn đáp ứng với các kháng sinh đã
phải chết do không còn kháng sinh nào có hiệu lực. Các nhà y học và các nhà
sản xuất dược phẩm đang lo ngại về cuộc đời của các kháng sinh mới được
nghiên cứu thành công và tung ra thị trường ngày càng rút ngắn. Chính con
người bằng những sai lầm của mình đang tạo điều kiện cho vi khuẩn rèn luyện
khả năng thich nghi của chúng [23].
Theo nghiên cứu của Phạm Văn Ca, Nguyễn Thị Kim Hoàng, Nguyễn Lưu
Y và cộng sự. Tại một số điểm thuộc tỉnh Tây Ninh năm 2001 thì tỷ lệ kháng
thuốc của

các thuốc trên là 98%, ở miền Bắc là 8-10%. Đến 1996 tỷ lệ kháng của s.typhi
với cả 3 kháng sinh trên ở cả 3 miền đều là 90% [24].
Theo kết quả khảo sát của Cục Quản Lý Dược - Bộ Y Tế tháng 12/2001 thì
100% s.typhi kháng Ceftriaxon và Ceftazidim, Shigenlla kháng Gentamycin
97% [20].
Vi khuẩn kháng thuốc giờ đây càng trở thành một trong những kho khăn
lớn trong công tác y tế của bất kỳ nước nào trên phạm vi toàn thế giới. Đã đến
lúc không phải ở các nước đang phát triển, mà cả các nước đã triển, các thuốc
kháng khuẩn ngày càng mất hiệu lực chữa bệnh và trong nhiều trường hợp
thầy thuốc đã phải đối mặt với những thất bại chưa hề gặp phải trong những
năm trước đây [14].
Tỷ lệ vi khuẩn có khả năng đề kháng với thuốc kháng khuẩn ngày càng
tăng nhanh và các chuyên gia trong lĩnh vực này đã cảnh báo rằng trong
những năm tới tốc độ gia tăng các chủng vi khuẩn kháng thuốc không hề giảm
, chưa kể tới khả năng còn có thể có sự tăng tốc trong tương lai không xa.
Viễn cảnh sẽ là những vũ khí chúng ta đã có trong tay mất dần hiệu lực. Và
trong cuộc chiến đấu dai dẳng suốt nửa thế kỷ qua với các bệnh nhiễm khuẩn
11
con người rốt cuộc sẽ có thể trở thành kẻ chiến bại nếu chúng ta không có
thêm các vũ khí mới hay không có một chiến lược thích hợp để sử dụng các vũ
khí trong tay một cách hữu hiệu [14].
Không có một biên giới quốc gia nào có thể là bức tường rào ngăn chặn nổi sự
lan truyền của các vi khuẩn kháng thuốc.
Vi khuẩn kháng thuốc xâm nhập không những các cơ sở y tế, mà còn có mặt
rộng rãi trong cộng đồng và hệ quả là không chỉ các đối tượng có nhiều nguy
cơ nhiễm khuẩn như trẻ em, người cao tuổi, người bị bệnh mãn tính mà cả
các đối tượng khác được coi là ít nguy cơ cũng bị đe doạ.
Hơn nữa hiện nay vi khuẩn có khả năng kháng lại nhiều thuốc kháng sinh
cùng một lúc (thường gọi là đa đề kháng) đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn
không chỉ trong nhiễm khuẩn bệnh viện mà ngay cả trong nhiễm khuẩn cộng

-Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
-Địa điểm nghiên cứu:
+Thị trấn Lim và xã Phú Lâm thuộc huyện Tiên Du- Tỉnh Bắc Ninh.
2.ĐỐÌ tượng nghiên cứu
Những người dân mua thuốc kháng sinh ở các hiệu thuốc, điểm bán thuốc.
3.CỠ mẫu và phương pháp chọn mẫu
3.1 Cỡ mẫu
-áp dụng công thức sau:
p(l-p)
n=z (i-a/2)
d2
Trong đó:
• n là cỡ mẫu dùng cho nghiên cứu
• p là tỷ lệ ước tính dựa trên các nghiên cứu trước đó, hoặc là nghiên cứu thử
• d là khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ
của quần thể
• z {ì,ap) phụ thuộc hệ số tin cậy (1-a) và được tra trong bảng tính sẵn
Từ công thức trên ta tính ra cỡ mẫu như sau:
Trong quá trình nghiên cứu thử chúng tôi xác định được tỷ lệ người dùng
thuốc kháng sinh đúng theo nguyên tắc chiếm 15% trong số những người mua
thuốc kháng sinh ở hiệu thuốc
Do đó p = 0,15
Ta coi sai số là 5% nên d = 0,05.
Như vậy mức độ tin cậy là 95% nên tra bảng ta có z= 1,96
Thay vào công thức ta được
14
0,15(1-0,15)
n = 1,962.

-

1.1 Phân loại tuổi và giói tính của người mua thuốc kháng sinh
Bảng 1: Phân loại tuổi của người mua thuốc kháng sinh
Tuổi
Thị trấn Lim
Xã Phũ Lâm
Tần số
(n=150)
Tỷ
lệ(%)
Tần số
(n=100)
Tỷ
lệ(%)
/20-35
- 52
\
34,66 41
41,00
36-46 1 86
/
57,34
52 52,00
47-60
12
8,00 7 7,00
Bảng 2: Phân loại theo giới tính của người mua thuốc kháng sinh
Giới tính Thị trấn Lim
Xã Phú Lầm
Tần số
(n=150)

Trình độ văn hoá
Thị trấn Lim
Xã Phú Lâm
rpÀ1 /v'
Tán số
(n=150)
Tỷ
lệ(%)
Tần số
(n=100)
Tỷ lệ(%)
Cấp I
28
18,66 31 31,00
Cấp II
87
58,02 56
56,00
Cấp III
15
10,00
9
9,00
Cao đẳng,
Trung cấp
19
12,66 4
4,00
Đại học,
trên đại học

2,00
Nhận xét: Như vậy qua bảng trên ta thấy trình độ của người đi mua thuốc
kháng sinh có trình độ cấp 2 là chính. Trình độ văn hoá của người dân còn
chưa cao.
2. Phần khảo sát thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh
2.1 Thực trạng việc dùng thuốc kháng sinh theo đơn và không theo đơn
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn 250 người mua thuốc kháng sinh xem họ
mua theo đơn hay không theo đơn.
Kết quả thể hiện ở bảng:
Bảng 5: Thực trạng dùng thuốc kháng sinh theo đơn và không theo đơn
Cách mua
Thị trấn Lim
Xã Phú Lâm
Tần số
(n=150)
Tỷ
lệ(%)
Tần số
(n=100)
Tỷ
lệ(%)
Có đơn
31
20,67 12
12,00
Không đơn
119
79,33
88 88,00
Biểu đồ 1: Việc dùng thuốc kháng sinh theo đơn và không theo đơn

lệ(%)
Tần số
(n=100)
Tỷ
lệ(%)
Không cần kê đơn 79
52,66 69
69,00
Bắt buộc phải kê đơn
71
47,34
31 31,00
Biểu đồ 2: Tỷ lệ người mua thuốc kháng sinh thuộc danh mục thuốc phải kê
đơn và bán theo đơn
80
70
60
50
40
30
20
10
0
Tỷ lê(%)
69
52.66
, v

Không cần đơn
47.34

10 21
Tỷ
lệ(%)
35,22
64,78 32,25
67,75
Biểu đồ 3: Tỷ lệ người mua có đơn và không đơn đối với các thuốc kháng sinh
bắt buộc phải kê đơn
Tỷ lệ(%)
80
60
40
20
0
35.22
Theo đơn
64.78 6775
m m m
Không theo đơn
□ TTLim
■ Xã Phú Lâm
Thuốc phải kê đơn
20
Nhận xét:
Bảng trên cho thấy thuốc kháng sinh bắt buộc phải kê đơn được người dân
mua không đơn ở thị trấn Lim là 64,78%, ở xã Phú Lâm là (67,75%). Đây là
một thực trạng không tốt của vấn đề cung ứng và sử dụng. Người bán thuốc
sẵn sàng bán những thuốc kháng sinh trong danh mục phải kê đơn một cách
bừa bãi, chạy theo lợi nhuận làm ảnh hưởng tới việc sử dụng thuốc kháng sinh
đúng trong cộng đồng .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status