Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các đảng bộ xã, thị trấn trong huyện tiên lữ, tỉnh hưng yên giai đoạn 2015 2020 - Pdf 29

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Học viện chính trị khu vực I

ĐỀ ÁN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TRA,
GIÁM SÁT CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ
TRẤN TRONG HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH
HƯNG YÊN TRONG GIAI ĐOẠN 2015 - 2020
Người thực hiện: Vũ Kim Thành
Luận văn lý luận chính trị cao cấp

Hưng Yên, tháng 3 năm 2015
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU Trang
1 Lý do chọn Đề án 1
2 Giới hạn Đề án 2
B NỘI DUNG ĐỀ ÁN 3
1 Cơ sở xây dựng Đề án 3
1.1 Cơ sở khoa học 3
1.2 Cơ sở pháp lý 4
1.3 Cơ sở thực tiễn 5
2 Mục tiêu của Đề án 5
2.1 Mục tiêu tổng quát 5
2.2 Mục tiêu cụ thể 5
3 Nội dung thực hiện Đề án 6
3.1 Bối cảnh thực hiện Đề án 6
3.2 Đánh giá thực trạng chất lượng công tác kiểm tra, giám
sát của các đảng bộ xã, thị trấn huyện Tiên Lữ tỉnh
Hưng Yên
7

A - PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề án:
Công tác kiểm tra, giám sát có vị trí, vai trò rất quan trọng trong công tác
xây dựng Đảng; là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, đảm bảo cho
Đảng luôn trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng Cộng
sản Việt Nam là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo xã hội bằng Cương lĩnh, đường
lối, nghị quyết; bằng công tác tư tưởng, tổ chức; bằng vai trò tiền phong gương
mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên và bằng công tác kiểm tra, giám sát của
Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát bảo đảm cho Cương lĩnh, đường lối, nghị
quyết được chấp hành và thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. Đảng cộng sản Việt
Nam khẳng định: “Công tác kiểm tra, giám sát là một bộ phận quan trọng trong
toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là một khâu quan trọng của tổ chức thực
hiện”
1
; Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: kiểm tra là biện pháp hiệu nghiệm để khắc
phục bệnh quan liêu”
2

Thực tiễn thời gian qua nhiều tổ chức đảng chưa nhận thức được đầy đủ,
đúng đắn, chưa coi trọng và quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát. Báo cáo
chính trị tại Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ những hạn chế, yếu kém trong thực
hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng là: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng,
chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu,
tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm
trọng. Nhiều tổ chức cơ sở đảng thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực giải
quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh…Công tác tổ chức cán bộ còn nhiều mặt
1
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, 1982, tr 122
2
H Chí Minh: V xây d ng ng Nxb S th t, 1970, tr 133ồ ề ự Đả ự ậ

Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, khóa XI, Nxb CTQG, 2012, tr 25
- Thời gian: Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra của đảng bộ các xã, thị
trấn trong huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2010 - 2015 làm cơ sở định ra
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các đảng
bộ xã, thị trấn trong huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2015- 2020.
B- NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Căn cứ xây dựng đề án
1.1. Cơ sở khoa học:
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
*Công tác kiểm tra của Đảng
Công tác kiểm tra của Đảng là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá,
kết luận những ưu điểm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên trong việc
chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, qui định của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm bảo đảm cho các quyết định,
qui định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện nghiêm
túc, có kết quả, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây
dựng đảng.
Khái niệm trên cho thấy:
- Chủ thể kiểm tra là: tất cả các tổ chức đảng, bao gồm, chi bộ (chi bộ cơ
sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ bộ phận); đảng ủy bộ phận;
đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp; ủy ban kiểm tra, các ban
đảng, văn phòng cấp ủy.
- Đối tượng kiểm tra là: Các tổ chức đảng bao gồm: chi bộ (chi bộ cơ sở,
chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ bộ phận), đảng ủy bộ phận,
đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy các cấp; ủy ban
kiểm tra, các ban đảng, văn phòng cấp ủy; ban cán sự đảng, đảng đoàn; các tiểu
ban, hội đồng, tổ công tác do cấp ủy các cấp lập ra. Đảng viên, kể cả đảng viên là
cấp ủy viên, đảng viên giữ các cương vị lãnh đạo, quản lý của các tổ chức trong
hệ thống chính trị do cấp ủy quản lý.
- Nội dung kiểm tra là: việc thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ

uỷ và UBKT các cấp phải chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra và
tổ chức thực hiện công tác kiểm tra một cách thường xuyên, có chất lượng và
hiệu quả cao.
Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng thể hiện thông qua việc:
chọn đúng đối tượng kiểm tra, giám sát (khi có dấu hiệu vi phạm); chấp hành
đúng nguyên tắc, quy định trong quá trình kiểm tra; kết luận rõ ưu điểm, khuyết
điểm, đúng đắn, tính chất, mức độ nguyên nhân vi phạm (nếu có); xử lý kết luận
được công minh, chính xác, kịp thời; phổ biến giáo dục chung và giáo dục đảng
viên vi phạm được sâu sắc. Qua đó góp phần củng cố Đảng, nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.
Đối với Đảng Cộng sán Việt Nam, công tác kiểm tra, giám sát của các
đảng bộ xã, thị trấn, là một mắt xích quan trọng không thể thiếu trong việc thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng. Chất lượng công tác kiểm tra, giám
sát của đảng bộ xã, thị trấn góp phần hết sức quan trọng trong việc giữ vững nguyên
tắc lãnh đạo của Đảng, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý
Đề án được thực hiện trên cơ sở các văn bản quy định của Đảng về công
tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng:
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá X về
tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng (khoá XI) về
"Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay".
- Chỉ thị số 29- CT/TW, ngày 14/2/1998 của Bộ Chính trị khoá VIII về
tăng cường công tác kiểm tra của Đảng;
- Thông báo số 226-TB/TW ngày 03/3/2009 của Ban Bí thư Trung ương
về đổi mới nội dung tăng cường tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám
sát của Đảng.
- Quy định số 222-QĐ/TW, ngày 08/5/2009 của Ban Bí thư Trung ương

- Phân tích cơ sở lý luận, những quan niệm, quan điểm về công tác kiểm
tra, giám sát của Đảng.
- Nghiên cứu thực trạng công tác kiểm tra, giám sát của các đảng bộ xã,
thị trấn huyện tiên lữ, tỉnh Hưng Yên thời gian qua, trên cơ sở đó rút ra nguyên
nhân và bài học kinh nghiệm.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cơ bản nhằm tiếp tục nâng cao chất
lượng công tác kiểm tra, giám sát của các đảng bộ xã, thị trấn trong thời gian tới.
- Làm cho tất cả các đảng bộ xã, thị trấn nhận thức sâu sắc hơn nữa ý
nghĩa, tấm quan trọng về công tác kiểm tra, giám sát. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
và tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, góp phần nâng cao
năng lực lãnh đạo của đảng bộ xã, thị trấn, xây dựng tổ chức đảng trong sạch
vững mạnh.
- Phấn đấu 95% trở lên các đảng ủy xã, thị trấn trong Huyện xây dựng và
hoàn thành kế hoạch KT, GS đã xây dựng toàn khóa và kế hoạch kiểm tra, giám
sát hàng năm.
- 100% các chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, thị trấn hàng năm xây dựng được
chương trình kế hoạch kiểm tra, giám sát đảm bảo chất lượng.
- Hạn chế đơn thư tố cáo; giảm tỉ lệ tổ chức đảng và đảng viên vi phạm
phải kỷ luật đảng.
- Về công tác cán bộ: Phấn đấu 100% các đồng chí ủy viên UBKT đảng ủy
hàng năm được tập huấn nghiệp vụ kiểm tra, giám sát và đến năm 2019 đều có
trình độ Trung cấp lý luận chính trị.
3- Nội dung thực hiện của đề án
3.1 Bối cảnh thực hiện đề án:
Đề án được xây dựng trong điều kiện toàn Đảng, toàn dân kết thúc nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2010 - 2015) theo tinh thần Đại hội Đảng
các cấp đề ra; Toàn Đảng triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Bộ Chính trị, Ban Bí thư, UBKT Trung
ương ban hành nhiều văn bản, quyết định, quy định, hướng dẫn về thi hành Điều
lệ Đảng, về công tác kiểm tra, giám sát và THKL trong Đảng và tiếp tục thực

hiện nhiệm vụ này được một số năm nhất định, tuy nhiên lại không phải là công
chức xã nên việc tập trung cho công việc, việc chủ động học tập nâng cao trình
độ còn rất hạn chế; đối với 3 đồng chí ủy viên do phó các đoàn thể kiêm nhiệm
về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận còn rất nhiều bất cập, nếu không được
đào tạo, bồi dưỡng khó có khả năng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Những điều kiện trên đã tác động trực tiếp đến hoạt động công tác kiểm
tra, giám sát của các đảng bộ xã, thị trấn huyện Tiên nữ, tỉnh Hưng Yên nói
chung và hoạt động công tác kiểm tra của các đảng bộ xã, thị trấn nói riêng.
3.2 Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát của các đảng bộ xã, thị trấn
huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên trong thời gian qua:
3.2.1- Khái quát một số nét về các đảng bộ xã, thị trấn huyện Tiên Lữ
tỉnh Hưng Yên.
- Về tình hình tổ chức đảng và đảng viên trong các đảng bộ xã, thị trấn
Huyện Tiên Lữ có 14 đảng bộ xã và 01 đảng bộ thị trấn, với tổng số 4176
đảng viên và 152 chi bộ trực thuộc. Ban chấp hành đảng bộ các xã, thị trấn có
khoảng 11- 15 ủy viên; Ban thường vụ đảng ủy gồm từ 3 - 5 đồng chí.
Những năm đầu nhiệm kỳ 2010-2015, Ủy ban kiểm tra đảng ủy các xã, thị
trấn gồm 5 đồng chí , trong đó đồng chí chủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ,
thường trực đảng ủy hoặc đồng chí phó bí thư thường trực đảng ủy là chủ nhiệm;
01 đồng chí phó chủ nhiệm chuyên trách không thuộc chức danh cán bộ công
chức xã mà được hưởng phụ cấp với mức phụ cấp là 1,2 còn 3 đồng chí ủy viên
UBKT hầu hết là đảng ủy viên và là trưởng các đoàn thể. Từ năm 2014, thực
hiện Nghị quyết số 11/2013/NQ- HDND ngày 31/7/2013 của HĐND Tỉnh về
việc quy định chức danh, số lượng và mức phụ cấp đối với những người hoạt
động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, khu phố theo nghị định số 29/2013/NĐ-
CP ngày 08/4/2013 của Chính phủ, Ủy ban Kiểm tra đảng ủy gồm 5 ủy viên cụ
thể: đồng chí Chủ nhiệm UBKT do đồng chí thường vụ Đảng ủy, Phó chủ tịch
HĐND xã kiêm; đồng chí phó chủ nhiệm chuyên trách vẫn giữ nguyên như trước
đây; các đồng chí ủy viên UBKT do các đồng chí phó các đoàn thể của xã kiêm.
3.2.2 Tình hình hoạt động và kết quả công tác kiểm tra, giám sát của các

hội của cấp mình; kiểm tra việc quản lý đất đai, thu- chi tài chính ở địa phương;
kiểm tra việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
(Số liệu như bảng số 1.3)
*Ưu điểm:
Nhìn chung các cuộc kiểm tra của Đảng ủy đều xây dựng được kế hoạch
và tổ chức thực hiện các cuộc kiểm tra tương đối đảm bảo về thời gian, tiến độ
theo kế hoạch; các cuộc kiểm tra đều do các đồng chí Thường vụ Đảng ủy làm
trưởng đoàn, nội dung các cuộc kiểm tra đã bám sát vào kế hoạch đã xây dựng
và nhiệm vụ chính trị của từng năm.
* Hạn chế:
Một số Đảng ủy xây dựng chương trình và tiến hành các cuộc kiểm tra
còn mang tính hình thức, nội dung kiểm tra dàn trải, chưa xuất phát từ yêu cầu,
nhiệm vụ chính trị của địa phương để lựa chọn nội dung kiểm tra, có cuộc kiểm
tra chưa đảm bảo theo quy trình, việc kiểm tra đảng viên thuộc đảng ủy quản lý
còn hạn chế, do vậy 100% các cuộc kiểm tra theo Điều 30 ĐLĐ không phát hiện
được tổ chức đảng và đảng viên nào vi phạm phải THKL mà chỉ phát hiện được
một số tổ chức Đảng và đảng viên còn có thiếu sót, khuyết điểm cần phải kiểm
điểm nghiêm túc rút kinh nghiệm. Đây là biểu hiện của việc chạy đua theo số
lượng để đạt được chỉ tiêu thi đua mà chưa hướng tới chất lượng công tác kiểm
tra .
- Việc thực hiện nhiệm vụ giám sát:
+ Giám sát thường xuyên: Đảng uỷ các xã, Thị Trấn phân công các đ/c uỷ
viên BTV, uỷ viên BCH phụ trách địa bàn, đơn vị, ngành để thực hiện nhiệm vụ
giám sát thường xuyên đối với tổ chức Đảng, cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ thuộc
diện cấp mình quản lý. Các đ/c được phân công đã chủ động thực hiện nhiệm vụ
giám sát, nắm bắt thông tin qua nhiều kênh để phản ánh với Thường trực, BTV
Đảng ủy để có biện pháp chỉ đạo góp phần ngăn ngừa những vi phạm xảy ra.
+ Giám sát chuyên đề: Sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần
thứ XI của Đảng và các quy định, hướng dẫn của UBKT Trung ương về thực hiện
công tác giám sát trong Đảng. Từ năm 2010 đến 2014 Đảng uỷ các xã, Thị Trấn

là 130 ( chiếm 73,4%). Qua kiểm tra kết luận có vi phạm là 122 đảng viên chiếm
68,8% số đảng viên được kiểm tra; phải THKL là 67 đ/c chiếm 37,8% so với số
đảng viên vi phạm.
Nội dung vi phạm chủ yếu là: chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ,
đoàn kết nội bộ, thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ
được giao, quản lý và sử dụng đất đai, cố ý làm trái các quy định của Nhà nước,
vi phạm nguyên tắc quản lý tài chính….
- Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm:
Từ 2010 - 2014 UBKT Đảng uỷ các xã, thị Trấn kiểm tra được 63 tổ
chức. Qua kiểm tra kết luận số tổ chức đảng có vi phạm là 41 (chiếm 65 %);
không có tổ chức đảng nào vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật.
Nội dung vi phạm chủ yếu về: Thi hành Điều lệ Đảng, chấp hành NQ, CT của
Đảng, pháp luật của Nhà nước; ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết ở cấp
mình.
(Số liệu tại bảng số 3.3; 4.3)
* Ưu điểm: UBKT Đảng ủy đã xác định kiểm tra đảng viên và tổ chức
đảng cấp dưới khi có DHVP là nhiệm vụ trọng tâm của UBKT. Do đó UBKT
Đảng uỷ tập trung khảo sát, nắm bắt tình hình ở những vấn đề bức xúc, nổi cộm
có nhiều nguy cơ dẫn đến vi phạm như: việc quản lý, sử dụng đất đai, tài chính;
việc thực hiện nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; việc thực hiện chức trách
nhiệm vụ được giao để xây dựng kế hoạch kiểm tra.
Các cuộc kiểm tra cơ bản đảm bảo đúng quy trình, qua kiểm tra tổ chức
đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm đã kết luận cụ thể rõ ràng có vi phạm
hay không vi phạm; vi phạm đến mức phải THKL thì đã THKL theo đúng quy
định Điều lệ Đảng do đó có tác dụng hạn chế, ngăn ngừa vi phạm.
* Hạn chế:
+ Nhận thức một số cấp uỷ và UBKT cơ sở về kiểm tra đảng viên và tổ
chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm chưa đầy đủ. Nhiệm vụ kiểm tra tổ
chức đảng và đảng viên khi có DHVP là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, vì vậy có
Đảng ủy còn né tránh, thiếu kiên quyết. Có UBKT thực hiện quy trình kiểm tra

* Ưu điểm:
Qua kiểm tra tổ chức Đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra cho
thấy: Đa số UBKT nhận thức được vai trò, vị trí của công tác kiểm tra nên đã
chủ động có kế hoạch, chương trình công tác kiểm tra ngay từ đầu năm. Hầu hết
các cuộc kiểm tra đảm bảo quy trình, thời gian.
- Việc THKL của các tổ chức Đảng được kiểm tra cơ bản thực hiện đúng
quy trình, bảo đảm phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục, góp phần
giữ nghiêm kỷ luật của Đảng, có tác dụng giáo dục tốt.
* Hạn chế:
- Một số UBKT Đảng ủy khi xây dựng chương trình kiểm tra còn lúng
túng khi xác định mục đích, yêu cầu, nội dung kiểm tra. Do vậy có đơn vị xây
dựng nội dung kiểm tra còn nhầm sang nhiệm vụ khác không đúng với hướng
dẫn của UBKT Trung ương.
- Việc kiểm tra THKL: Hầu hết các UBKT Đảng ủy chưa tập trung kiểm
tra những tổ chức đảng có nhiều đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật,
vì nội dung này phức tạp khó thực hiện dễ va trạm. Mà chỉ tập trung kiểm tra
những tổ chức đảng có đảng viên đã bị tra thi hành kỷ luật
- Việc lưu trữ hồ sơ các cuộc kiểm tra của một số đơn vị chưa đầy đủ,
thiếu khoa học, chưa đúng với hướng dẫn, quy định của UBKT Trung ương.
- UBKT thực hiên nhiệm vụ giám sát TCD và đảng viên
+ Giám sát thường xuyên:UBKT Đảng uỷ các xã, Thị Trấn phân công các
đ/c uỷ viên UBKT phụ trách địa bàn, đơn vị, ngành để thực hiện nhiệm vụ giám
sát thường xuyên đối với tổ chức Đảng, cán bộ thuộc diện cấp ủy mình quản lý.
Các đ/c được phân công đã chủ động thực hiện nhiệm vụ giám sát, nắm bắt
thông tin qua nhiều kênh, để phản ánh với UBKTĐảng ủy .
+ Giám sát chuyên đề: Sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần
thứ XI của Đảng và các quy định, hướng dẫn của UBKT Trung ương về thực hiện
công tác giám sát trong Đảng. Từ năm 2010 đến 2014 UBKT Đảng uỷ các xã, Thị
Trấn giám sát 167 tổ chức đảng và 210 đảng viên
thuộc diện Đảng uỷ quản lý.

hành giám sát Ban chi ủy chi bộ là chưa đúng quy định.
- Thi hành kỷ luật trong Đảng:
Từ năm 2010-2014 Đảng ủy các xã, Thị Trấn luôn nhận thức sâu sắc việc
THKL là một nhiệm vụ của tổ chức đảng, làm tốt nhiệm vụ này sẽ tăng cường sự
đoàn kết, thống nhất trong đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của Đảng, đồng thời có tác dụng ngăn ngừa vi phạm, củng cố lòng tin của quần
chúng nhân dân với Đảng để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị của địa
phương. Đảng ủy các xã, Thị Trấn đã lãnh đạo các tổ chức đảng và UBKT Đảng
ủy tham mưu giúp cấp ủy thực hiện nhiệm vụ THKL đảng viên theo phương
châm “Lấy giáo dục làm trọng và THKL là cần thiết”. Trong nhiệm kỳ qua số
tổ chức đảng bị THKL là: 2 tổ chức (trong đó khiển trách 2)). Đảng uỷ cơ sở ra
quyết định kỷ luật 2 tổ chức Đảng bằng hình thức khiển trách .
Nội dung vi phạm: việc ra Nghị quyết trái với quy định của pháp luật; việc
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.
Tổng số đảng viên phải THKL là 69; . Trong đó cấp uỷ viên bị THKL 28.
Số đảng viên bị THKL bằng các hình thức: khiển trách 56; cảnh cáo 13; Nội
dung vi phạm: chủ yếu chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước; quản lý và sử dụng đất đai, thiếu trách nhiệm, đoàn kết nội bộ, vi
phạm chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình ( sinh con thứ 3).
* Ưu điểm:
-Việc THKL tổ chức đảng và đảng viên vi phạm trong Đảng đã đạt được
mục đích, cơ bản thực hiện đúng quy trình, đảm bảo phương hướng, phương
châm, nguyên tắc, thủ tục; xử lý kỷ luật đúng thẩm quyền góp phần giữ nghiêm
kỷ luật Đảng nên đã có tác dụng thiết thực đối với phong trào của từng địa
phương.
- Về phương châm THKL: các tổ chức đảng đã quán triệt sâu sắc quan
điểm của Đảng là lấy giáo dục làm trọng và việc THKL là cần thiết, đồng thời
phải xử lý đúng người, đúng khuyết điểm vi phạm và kịp thời.
- Về nguyên tắc, thủ tục cơ bản thực hiện đầy đủ đúng quy định của Điều
lệ Đảng, quy trình hướng dẫn của UBKT Trung ương.

đai, quản lý tài chính, thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ
được giao.
*Hạn chế: việc giải quyết tố cáo của UBKT Đảng ủy các xã, Thị Trấn còn bộc
lộ một số tồn tại, hạn chế sau:
Thư nhất: việc tiếp nhận, nghiên cứu tóm tắt đơn để phân loại, xử lý, chuyển
đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc xây dựng kế hoạch giải quyết còn chậm
chưa đúng với thời gian quy định của Đảng về giải quyết tố cáo gây bức xúc cho người
đi tố cáo.
Thứ hai: Khi có đơn thuộc thẩm quyền phải giải quyết việc thực hiện quy trình
giải quyết đơn, việc hướng dẫn cho người bị tố cáo viết báo cáo giải trình còn lúng
túng. Công tác thẩm tra, xác minh còn hạn chế do vậy có những cuộc giải quyết tố
cáo kéo dài dẫn đến trong 5 năm qua số cuộc giải quyết tố cáo không đúng thời gian
quy định là 03 cuôc chiếm 13% trên tổng số đon phải giải quyết.
Thư ba: Công tác phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết
những đon có liên quan đến nhiều lĩnh vực còn rất nhiều hạn chế, nên đã bị ảnh hưởng
nhiều đến chất lượng và tiến độ giải quyết gây bức xúc trong nhân dân đặc biết là
người có đon tố cáo. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến có đơn vượt
cấp làm mất ổn định tình hình tại địa phương.
- Giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng của đảng viên
Từ 2010 – 2014 Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy không nhận được đơn khiếu nại
kỷ luật đảng nào.
- kiểm tra tài chính Đảng
Từ năm 2010-2014 UBKT đảng ủy chỉ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra việc thu,
nộp, quản lý và sử dụng đảng phí, không tổ chức kiểm tra được cuộc nào về kiểm tra
tài chính đảng cùng cấp. Tổng số kiểm tra được 312 tổ chức với 8549 đảng viên về
thu, nộp, quản lý và sử dụng đảng phí .
Qua kiểm tra việc thu, nộp, quản lý và sử dụng đảng phí cho thấy ý thức
chấp hành nộp đảng phí của đảng viên tương đối tốt theo đúng quy định. Đa số
các tổ chức Đảng việc thu nộp sử dụng đảng phí đảm bảo theo quy định của
Đảng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status