1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kiểm tra là một chức năng cơ bản, quan trọng của quá trình quản lý,
đó là công việc hoạt động mà người quản lý ở bất kỳ cấp nào, cương vị
nào cũng phải thực hiện để biết rõ những mục tiêu, kế hoạch đề ra thực tế
đã đạt được đến đâu và như thế nào. Từ đó tìm ra những biện pháp động
viên, giúp đỡ, uốn nắn kịp thời nhằm đạt mục tiêu đã định.
Chức năng kiểm tra không chỉ đơn thuần là chức năng cuối cùng
trong một quá trình quản lý, mà còn là tiền đề cho một quá trình quản lý
tiếp theo.
Kiểm tra nội bộ trường học là một chức năng đích thực của quản lý
trường học, là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý đảm bảo
tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên, kịp thời giúp người quản lý hình
thành cơ chế điều chỉnh hướng đích trong quá trình quản lý nhà trường.
Thực chất của quản lý là xử lý thông tin, thông tin là nguyên liệu
của quản lý, chất lượng và hiệu quả của thông tin quyết định chất lượng
và hiệu quả của quản lý. Người quản lý tài năng trước hết và quan trọng
nhất phải biết tổ chức tốt công tác thông tin cho chính mình. Muốn có
thông tin chính xác, kịp thời thì biện pháp quan trọng nhất là phải tiến
hành kiểm tra.
Kiểm tra nội bộ trường học là một biện pháp trong hoạt động quản
lý trường học, là công cụ sắc bén tăng cường hiệu lực quản lý trường học,
góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục- đào tạo.
Kiểm tra nội bộ trường học là biểu hiện phẩm chất của người quản
lý chống bệnh quan liêu.
Tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng Hồ chí Minh, chúng ta thấy Người
rất quan tâm đến việc kiểm tra nội bộ trường học. Chủ tịch Hồ Chí Minh
3
giáo dục giai đoạn 2001 - 2010 đã nêu rõ bảy nhóm giải pháp chủ yếu,
trong đó đổi mới công tác quản lý được coi là khâu đột phá: “Đổi mới
quản lý giáo dục. Đổi mới về cơ bản phương thức quản lý giáo dục theo
hướng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phân cấp mạnh mẽ nhằm phát
huy tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các địa phương, của các cơ
sở giáo dục, giải quyết một cách có hiệu quả các vấn đề bức xúc, ngăn
chặn và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực hiện nay”.(Nguồn: Chiến lược
phát triển giáo dục 2001 – 2010. NXB Giáo dục, trang 23).
Chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục THPT phụ thuộc rất lớn
vào công tác quản lý giáo dục, đặc biệt là vào trình độ nghiệp vụ quản lý
của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Trình độ nghiệp vụ quản lý giáo dục
của cán bộ quản lý giáo dục thể hiện ở việc thực hiện thành thạo hay
không các chức năng quản lý trên các mặt xây dựng kế hoạch, tổ chức
thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá thực hiện nội dung chương trình
sách giáo khoa mới ở THPT.
Nhà trường là tế bào của nền giáo dục quốc dân, đổi mới quản lý
nhà trường góp phần đổi mới quản lý giáo dục nói chung. Trong đó đổi
mới kiểm tra nội bộ trường học là một yêu cầu bức thiết nhằm góp phần
đổi mới quản lý nhà trường, đổi mới sự nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu cầu
phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của đất nước.
Thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ trường học ở các trường phổ
thông của Huyện Tháp Mười, Tỉnh Đồng Tháp hiện nay còn nhiều tồn tại,
hạn chế, đặc biệt theo yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay.
Đổi mới hoạt động kiểm tra, tìm ra các giải pháp để khắc phục tồn
tại, yếu kém trong hoạt động kiểm tra nội bộ trường học là một yêu cầu
bức thiết nhằm góp phần đổi mới công tác quản lý nhà trường, quản lý
5
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
ở các trường trung học phổ thông của huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
5.3 Đề xuất một số biện pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
các trường trung học phổ thông ở Huyện Tháp Mười, Tỉnh Đồng Tháp.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu liên
quan đến quản lý giáo dục như: luật giáo dục, điều lệ trường phổ thông,
nghiệp vụ quản lý, nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra, tâm lý học quản lý, giáo
dục học, xã hội học giáo dục, kinh tế học giáo dục, khoa học quản lý giáo
dục, lý thuyết hệ thống ... và các thông tư, quy chế, quy định, hướng dẫn
có liên quan đến hoạt động quản lý giáo dục của các cấp có thẩm quyền.
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát; phương
pháp điều tra; phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; phương pháp phỏng
vấn… nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng và xây dựng cơ sở thực tiễn cho
việc đề xuất các biện pháp.
6.3 Phương pháp thống kê: Phương pháp thống kê toán học để xử lý
kết quả.
7. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kiểm
tra nội bộ trường học.
- Về mặt thực tiễn: Xây dựng một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học, góp phần đổi
mới quản lý nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong sự
nghiệp đổi mới toàn diện như hiện nay.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý ở
dựng đất nước đã xác định vị trí quan trọng của công tác kiểm tra nội bộ,
vì thế ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh
tra đặc biệt của Chính phủ, có nhiệm vụ là đi giám sát tất cả các công việc
và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ.
Các nhà khoa học quản lý ở trong nước cũng như trên thế giới đều
xác định thanh tra, kiểm tra là một trong các chức năng của quản lý (Kế
hoạch hóa, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra, thanh tra). Thuật ngữ thanh tra,
kiểm tra và hoạt động thanh tra, kiểm tra ngày càng được các nhà khoa
học nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện dần làm phong phú và sâu sắc bản
chất của nó, xem đó là một chuyên ngành cần được tiếp tục nghiên cứu
làm sáng rõ cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn.
Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý giáo dục,
qua kinh nghiệm của nước ta và các nước có nền giáo dục phát triển, phải
xây dựng tổ chức thanh tra giáo dục (TTGD) vững mạnh và nâng cao chất
8
lượng hoạt động, coi thanh tra là hoạt động thiết yếu của cơ quan quản lý
nhà nước.
Sự hình thành tổ chức và hoạt động TTGD nước ta dựa trên những chế
định về TTGD của Đảng và Nhà nước:
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, mặc dù đất nước còn bận
rộn trăm công nghìn việc, nhưng ngày 08/9/1945, Chính phủ lâm thời Việt
Nam dân chủ cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 16/SL thành lập cơ quan Thanh
tra học vụ để “Kiểm soát việc học theo đúng chương trình giáo dục của
Chính phủ”. Để phù hợp với thực tiễn đổi mới đất nước, ngày 01/4/1990,
Hội đồng nhà nước (HĐNN) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã ban hành Pháp lệnh thanh tra, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng về
luận cũng như trong thực tiễn QLGD, QL nhà trường.
Về QL nhà trường, các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ,
Đặng Quốc Bảo đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt
động dạy-học, từ đó chỉ ra một số biện pháp QL nhà trường. Một trong số
các biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của hệ QL đi
đúng mục tiêu, kế hoạch là các biện pháp kiểm tra, thanh tra, đánh giá kết
quả công việc trong từng giai đoạn nhất định.
Tác giả Hà Sỹ Hồ (1985) trong cuốn “Những bài giảng về quản lý
trường học” tập hai- NXB Giáo dục đã cho rằng: “Chức năng kiểm tra đặc
biệt quan trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp
thời về thực trạng của đối tượng QL, về việc thực hiện các quyết định đã
đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các
phân hệ QL và phân hệ được QL…”. Ông khẳng định “QL mà không
kiểm tra thì QL sẽ ít hiệu quả và trở thành QL quan liêu”. Tác giả Nguyễn
Ngọc Quang (1989) trong cuốn “Những khái niệm cơ bản về QLGD” cho
rằng: Quá trình QL diễn ra qua năm giai đoạn: “Chuẩn bị kế hoạch hóa
(KHH), KHH, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra; trong đó, kiểm tra là giai
10
đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý. Kiểm tra giúp cho việc
chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo. Kiểm tra tốt, đánh giá được
sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường) thì đến kỳ kế
hoạch (năm học) tiếp theo việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận
lợi, kế thừa được mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện được lệch lạc
để uốn nắn loại trừ”. Tác giả kết luận: “theo lý thuyết Xibecnetic, kiểm tra
giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình QL. Nó giúp cho chủ thể QL
điều khiển một cách tối ưu hệ QL. Không có kiểm tra, không có QL” [25,
73]. Tác giả Đặng Quốc Bảo (1998) trong “Những vấn đề cơ bản về
Mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông : Giáo dục trung học phổ
thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo
dục trung học cơ sở hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu
biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy
năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học,
cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động (Điều
27 Luật Giáo dục năm 2005 trang 21-22). Cụ thể là : “ đào tạo để phát
triển nhân cách hài hoà ở học sinh, có thế giới quan khoa học, lý
tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa, có lòng yêu nước và tinh thần quốc
tế chân chính, có lòng nhân ái, có ý thức trách nhiệm với gia đình,
sống và làm việc theo pháp luật, có học vấn phổ thông, kỹ thuật tổng
hợp, có kỹ năng lao động và tâm thế sẵn sàng lao động, có sức khoẻ,
có thị hiếu lành mạnh và ham học hỏi, biết cách tự học, tự rèn luyện
nhằm phát triển năng lực và sở trường cá nhân để bước vào cuộc sống
tự lập của người lao động sáng tạo”.
Như vậy, nội dung giáo dục của trường trung học phổ thông mang
tính chất toàn diện và coi trọng phát huy sở trường, năng khiếu cá nhân.
Kết thúc cấp trung học phổ thông, học sinh có thể đi tiếp vào các trường
12
đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề hoặc trực tiếp đi
vào lao động sản xuất. Cho nên trường trung học phổ thông không chỉ là
nơi đào tạo nguồn cho các trường sau trung học mà còn đáp ứng nhu cầu
đa dạng của việc sử dụng học sinh sau khi tốt nghiệp phục vụ các mục
tiêu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của cả nước và từng địa phương.
1.2.2. Khái niệm về kiểm tra nội bộ trong trường học
Là một dạng hoạt động quản lý của người hiệu trưởng nhằm điều
tra, theo dõi, xem xét, kiểm soát, phát hiện, kiểm nghiệm sự diễn biến và
tra của các bộ phận và mọi thành viên trong nhà trường mà mình quản lý.
Người hiệu trưởng có kinh nghiệm thường biết kiểm tra đúng người, đúng
việc, đúng lúc, đúng chỗ. Xác định rõ ai, bộ phận nào thì kiểm tra thường
xuyên; ai, bộ phận nào thì kiểm tra thưa thớt hơn và thậm chí có người, bộ
phận không cần kiểm tra, vì họ luôn hoàn thành nhiệm vụ một cách tự
giác không cần có sự thúc đẩy nào. Đồng thời hiệu trưởng cũng xác định
rõ nên kiểm tra vào lúc nào: nếu sớm quá thì không có gì để kiểm tra,
nhưng nếu muộn quá mới kiểm tra thì nếu có sai sót rồi, lúc đó rất khó
sửa và làm lại.
1.2.3. Chất lượng và chất lượng kiểm tra nội bộ
1.2.3.1. Khái niệm về chất lượng
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa như sau: "Chất lượng là
phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó
là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với các sự việc
khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, chất lư ợng biểu hiện
ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là liên kết các thuộc tính lại làm một,
gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không thể
tách rời sự vật. Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất
chất lượng của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật
về căn bản. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định
14
về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi một
sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của chất lượng và số lượng" ...
Hiểu theo nghĩa thông dụng, chất lượng là cái tạo nên phẩm chất,
giá trị của một người, một sự vật, sự việc. Đó là tổng thể những thuộc
tính cơ bản, khẳng định sự tồn tại của một sự vật và phân biệt nó với
những sự vật khác. Nói đến số lượng, là nói đến số lượng của một chất
hành để từng bước nâng cao được chất lương công tác kiểm tra nội bộ.
(Theo tự điển Tiếng viết). Vậy biện pháp nâng cao chất lượng kiểm tra
nội bộ trường học là những cách thức tác động hướng vào việc tạo ra
những biến đổi về chất lượng của công tác kiểm tra.
1.3. Một số vấn đề về công tác kiểm tra nội bộ ở các trường trung
học phổ thông hiện nay
1.3.1.Vị trí, vai trò, chức năng của kiểm tra nội bộ trong trường học
Kiểm tra nội bộ trường học là một chức năng đích thực của quản lý
trường học, là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý nhà
trường, đảm bảo tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên kịp thời giúp
người quản lý (Hiệu trưởng) hình thành cơ chế điều chỉnh hướng đích
trong quá trình quản lý.
Trong chu trình quản lý, hoạt động kiểm tra được xếp vào vị trí thứ tư
sau các khâu: kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo.Tuy nhiên hoạt động kiểm tra lại
là tiền đề cho một chu trình quản lý mới.
Kế hoạch
Kiểm tra
TTQL
Tổ chức
Chỉ đạo
Hình1: sơ đồ vị trí của kiểm tra trong chu trình quản lý
16
PP
KQ
GV
HS
CSVC-TBDH
Hình2: Sơ đồ hệ thống sư phạm nhà trường
(M: mục tiêu; N: nội dung; P: phương pháp; GV: giáo viên; HS: học sinh;
CSVC-TBDH: cơ sở vật chất - thiết bị dạy học; KQ: kết quả;
: mối
quan hệ).
1.3.2.2. Nội dung KTNB `
Hiệu trưởng có trách nhiệm kiểm tra toàn bộ công việc, hoạt động, mối
quan hệ, kết quả của toàn bộ quá trình dạy học, giáo dục và những điều kiện
phương tiện của nó không loại trừ mặt nào. Song trên thực tế, kiểm tra nội bộ
trường học cần tập trung vào các nội dung chính không tách rời nhau mà liên
quan chặt chẽ với nhau sau đây:
a. Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục và phổ
cập giáo dục
- Thực hiên chỉ tiêu về số lượng học sinh từng khối lớp và toàn
trường: Duy trì sĩ số, tỷ lệ học sinh bỏ học, lên lớp, lưu ban….
- Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch về số lượng, chất lượng phổ cập giáo
18
c. Kiểm tra việc xây dựng đội ngũ
- Kiểm tra hoạt động của các tổ, nhóm chuyên môn:
+ Kiểm tra công tác quản lý của tổ trưởng.
+ Kiểm tra hồ sơ của tổ: kế hoạch của tổ, các loại sổ sách, sổ biên
bản, sáng kiến kinh nghiệm.
+ Nề nếp sinh hoạt tổ, chế độ dự giờ, thăm lớp, thao giảng.
+ Sử dụng phân công giáo viên, nhân viên, công tác bồi dưỡng về
chuyên môn nghiệp vụ và tự bồi dưỡng của các thành viên trong tổ, nhóm
chuyên môn.
+ Việc thực hiện quy chế chuyên môn.
+ Vấn đề thực hiện các chế độ chính sách, và chăm lo cải thiện đời
sống giáo viên.
- Kiểm tra giáo viên:
+ Kiểm tra về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống:
* Nhận thức tư tưởng, chính trị.
* Chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước.
* Việc chấp hành quy chế của ngành, quy định của cơ quan, đơn vị,
đảm bảo số lượng ngày, giờ công lao động.
* Đạo đức, nhân cách, lối sống, ý thức đấu tranh chống các biểu hiện
tiêu cực, sự tín nhiệm trong đồng nghiệp, phụ huynh, học sinh, nhân dân.
* Tinh thần đoàn kết, tính trung thực trong công tác, quan hệ đồng
nghiệp, thái độ phục vụ nhân dân và học sinh.
* Tinh thần học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay
nghề, ý thức trách nhiệm thực hiện quy chế chuyên môn.
+ Kiểm tra về kết quả giảng dạy: Việc cho điểm kiểm tra hoặc kết
quả đánh giá môn học của học sinh từ đầu năm đến thời điểm kiểm tra;
khảo sát của cán bộ kiểm tra.
21
hoạch giáo dục lao động, hướng nghiệp, dạy nghề) cho cả năm, từng
tháng, từng tuần.
Hiệu trưởng tự kiểm tra - đánh giá công tác kế hoạch của mình bao
gồm: Thu thập, xử lý thông tin, xác định mục tiêu, phân hạng ưu tiên, tìm
phương án, giải pháp thực hiện mục tiêu, soạn thảo, thông qua và truyền
đạt kế hoạch.
- Công tác tổ chức - nhân sự: Hiệu trưởng tự kiểm tra - đánh giá về:
xây dựng, sử dụng bộ máy, quy định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và
sự phối hợp, quan hệ từng bộ phận, cá nhân, lựa chọn, phân công cán bộ,
giáo viên, cung cấp kịp thời những điều kiện, phương tiện cần thiết, khai
thác tiềm năng của tập thể sư phạm và cá nhân cho việc thực hiện kế
hoạch đã đề ra.
- Công tác chỉ đạo: Hiệu trưởng tự kiểm tra, đánh giá về các mặt:
nắm quyền chỉ huy, hướng dẫn cách làm, điều hoà phối hợp (can thiệp khi
cần thiết), kích thích động viên, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên… trong hoạt
động chỉ đạo các công tác cụ thể trong trường như :
+ Chỉ đạo dạy học và giáo dục trong và ngoài lớp, công tác lao động
hướng nghiệp, dạy nghề…
+ Chỉ đạo công tác hành chính, quản trị trong trường:
* Công tác văn thư, hành chính, giáo vụ trong trường.
* Hồ sơ, sổ sách trong nhà trường, lớp học, giáo viên và học sinh.
* Các chế độ công tác, sinh hoạt định kỳ của hiệu trưởng, hiệu phó, các
tổ, nhóm, khối chuyên môn, hội đồng giáo dục, hội phụ huynh học sinh…
* Thời khoá biểu, lịch công tác hàng tuần, hàng tháng của trường…
+ Chỉ đạo thi đua điểm và chỉ đạo xây dựng điển hình.
+ Chỉ đạo việc thực hiện dân chủ hoá quản lý trường học: Thực hiện
công khai về quản lý tài sản, tài chính, vốn tự có, tuyển sinh, lên lớp, tốt
động khác, không gây xáo trộn.
23
1.3.3.3. Nguyên tắc tính khách quan:
Cơ sở khoa học của nguyên tắc tính khách quan là thái độ trung
thực trong
kiểm tra. Người kiểm tra phải tôn trọng sự thật, khách quan trong kiểm
soát, đánh giá và xử lý. Phải thực sự dân chủ, công khai và công bằng
trong kiểm tra.
1.3.3.4. Nguyên tắc tính giáo dục:
Bản chất của giáo dục là nhân văn. Cơ sở khoa học của nguyên
tắc giáo dục là lòng nhân ái, kiểm tra nội bộ trường học là để hiểu biết
công việc, hiểu biết và giúp đỡ con người, kiểm tra phải mang tính
thiện chí, tính giáo dục bộc lộ ở mục đích, nội dung, phương pháp
kiểm tra. Bảo đảm tốt nguyên tắc giáo dục sẽ biến quá trình kiểm tra
thành quá trình tự kiểm tra.
1.3.3.5. Nguyên tắc tính hiệu quả:
Cơ sở khoa học của nguyên tắc tính hiệu quả là hiệu suất lao động
và lợi ích kinh tế trong kiểm tra. Kiểm tra không dẫn đến tốn kém, kiểm
tra để giải quyết thoả đáng các mâu thuẩn, kiểm tra để thúc đẩy các mặt
tốt, hạn chế các mặt tiêu cực.
Các nguyên tắc trên có liên quan, bổ sung, hỗ trợ cho nhau.Tuỳ
từng mục đích, đối tượng, nội dung và tình huống kiểm tra cụ thể mà hiệu
trưởng sử dụng các nguyên tắc hoặc sự phối hợp tối ưu giữa chúng một
cách linh hoạt và sáng tạo.
1.3.4. Hình thức kiểm tra nội bộ trường học
Có nhiều hình thức kiểm tra, người hiệu trưởng có thể lựa chọn để
kiểm tra đúng với mục đích quản lý của mình. Hình thức kiểm tra phải
hiệu trưởng cần sử dụng các phương pháp bổ trợ sau làm điều kiện,
phương tiện thực hiện. Đó là các phương pháp: Quan sát, đàm thoại, phiếu
25
điều tra chất lượng kiến thức học sinh (nói, viết, thực hành); phân tích,
tổng hợp tài liệu, hồ sơ và đối chiếu với thực tế; tham gia các hoạt động
giáo dục cụ thể…
1.3.5.2. Cách thứ 2 gồm các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp kiểm tra hoạt động giảng dạy của giáo viên
+ Dự giờ (có lựa chọn, theo đề tài, song song nghiên cứu phối hợp
một số lớp, dự có mục đích và mời các chuyên gia cùng dự … )
+ Xem xét, kiểm tra các tài liệu khác nhau: sổ sách, hồ sơ cá nhân
(giáo án, kế hoạch cá nhân, lịch báo giảng, sổ điểm…)
+ Đàm thoại với giáo viên (về thực hiện chương trình, phương pháp
giảng dạy, sự chuyên cần và tiến bộ của học sinh…)
- Phương pháp kiểm tra chất lượng kiến thức, kỹ năng của học sinh.
+ Kiểm tra nói, viết, thực hành.
+ Nghiên cứu và phân tích vở học sinh.
+ Kiểm tra kỹ năng học sinh trong việc làm bài tập, thí nghiệm thực
hành, lao động hướng nghiệp và học nghề.
- Phương pháp kiểm tra quá trình giáo dục học sinh trong các giờ lên
lớp. Khi dự giờ hiệu trưởng cần định hướng nhận xét về:
+ Phương hướng tư tưởng của bài giảng, các biện pháp hình thành thế
giới quan khoa học, tình cảm, lý tưởng, đạo đức, ý thức lao động… cho
học sinh.
+ Phân tích các câu trả lời, các bài văn, lời phát biểu, báo cáo trong
học tập và hoạt động ngoại khoá, các đợt thi học sinh giỏi …
+ Cách thức tổ chức lớp học nhằm tạo điều kiện để học sinh được