ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI
“Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra,
giám sát trên địa bàn tỉnh Cà Mau”
- Họ và tên: Phạm Minh Quang
- Chức vụ: Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy,
Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy
- Đơn vị công tác: Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà
Mau
Cà Mau, ngày 22 tháng 12 năm 2013
A- PHẦN MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài
Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là khi
trở thành Đảng cầm quyền, Đảng ta luôn coi trọng công tác kiểm tra, giám sát.
Nhờ đó, Đảng được xây dựng ngày càng vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu cao, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Thực tiễn hoạt động Đảng ta đã khẳng định kiểm tra, giám sát là chức năng lãnh
đạo của Đảng; lãnh đạo phải có kiểm tra, giám sát; lãnh đạo mà không kiểm tra,
giám sát thì coi như không có lãnh đạo. Kiểm tra, giám sát là một trong những
chức năng lãnh đạo của Đảng, là một bộ phận quan trọng trong công tác xây
dựng Đảng.
Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo,
đang phát triển mạnh mẽ và đi vào chiều sâu, đặt ra cho Đảng ta và đội ngũ đảng
viên những đòi hỏi và yêu cầu mới. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và mở rộng, xuất hiện nhiều thời cơ và thuận
lợi, nhưng cũng có không ít khó khăn và thách thức. Trước yêu cầu đặt ra, đòi
hỏi công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải được đổi mới và tăng cường hơn.
Những năm qua, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trên địa bàn tỉnh đã
có chuyển biến rõ rệt, đạt được những thành tích quan trọng, góp phần tích cực
vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Tuy
nhiên, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trên địa bàn tỉnh Cà Mau vẫn còn
3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài được nghiên cứu trong quá trình lãnh đạo hoạt động thực hiện
nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp trong
tỉnh giai đoạn 2010 – 2013 và việc nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám
sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp trong tỉnh từ nay đến năm 2020.
4- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Đề tài dựa trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị
quyết về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng làm phương pháp luận cơ bản.
- Đề tài vận dụng các phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, sử
dụng phương pháp nắm tình hình, phân tích, tổng hợp… rút ra những vấn đề cần
nghiên cứu.
5- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài, sẽ góp phần làm rõ yêu cầu khách quan
và tính đặc thù về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; làm rõ thực trạng và
giải pháp công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp.
- Hy vọng rằng, những điều đó sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao
năng lực lãnh đạo và thực hiện có hiệu quả hơn công tác kiểm tra, giám sát của
Đảng ở tỉnh Cà Mau, trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
6- Kết cấu nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kiến nghị, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của đề tài gồm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
Phần 2: Thực trạng về công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm
tra các cấp trong tỉnh Cà Mau hiện nay.
Phần 3: Đề xuất giải pháp chủ yếu, nhằm nâng cao chất lượng lãnh đạo và
tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các
cấp trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời kỳ mới.
3
B- NỘI DUNG
Phần I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
xây dựng đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, việc tổ chức thực
hiện và bố trí cán bộ mà lãnh đạo còn là kiểm tra, không những kiểm tra việc
thực hiện Cương lĩnh chính trị, đường lối, chính sách đó mà kiểm tra cả các tổ
chức tiến hành kiểm tra nhằm đảm bảo đường lối, chính sách được xác định
đúng, được quán triệt và thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. Đó là vấn đề có tính
4
nguyên tắc, vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là trách nhiệm, nội dung, phương
pháp, quy trình lãnh đạo của Đảng.
- Điều lệ Đảng được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
thông qua đã tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí công tác kiểm tra, giám của Đảng
và nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng, trước hết là của các cấp uỷ
được quy định tại Điều 30, Điều lệ Đảng: “ Các cấp uỷ đảng lãnh đạo công tác
kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức
đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết,
chỉ thị của Đảng”. Xác định rõ mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, căn cứ, điều kiện
nhằm đảm bảo thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
- Theo quy định của Điều lệ Đảng, quy định, hướng dẫn của Trung ương
Đảng, quy chế làm việc của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp. Ủy ban kiểm tra các
cấp có trách nhiệm, quyền hạn thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra được quy định tại
Điều 32, Điều lệ Đảng. Đồng thời có trách nhiệm cùng với các ban đảng tham
mưu giúp cấp ủy xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch
kiểm tra, tổ chức lực lượng thực hiện, hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra để giúp cấp
ủy trực tiếp tiến hành kiểm tra (theo Điều 30, Điều lệ Đảng). Chủ trì hoặc phối
hợp với các ban đảng để kiểm tra theo sự phân công của cấp ủy, đồng thời giúp
cấp ủy kết luận các cuộc kiểm tra, tổ chức sơ kết, tổng kết công tác kiểm tra, giám
sát của cấp ủy.
- Kiểm tra, giám sát là nhu cầu không thể thiếu đối với tổ chức đảng và
đảng viên. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta đang đứng trước thời cơ
và thách thức mới. Trong bối cảnh đó, công tác kiểm tra càng có vị trí và tầm
quan trọng đặc biệt. Tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra của Đảng, ngày 29
của địa phương.
- Trên cơ sở lý luận và qua thực tiễn cho thấy, chất lượng công tác kiểm
tra, giám sát của Đảng ở Đảng bộ tỉnh Cà Mau có thể căn cứ vào những yếu tố,
như: Về mặt nhận thức, thái độ của các cấp ủy đảng, ủy ban kiểm tra và đội ngũ
cán bộ kiểm tra; sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp; cách tổ chức kiểm
tra; nội dung, đối tượng và phương pháp kiểm tra; các quy trình, quyết định, quy
định, cơ chế kiểm tra và xử lý kết quả sau kết luận kiểm tra; chất lượng đội ngũ
cán bộ kiểm tra; tổ chức bộ máy của cơ quan ủy ban kiểm tra; sự phối hợp giữa
ủy ban kiểm tra với các tổ chức đảng và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong
công tác kiểm tra, giám sát; sự hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra của ủy ban kiểm tra,
cấp trên; môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, chất lượng và ý thức
chấp hành thực hiện của các tổ chức đảng trực thuộc và đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong Đảng bộ
Nhìn chung, thời gian qua có sự chuyển biến tích cực về tư tưởng, nhận
thức và hành động trong Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của
Đảng, trước hết là trong cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, nhà
nước, đoàn thể chính trị - xã hội các cấp từng bước hoàn thiện quan điểm, nội dung,
phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong tình
hình mới.
Có thể nói, trải qua hơn 65 năm xây dựng và trưởng thành, đội ngũ cán bộ
kiểm tra nói chung, đội ngủ cán bộ ủy ban kiểm tra các cấp trong tỉnh Cà Mau
ngày càng đông về số lượng và cao hơn về chất lượng. Tuy vậy, trước yêu cầu
nhiệm vụ của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong công cuộc đổi mới
đất nước xây dựng đội ngũ cán bộ ủy ban kiểm tra các cấp là nhiệm vụ cần thiết
và mang tính chiến lược của ngành kiểm tra Đảng.
Phần II: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU, TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
1- Khái quát đặc điểm tình hình
6
+ Công tác kiểm tra
Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp đã tiến hành kiểm tra tổ chức đảng
và đảng viên theo chương trình, kế hoạch của cấp mình, tập trung kiểm tra chủ
yếu vào việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng; chính
sách, pháp luật của Nhà nước; quy chế làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ,
đoàn kết nội bộ; công tác cán bộ; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; giải quyết
khiếu nại, tố cáo; xây dựng nông thôn mới.
Kiểm tra 815 tổ chức đảng (08 ban thường vụ huyện ủy; 02 ban cán sự đảng,
đảng đoàn; 193 đảng ủy cơ sở; 612 chi bộ); trong đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy kiểm
tra 11 tổ chức; ban thường vụ huyện ủy và tương đương kiểm tra 249 tổ chức; các
cơ quan tham mưu của cấp ủy huyện và tương đương kiểm tra 25 tổ chức; đảng
ủy cơ sở kiểm tra 530 tổ chức. Qua kiểm tra, kết luận: Có 688 tổ chức thực hiện
7
tốt nội dung kiểm tra, chiếm 84,4%; 127 tổ chức thực hiện chưa tốt nội dung
kiểm tra, chiếm 15,6%; trong đó, 94 tổ chức có khuyết điểm, vi phạm, chiếm
74,02%, nhưng chưa đến mức phải thi hành kỷ luật, đề nghị rút kinh nghiệm.
Kiểm tra 2063 đảng viên, có 420 cấp ủy viên (03 Tỉnh ủy viên; 80 huyện
ủy viên và tương đương; 91 đảng ủy viên, 246 chi ủy viên cơ sở; trong đó, Ban
Thường vụ Tỉnh ủy kiểm tra 10 đảng viên; ban thường vụ huyện ủy và tương
đương kiểm tra 145 đảng viên; các cơ quan tham mưu của cấp ủy huyện và tương
đương kiểm tra 15 đảng viên; đảng ủy cơ sở kiểm tra 1409 đảng viên; chi bộ kiểm
tra 484 đảng viên. Qua kiểm tra, kết luận: Có 2027 đảng viên thực hiện tốt nội
dung kiểm tra, chiếm 98,25%; 36 đảng viên thực hiện chưa tốt nội dung kiểm
tra, chiếm 1,75%; trong số thực hiện chưa tốt nội dung kiểm tra, 30 đảng viên có
khuyết điểm, vi phạm, chiếm 83,33%; phải thi hành kỷ luật 10 đảng viên, chiếm
33,33%; đã thi hành kỷ luật.
+ Công tác giám sát
Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp đã chủ động chỉ đạo, tiến hành thực
hiện nhiệm vụ giám sát thường xuyên và chuyên đề đối với tổ chức đảng và
đảng viên, chủ yếu tập trung giám sát việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy
viên vi phạm, chiếm 75,38%; phải thi hành kỷ luật 191 đảng viên, chiếm 63,67%;
đã thi hành kỷ luật 123 đảng viên, chiếm 64,40%.
Nội dung kiểm tra: Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ; giữ gìn
phẩm chất đạo đức, lối sống; đoàn kết nội bộ; những điều đảng viên không được
làm; chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình; tham nhũng, cố ý làm trái; thiếu
trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo; đất đai; tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây
dựng cơ bản
+ Kiểm tra tổ chức đảng
UBKT các cấp kiểm tra 53 tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm (01
đảng đoàn, 01 ban thường vụ huyện ủy, 13 đảng ủy cơ sở, 38 chi bộ); trong đó,
UBKT Tỉnh ủy kiểm tra 08 tổ chức; UBKT huyện ủy và tương đương kiểm tra 20 tổ
chức, UBKT đảng ủy cơ sở kiểm tra 25 tổ chức. Qua kiểm tra, kết luận: Có 41 tổ
chức đảng vi phạm, chiếm 77,36%, nhưng chưa đến mức phải thi hành kỷ luật, đề
nghị rút kinh nghiệm và nghiêm túc rút kinh nghiệm.
Nội dung kiểm tra: Việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận
của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; quy chế làm việc, nguyên tắc tập
trung dân chủ, đoàn kết nội bộ; công tác cán bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo
Công tác kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp và tổ chức đảng
cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm được UBKT các cấp trong tỉnh thực hiện
nghiêm túc, chủ động nắm tình hình, phát hiện dấu hiệu vi phạm; việc kiểm tra
thực hiện đúng quy trình, quy định của Đảng; qua kiểm tra, chỉ ra những ưu điểm,
khuyết điểm giúp cấp ủy kịp thời chấn chỉnh hoạt động của tổ chức đảng và đảng
viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
- Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát
và kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng
+ Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát
UBKT các cấp kiểm tra 598 tổ chức đảng cấp dưới (09 ban thường vụ
huyện ủy; 12 UBKT huyện ủy; 84 đảng ủy, 34 UBKT đảng ủy cơ sở; 459 chi bộ);
trong đó, UBKT Tỉnh ủy kiểm tra 31 tổ chức, UBKT huyện ủy và tương đương
kiểm tra 225 tổ chức; UBKT đảng ủy cơ sở kiểm tra 352 tổ chức. Qua kiểm tra,
UBKT các cấp giám sát 23 đảng viên, có 17 cấp ủy viên (04 huyện ủy
viên, 13 đảng ủy viên cơ sở); trong đó, UBKT huyện ủy và tương đương giám
sát 17 đảng viên; UBKT đảng ủy cơ sở giám sát 06 đảng viên. Kết quả giám sát:
Có 15 đảng viên thực hiện tốt nội dung giám sát, chiếm 65,22%; 08 đảng viên
thực hiện chưa tốt nội dung giám sát, chiếm 34,78.
Nội dung giám sát: Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết của cấp ủy
về công tác xây dựng Đảng; phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội.
2.3.2- Giám sát chuyên đề
- Giám sát tổ chức đảng:
UBKT các cấp giám sát 484 tổ chức đảng (06 ban cán sự đảng, đảng đoàn,
13 ban thường vụ huyện ủy, 78 đảng ủy cơ sở, 387 chi bộ); trong đó, UBKT
Tỉnh ủy giám sát 36 tổ chức, UBKT huyện ủy và tương đương giám sát 97 tổ
chức; UBKT đảng ủy cơ sở giám sát 347 tổ chức. Kết quả giám sát: Có 479 tổ
chức thực hiện tốt nội dung giám sát, chiếm 98,97%; 05 tổ chức có dấu hiệu vi
phạm, chiếm 1,03%, phải chuyển sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.
10
Nội dung giám sát: Việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế,
kết luận của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; quy chế làm việc, nguyên
tắc tập trung dân chủ, đoàn kết nội bộ; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xây
dựng nông thôn mới
- Giám sát đảng viên:
UBKT các cấp giám sát 515 đảng viên, có 192 cấp ủy viên (09 Tỉnh ủy viên;
28 huyện ủy viên và tương đương; 48 đảng ủy viên, 107 chi ủy viên cơ sở); trong
đó, UBKT Tỉnh ủy giám sát 44 đảng viên, UBKT huyện ủy và tương đương giám
sát 95 đảng viên, UBKT đảng ủy cơ sở giám sát 370 đảng viên, chi bộ giám sát 06
đảng viên. Kết quả giám sát: Có 507 đảng viên thực hiện tốt nội dung giám sát,
chiếm 98,45%; 08 đảng viên có dấu hiệu vi phạm, chiếm 1,55%, phải chuyển
sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm 06 trường hợp, chiếm 75%.
Nội dung giám sát: Việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế,
kết luận của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; quy chế làm việc, nguyên
Nội dung vi phạm: Nguyên tắc tập trung dân chủ; phẩm chất đạo đức, lối
sống; những điều đảng viên không được làm; tham nhũng, cố ý làm trái; thiếu
trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo; đất đai; tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây
dựng cơ bản; bỏ công tác, bỏ sinh hoạt đảng
Cấp ủy, UBKT các cấp thực hiện thi hành kỷ luật đảng viên cơ bản đúng
phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục và thẩm quyền; sau khi bị kỷ
luật đa số đảng viên đã nhận thức được hành vi vi phạm, đồng tình với hình thức
kỷ luật, chấp hành nghiêm túc quyết định kỷ luật, có biện pháp khắc phục, sửa
chữa khuyết điểm, vi phạm khá tốt.
- Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên
+ Giải quyết tố cáo tổ chức đảng
Tổng số tổ chức đảng bị tố cáo phải giải quyết 06 tổ chức; trong đó, UBKT
Tỉnh ủy giải quyết 04 trường hợp, UBKT huyện ủy giải quyết 02 trường hợp. Qua
giải quyết, kết luận: Tố sai 01 trường hợp, chiếm 16,67%; tố đúng và đúng một
phần 05 trường hợp, chiếm 83,33% so với số giải quyết; trong đó, tố đúng có vi
phạm 01 trường hợp, chiếm 20%, nhưng chưa đến mức phải thi hành kỷ luật, đề
nghị rút kinh nghiệm.
Nội dung tố cáo: Việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận
của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; quy chế làm việc, nguyên tắc tập
trung dân chủ, đoàn kết nội bộ; bao che cán bộ.
+ Giải quyết tố cáo đảng viên
Tổng số 211 đảng viên bị tố cáo phải giải quyết, có 126 cấp ủy viên (01
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, 04 Tỉnh ủy viên; 31 huyện ủy viên và tương
đương; 55 đảng ủy viên, 35 chi ủy viên cơ sở); trong đó, UBKT Tỉnh ủy giải
quyết 13 trường hợp, UBKT huyện ủy và tương đương giải quyết 87 trường
hợp, UBKT đảng ủy cơ sở giải quyết 111 trường hợp. Qua giải quyết, kết luận:
Chưa có cơ sở kết luận 35 trường hợp, chiếm 16,59%; tố sai 44 trường hợp,
chiếm 20,85%; tố đúng và đúng một phần 132 trường hợp, chiếm 62,56%; trong
đó, tố đúng có vi phạm 87 trường hợp, chiếm 65,91%; phải thi hành kỷ luật 49
trường hợp, chiếm 56,32% so với số có vi phạm, đã thi hành kỷ luật.
xây dựng cơ bản, sửa chữa, mua sắm tài sản
+Kiểm tra việc thu, nộp, quản lý và sử dụng đảng phí
UBKT các cấp kiểm tra 800 tổ chức đảng (03 ban thường vụ huyện ủy,
142 đảng ủy cơ sở, 655 chi bộ); trong đó, UBKT Tỉnh ủy kiểm tra 03 tổ chức,
UBKT huyện ủy và tương đương kiểm tra 318 tổ chức, UBKT đảng ủy cơ sở
kiểm tra 479 tổ chức. Qua kiểm tra, kết luận: Có 248 tổ chức vi phạm, chiếm 31%;
số tiền vi phạm 12,457 triệu đồng; đề nghị xuất toán thu hồi 9,237 triệu đồng;
giao đơn vị xử lý 3,220 triệu đồng.
Qua kiểm tra việc thu, chi ngân sách; thu, nộp, quản lý và sử dụng đảng
phí, đã giúp các tổ chức đảng được kiểm tra phát huy ưu điểm và khắc phục
khuyết điểm, có biện pháp chấn chỉnh đi vào nền nếp; bảo đảm công tác tài chính
phục vụ thiết thực, có hiệu quả cho hoạt động của Đảng.
2.1.2- Hạn chế, tồn tại:
- Còn một số cấp ủy nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng
của công tác kiểm tra, giám sát của đảng; lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác
kiểm tra, giám sát còn những hạn chế.
- Một vài tổ chức đảng chưa thật sự quan tâm đến công tác kiểm tra, giám
sát của Đảng, nhất là khâu tự kiểm tra, giám sát. Công tác tuyên truyền, giáo dục,
13
kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên từng lúc thiếu thường xuyên, chưa chặt chẽ
dẫn đến còn một số cán bộ, đảng viên vi phạm.
- Ủy ban kiểm tra các cấp từng lúc, từng nơi chưa làm tốt vai trò tham
mưu giúp cấp ủy, nhiệm vụ do cấp ủy giao. Trong thực hiện nhiệm vụ đôi lúc
còn bị động, hiệu quả chưa cao.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp, nhất là cán bộ kiểm tra
chuyên trách còn thiếu, một bộ phận yếu về trình độ, năng lực, biện pháp khắc
phục còn chậm.
2.2- Về thuận lợi và khó khăn
a- Thuận lợi :
- Trung ương đã kịp thời ban hành và triển khai các nghị quyết, quy định,
xuyên lãnh đạo, chỉ đạo các ban đảng và cấp ủy cấp dưới trong triển khai thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng.
- Một số UBKT từng lúc thiếu chủ động tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm
tra, giám sát và nhiệm vụ tham mưu giúp cấp ủy. Công tác nắm tình hình, phát
hiện dấu hiệu vi phạm có lúc còn bị động, chưa kịp thời.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra cơ sở còn kiêm nhiệm nhiều việc,
trình độ năng lực còn hạn chế; chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình
hình hiện nay.
- Việc chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ kiểm tra từ cấp huyện và
tương đương trở lên để đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ kiểm tra các cấp
chưa đáp ứng yêu cầu.
Phần III : ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU, NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU, TRONG THỜI KỲ MỚI
1- Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5
(khóa X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; cấp ủy, UBKT các
cấp trong tỉnh nắm vững quan điểm của Đảng “kiểm tra, giám sát là nội dung
quan trọng trong quá trình lãnh đạo của Đảng, là chức năng lãnh đạo, nhiệm vụ
thường xuyên của toàn Đảng. Trước hết là nhiệm vụ của cấp ủy và người đứng
đầu cấp ủy, do cấp ủy trực tiếp tiến hành”. Đặc biệt trong tình hình hiện nay,
tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên đang làm
giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Do vậy, các cấp ủy, trước hết là người
đứng đầu cấp ủy cần nhận thức thật đầy đủ, chủ động và trực tiếp triển khai,
thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ về công tác kiểm tra, giám sát.
2- Đổi mới và tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác kiểm tra, giám
sát của các cấp ủy; đổi mới hoạt động của công tác kiểm tra, giám sát sao cho phù
hợp, hiệu quả. Trước mắt tiếp tục tập trung triển khai, quán triệt Điều lệ Đảng,
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, các quy định của Trung
ương, của cấp ủy cấp trên và cấp mình về công tác kiểm tra, giám sát đến các tổ
chức đảng, đảng viên trong đảng bộ; xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương
kiểm tra, giám sát của Đảng. Các tổ chức đảng, đảng viên phải nhận thức đầy
đủ, đúng đắn mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với dân, khi nhân dân thực hiện
được vai trò giám sát, tham gia góp ý xây dựng Đảng thì tạo nên mối quan hệ
gần gũi, gắn bó hơn giữa nhân dân với cán bộ, đảng viên; cần phát huy mạnh mẽ
vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội vào việc xây dựng
các chủ trương, chính sách, nghị quyết, nhất là những giải pháp chống suy thoái
về đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời kiên quyết đấu
tranh và xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên hoặc tổ chức đảng, cơ quan, đơn
vị có hành vi cản trở hay đối phó với sự giám sát, phản ánh của nhân dân đối với
những sai phạm của tổ chức đảng và đảng viên.
6- Tăng cường cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt làm
công tác kiểm tra, giám sát; đầu tư xây dựng bố trí nơi làm việc đảm bảo; kinh
phí, phương tiện hoạt động, mua sắm trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ
cho công tác, nhất là ở xã, phường, thị trấn, nhằm đáp ứng tốt việc thực hiện
nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát trong tình hình hiện nay.
7- Tăng cường cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt làm
công tác kiểm tra, giám sát; đầu tư xây dựng bố trí nơi làm việc đảm bảo; kinh
phí, phương tiện hoạt động, mua sắm trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ
cho công tác, nhất là ở xã, phường, thị trấn, nhằm đáp ứng tốt việc thực hiện
nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát trong tình hình hiện nay.
C- KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
16
1- Đề xuất, kiến nghị
- Đối với Trung ương:
+ Ủy ban Kiểm tra Trung ương, phối hợp với Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh mở lớp đạo tạo cán bộ chuyên ngành kiểm tra hệ
chính quy tại Học viện về số lượng lớp và số lượng học viên nhiều hơn; đồng
thời hổ trợ cho tỉnh mở lớp đào tạo cán bộ chuyên ngành kiểm tra hệ vừa học,
vừa làm tại tỉnh, nhằm tăng cường nhân lực, đáp ứng yêu cầu công tác kiểm tra,
giám sát.
- Đối với tỉnh:
+ Tăng thêm biên chế cho UBKT cấp huyện; vì Chương trình công tác
17
kiểm tra, giám sát của cấp ủy và UBKT huyện ủy hằng năm đều tăng hơn năm
trước, nhưng cán bộ kiểm tra lại ít. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả
thực hiện nhiệm vụ của Ngành Kiểm tra.
+ Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện làm việc cho
công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là cấp huyện và cơ sở.
+ Chỉ đạo UBKT cấp huyện tham mưu cho cấp ủy đào tạo cán bộ có
nghiệp vụ tài chính ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, để thực hiện công tác kiểm
tra tài chính đảng có hiệu quả hơn.
2- Kết luận:
- Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta đã khẳng định: Kiểm tra,
giám sát là chức năng Lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo mà không kiểm tra, giám
sát thì coi như không lãnh đạo; vì vậy, quan điểm xuyên suốt và nhất quán của
Đảng ta, công tác kiểm tra, giám sát là tất yếu khách quan, là yêu cầu không thể
thiếu đối với hoạt động của Đảng, từ đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, vị trí,
vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
- Công tác kiểm tra, giám sát rất có tác dụng trong việc nhắc nhở, phòng
ngừa khuyết điểm vi phạm từ rất sớm, từ khi mới manh nha, nhằm đảm bảo cho
chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định của Đảng, của
các cấp ủy được chấp hành nghiêm chỉnh và tổ chức thực hiện có hiệu quả cao
trong thực tiễn. Công tác kiểm tra, giám sát là một trong những biện pháp hữu
hiệu góp phần bảo đảm tính đúng đắn về đường lối lãnh đạo của Đảng, là một
giải pháp tốt nhất để phòng ngừa, ngăn chặn những sai lầm, lệch lạc, khuyết
điểm vi phạm của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần tích cực
trong công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
- Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy đảng và ủy ban kiểm tra các cấp
trong tỉnh Cà Mau đã và đang là mối quan tâm của Đảng bộ và Ủy ban kiểm tra
các cấp trong tỉnh. Do đó các cấp ủy đảng phải tăng cường thường xuyên tổ
ương về thi hành Điều lệ Đảng khóa XI.
5- Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung
ương ban hành Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát
và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI.
6- Tài liệu nghiệp vụ dùng cho cấp trên cơ sở của Ủy ban Kiểm tra Trung
ương, Nxb tài chính, Hà Nội, 2011.
7- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XIV, ngày
30/10/2010.
8- Báo cáo số 113-BC/TU, ngày 18/6/2011 của Tỉnh ủy Cà Mau Sơ kết 03
năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về tăng cường công tác kiểm
tra, giám sát của Đảng.
9- Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát từ năm 2010 đến năm
2013 của Ủy ban Kiểm tra tỉnh ủy Cà Mau.
Xác nhận của Chủ tịch Người viết đề tài
Hội đồng sáng kiến Cơ quan
19
Trần Thanh Trí Phạm Minh Quang
20