Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội nhân dân việt nam hiện nay - Pdf 39

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận
án là trung thực có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phạm Quang Thanh


3

MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CHẤT
LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA
CÁC ĐẢNG ỦY HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1.1.
Đảng uỷ học viện, trường sĩ quan và công tác kiểm tra, giám
sát của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân
dân Việt Nam
1.2.
Những vấn đề cơ bản về chất lượng công tác kiểm tra, giám
sát của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân
dân Việt Nam

31
31
57

73
73
101

115
115
126
165
167


4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

168
182

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT
1
2
3
4


Trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu khoa học, nghiên cứu
sinh đã dành nhiều trí tuệ, công sức nghiên cứu về công tác KT, GS của
Đảng, chất lượng công tác KT, GS ở các đảng bộ học viện, trường sĩ quan
quân đội. Do đó, đề tài “Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các
đảng ủy học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” thể
hiện sự đầu tư công sức,trí tuệ nghiên cứu của tác giả.
Luận án tập trung nghiên cứu, luận giải những vấn đề cơ bản về công
tác KT, GS và chất lượng công tác KT, GS của các đảng ủy học viên, trường
sĩ quan; những yếu tố quy định chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng công
tác KT, GS của các đảng ủy học viên, trường sĩ quan; đánh giá đúng thực
trạng, chỉ rõ nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm, rút ra một số
kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng công tác KT,
GS của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án


6
Kiểm tra, giám sát là nội dung thuộc chức năng lãnh đạo và là nhiệm
vụ thường xuyên của Đảng; là sinh hoạt nội bộ Đảng, góp phần xây dựng
Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tổng kết quá trình lãnh
đạo cách mạng và công tác xây dựng Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
V của Đảng (tháng 3 năm 1982), khẳng định: “Kiểm tra là một trong những
chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng”, “Lãnh đạo mà không có kiểm tra thì
coi như không có lãnh đạo”. Tổng kết 20 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới,
Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm về công tác là:“Nâng cao chất lượng,
hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát” [37, tr.134]. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định: “…tăng cường và nâng cao chất lượng
công tác tư tưởng, lý luận, công tác kiểm tra, giám sát.” [40, tr.80]. Làm tốt
công tác KT, GS góp phần tích cực xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh,
làm cho Đảng đủ sức lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới công nghiệp

quy trình công tác KT, GS chưa cao; chất lượng kiểm tra đảng viên có dấu
hiệu vi phạm và giám sát cấp ủy viên, cán bộ chủ trì còn có mặt hạn chế; nội
dung kiểm tra còn chung chung, dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm; xem
nhẹ nguyên tắc tự kiểm tra; chưa gắn công tác KT, GS với việc “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và các giải pháp xây dựng Đảng
theo tinh thần nghị quyết Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); tính đấu tranh
tự phê bình và phê bình không cao, nể nang, né tránh; vẫn còn đảng viên, tổ
chức đảng vi phạm kỷ luật quân đội...ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả lãnh
đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học và công tác
xây dựng đảng bộ của các nhà trường.
Hiện nay, tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó
lường, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ
trang, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ; xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật
đổ, ly khai, khủng bố và các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống có chiều
hướng gia tăng; tình hình Biển Đông có thể có những diễn biến mới phức tạp,
cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên biển của nhân dân ta sẽ còn lâu dài, khó
khăn. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhiệm vụ quân đội và sự


8
phát triển của nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học, công tác xây
dựng Đảng của các học viện, trường sĩ quan đặt ra những yêu cầu mới ngày
càng cao, đòi hỏi toàn đảng bộ nhà trường, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong
đảng bộ nhà trường phải tiếp tục xây dựng chỉnh đốn Đảng, kiên quyết khắc
phụ những hạn chế, khuyết điểm, chủ động phòng, chống những biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mặt khác, các thế lực thù địch bằng
chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá nước ta ngày càng quyết liệt, thúc
đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ Đảng, Nhà nước; mặt trái
nền kinh tế thị trường và những tiêu cực ngoài xã hội đang hàng ngày, hàng
giờ tác động đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên, dễ nảy sinh những

Chất lượng công tác KT, GS của các đảng uỷ học viện, trường sĩ quan Quân
đội nhân dân Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu:
Chất lượng công tác KT, GS của các đảng uỷ học viện, trường sĩ quan
quân đội; phạm vi khảo sát ở 06 học viện, trường sĩ quan gồm: Học viện Chính
trị, Học viện Biên phòng, Học viện Hải quân, Học viện Phòng không - Không
quân, Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1. Các số liệu và tư
liệu điều tra, khảo sát phục vụ cho luận án chủ yếu từ 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của luận án: Là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về công tác KT, GS và thi hành kỷ
luật Đảng; các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế về công tác KT, GS của
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; của UBKT Trung
ương, của Quân ủy Trung ương, UBKT Quân ủy Trung ương.
* Cơ sở thực tiễn: Là thực tiễn chất lượng công tác KT, GS của các đảng
ủy học viện, trường sĩ quan. Các báo cáo tổng kết về công tác xây dựng đảng bộ,
công tác KT, GS và các số liệu điều tra, khảo sát của tác giả; đồng thời kế thừa
có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học có liên quan.


10
* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học
chuyên ngành và liên ngành; trong đó, chú trọng sử dụng các phương pháp phân tích,
tổng hợp, lôgic, lịch sử, so sánh, tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học, khảo sát thực
tiễn và ý kiến chuyên gia.
6. Những đóng góp mới của luận án
Đưa ra quan niệm và luận giải làm rõ nội hàm quan niệm chất lượng
công tác KT, GS của các đảng uỷ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân

làm rõ việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cần xây dựng và thực thi chế độ đi
kiểm tra thị sát, triển khai công tác đi kiểm tra, thị sát, tăng cường giám sát, kiểm
tra đối với ban lãnh đạo các cấp, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo đảm nhiệm chức
trưởng của Đảng và chính quyền; thực hiện kiểm toán về trách nhiệm kinh tế
trong nhiệm kỳ của cán bộ lãnh đạo; cải cách thêm một bước chế độ xét duyệt
phê chuẩn hành chính, quy phạm hóa hành vi dùng quyền của cán bộ lãnh đạo;
kiên trì và hoàn thiện chế độ báo cáo công tác và tình hình chấp chính liêm khiết
của cán bộ lãnh đạo, thực hiện chế độ trách nhiệm về xây dựng tác phong của
Đảng và chấp chính liêm khiết, xây dựng rộng rãi chế độ chuyện trò, nhắc nhở
và hỏi ý kiến qua thư từ đối với cán bộ.
Trong bài “Tăng cường xây dựng kỷ luật, giữ gìn sự đoàn kết, thống
nhất của đảng” của Tạng Thắng Nghiệp [70] đã phân tích kỷ luật Đảng là bảo
đảm quan trọng để bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, hoàn thành
nhiệm vụ của Đảng. Để giữ nghiêm kỷ luật Đảng, một trong những biện pháp
là tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình chấp hành kỷ luật. Theo đó, cơ quan
kiểm tra kỷ luật các cấp phải phát huy đầy đủ vai trò, chức năng, phối hợp với
Đảng ủy và chính quyền làm tốt việc kiểm tra, giám sát tình hình chấp hành kỷ
luật, kịp thời phát hiện và kiên quyết uốn nắn mọi vấn đề có tính manh nha,
tính khuynh hướng liên quan đến vi phạm kỷ luật Đảng. Phải tập hợp các
nguồn lực giám sát, dùng hình thức chế độ để tập hợp một cách hữu cơ các loại
hình giám sát với nhau như giám sát trong Đảng, giám sát của Đại hội đại biểu
nhân dân, giám sát hành chính, giám sát dân chủ, giám sát tư pháp, giám sát
của quần chúng và giám sát của dư luận, mở rộng kênh giám sát, xây dựng sân
chơi giám sát, hình thành nên hợp lực giám sát.


12
Tác giả Trương Thụ Quân với bài viết “Không ngừng nâng cao trình
độ quản lý đảng xây dựng đảng theo yêu cầu khoa học hóa công tác xây dựng
đảng” [70] đã chỉ ra một trong những biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất

điểm, đường lối, chính sách của Đảng, kiến thức về pháp luật, kinh tế; rèn
luyện, phẩm chất chính trị tốt, bản lĩnh vững vàn, công tâm, trong sạch và am
hiểu nghiệp vụ công tác kiểm tra. Ba là, ủy ban kiểm tra các cấp phải thực hiện
tốt vai trò tham mưu giúp cấp ủy và tập trung kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ
đảng viên, cán bộ. Bốn là, đổi mới phương pháp kiểm tra của ủy ban kiểm tra
các cấp trên cơ sở đúng nguyên tắc, đúng quy định của Trung ương, thích hợp
với điều kiện, đối tượng kiểm tra, phù hợp với hoàn cảnh.
Trong công trình “Đổi mới công tác kiểm tra ở tổ chức cơ sở đảng
trong Quân đội nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay” của Xỏm - Vay Xeng - Pa - Sợt [156] đã luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong đổi
mới, đánh giá thực trạng và chỉ ra những nguyên nhân, rút ra một số kinh
nghiệm đổi mới công tác kiểm tra; đề xuất 5 giải pháp đổi mới công tác kiểm
tra ở tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Quân đội gồm: Nâng cao nhận thức,
trách nhiệm, phẩm chất, năng lực của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ,
đảng viên đối với việc đổi mới công tác kiểm tra ở tổ chức cơ sở đảng; đổi
mới, hoàn thiện các quy định, tạo cơ sở pháp lý để tiến hành công tác kiểm tra
ở tổ chức cơ sở đảng; đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của đảng ủy,
ủy ban kiểm tra ở tổ chức cơ sở đảng; đổi mới nội dung, hình thức, phương
pháp tiến hành công tác kiểm tra ở tổ chức cơ sở đảng; phát huy vai trò, trách
nhiệm của cấp trên và các tổ chức, các lực lượng trong công tác kiểm tra ở tổ
chức cơ sở đảng trong Quân đội nhân dân Lào.
Trong bài “Đảng nhân dân cách mạng Lào đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
kiểm tra” của Đao - Bua - La – Pha Ba – Vông – phết” [49] đã chỉ ra tiêu
chuẩn của cán bộ kiểm tra là: có đại đức tốt, trung thực. Nắm vững luật
pháp; kiên quyết bảo vệ, gương mẫu thực hiện nghiêm luật pháp. Có trình độ
kiến thức và năng lực; ý thức tổ chức kỷ luật cao. Có tinh thần phục vụ đất
nước, bảo vệ quyền là lợi ích chính đáng của công dân. Liêm khiết, không


14
khoan nhượng, kiên quyết phòng, chống mọi hình thức lợi dụng, tham ô,

15
không thực hiện tùy tiện theo ý muốn của cá nhân. Cán bộ kiểm tra phải công
tâm, khách quan, không thiên vị, không định kiến, không được cảm tình riêng,
không được nghe thông tin một chiều; phải tôn trọng thực tế chứng cứ, chứ
không được suy diễn chủ quan, áp đặc theo ý kiến cá nhân. Cấp ủy các cấp phải
tích cực, chủ động và đích thân trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các cuộc kiểm tra
của mình theo kế hoạch chứ không đợi vi phạm rồi mới kiểm tra. Đặc biệt tập
trung đi sâu kiểm tra những vấn đề nổi cộm, bức xúc, những lĩnh vực dễ phát
sinh vi phạm và có cơ chế phát huy dân chủ, bảo đảm cho mọi cán bộ, đảng
viên đều có quyền và trách nhiệm tham gia công tác KT, GS một cách chủ
động và có hiệu quả.
Tác giả Đặng Đình Phú với bài “Một số vấn đề về công tác kiểm tra,
giám sát và kỷ luật của Đảng hiện nay” trong cuốn sách “Đảng Cộng sản
Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển” [101] đưa ra quan niệm “Công tác
kiểm tra của Đảng là hoạt động của Đảng, được tiến hành đối với tổ chức
đảng và đảng viên, nhằm nắm vững tình hình; nhận xét, đánh giá việc chấp
hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, các quy
định, quyết định của Đảng; xác định sự đúng đắn hay vi phạm của các hành vi
có liên quan đến kỷ cương, kỷ luật của Đảng”. Nội dung chủ yếu của công tác
kiểm tra là kiểm tra “việc” và kiểm tra “người”. Kiểm tra “việc” có nghĩa là
kiểm tra ngay đường lối, nghị quyết, chỉ thị, chính sách, quyết định đã đề ra
và khẳng định cái đúng, cái sai để từ đó có biện pháp xử lý phù hợp. Kiểm tra
“người” có nghĩa là kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp và đảng
viên là đảng viên là cán bộ do cấp ủy quản lý thực hiện đúng tiêu chuẩn đảng
viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và nhiệm vụ đảng viên. Kiểm tra “việc” và kiểm
tra “người” của Đảng là hai nội dung chủ yếu, có quan hệ mật thiết với nhau
nhằm mục tiêu là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng


16

17
phải đạt chuẩn về tiêu chuẩn hóa cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiếp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Trong bài “Công tác kiểm tra của Đảng là công tác Đảng”[25] của tác
giả Đỗ Hùng Cường đã phân tích và khảng định đặc trưng của công tác kiểm
tra là luôn coi đảng viên hoặc tổ chức đảng được kiểm tra vừa là đối tượng vừa
là chủ thể kiểm tra. Là đối tượng kiểm tra, đảng viên hoặc tổ chức đảng được
kiểm tra phải chấp hành nghiêm túc mọi yêu cầu nội dung cũng như quy trình
của hoạt động kiểm tra. Là chủ thể kiểm tra thì đảng viên hoặc tổ chức đảng
được kiểm tra không thể bị động, đứng ngoài cuộc mà phải có trách nhiệm đầy
đủ với yêu cầu và kết quả kiểm tra. Tính đặc trưng này đòi hỏi đội ngũ cán bộ
kiểm tra, ủy viên ủy ban kiểm tra phải nỗ lực học tập tinh thông nghiệp vụ, bồi
dưỡng tư duy logic, biện chứng, xem xét vấn đề đảm bảo tính lịch sử, toàn
diện, cụ thể và phải có đủ khả năng để thuyết phục các đối tượng kiểm tra.
Bài viết của tác giả Trần Quốc Vượng “Nhiệm vụ trọng tâm của công
tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng”
[155] chỉ ra: Công tác KT, GS, kỷ luật đảng cần đẩy mạnh các hoạt động tuyên
truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức trong Đảng và toàn xã hội về vị trí,
vai trò, tầm quan trọng của công tác KT, GS, kỷ luật đảng; tăng cường KT, GS
của các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp và chi bộ. Tiếp tục hoàn thiện các
quy định của Đảng về cơ chế, phương pháp, quy trình KT, GS, thi hành kỷ luật
và giải quyết khiếu nại trong Đảng; hoàn thiện quy chế phối hợp thực hiện
nhiệm vụ KT, GS, thi hành kỷ luật Đảng giữa UBKT với các tổ chức đảng và
cơ quan liên quan; kiện toàn UBKT, tổ chức bộ máy và cán bộ cơ quan UBKT
ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Đổi mới và nâng
cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra các cấp.
Tác giả Mai Thế Dương với bài “Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát góp
phần nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng” [60] chỉ ra: Cần đổi mới
phương thức của cấp ủy từ khâu xây dựng, ban hành đến việc lãnh đạo tổ chức




19
nâng cao hiệu lực, hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với tổ chức và
hoạt động của UBKT các cấp; xây dựng, hoàn thiện, thực hiện tốt quy chế,
quy trình, đổi mới nội dung, phương pháp kiểm tra trong thực hiện nhiệm vụ
kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; tăng cường phối,
kết hợp chặt chẽ giữa UBKT với các tổ chức, các cấp, các ngành trong quá
trình kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm.
Trong bài “Tăng cường kiểm tra, giám sát đấu tranh, ngăn chặn, đẩy
lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cán bộ, đảng viên” của
tác giả Cao Văn Thống và Trần Duy Hưng [131] chỉ ra công tác KT, GS của
Đảng không chỉ là nội dung thuộc chức năng lãnh đạo của Đảng mà còn là công
cụ đắc lực góp phần quan trọng, có hiệu quả nhất vào cuộc đấu tranh ngăn chặn,
đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở
nước ta hiện nay. Để tăng cường kiểm tra, giám sát đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cán bộ, đảng viên hiện nay, cần
tập trung vào: tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp ủy, tổ
chức đảng, UBKT, trước hết là người đứng đầu cấp ủy về công tác KT, GS, kỷ
luật của Đảng; xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà
nước phục vụ đổi mới phương thức KT, GS và kỷ luật của Đảng; đổi mới, tăng
cường công tác KT, GS của cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp và chi bộ đảm
bảo hiệu lực, hiệu quả; đổi mới và hoàn thiện quy trình, phương pháp KT, GS, kỷ
luật của Đảng theo hướng cải cách thủ tục hành chính trong Đảng và kiện toàn tổ
chức bộ máy cơ quan UBKT và tăng cường cán bộ kiểm tra các cấp bảo đảm
tương xứng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
* Nhóm các công trình bàn về công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng
bộ Quân đội
Khi nghiên cứu về “Công tác kiểm tra của đảng uỷ các hệ đào tạo cán
bộ chỉ huy tham mưu cấp chiến thuật, chiến dịch ở Học viện Lục quân giai



21
Bài viết “Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị: Công tác kiểm tra, giám sát
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, xây dựng Đảng bộ trong sạch,
vững mạnh” của tác giả Phạm Hồng Thắng [126] đã đánh giá thực trạng của công
tác KT, GS ở Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị và rút ra những nguyên nhân của
những mặt hạn chế là: Một số cấp ủy, nhất là cấp cơ sở và chi bộ chưa quan tâm
đúng mức, chưa đầu tư thời gian cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực
hiện nhiệm vụ KT, GS; chưa thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong
sinh hoạt đảng, chưa nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình; vai trò
của UBKT chưa được đề cao; phần lớn ủy viên UBKT các đảng bộ cơ sở kiêm
nhiệm nên thời gian dành cho công tác KT, GS còn ít; trình độ kiến thức nghiệp
vụ, kinh nghiệm cán bộ làm công tác kiểm tra còn hạn chế. Tác giả đề xuất các giải
pháp khắc phục những hạn chế, khuyết điểm: Tiếp tục chỉ đạo quán triệt nắm vững
và thực hiện đầy đủ, đúng các quy định của Điều lệ Đảng về công tác KT, GS; tập
trung KT, GS việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cuộc vận
động ”hai không”; nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ kiểm
tra các cấp đủ khả năng đảm nhiệm nhiệm vụ.
“Bồi dưỡng năng lực công tác kiểm tra, giám sát của đội ngũ bí thư chi
bộ đại đội ở các đảng bộ lữ đoàn tăng thiết giáp giai đoạn hiện nay” của tác giả
Hoàng Ngọc Sơn [118] đề xuất 4 giải pháp bồi dưỡng năng lực công tác kiểm
tra, giám sát của đội ngũ bí thư chi bộ đại đội ở các đảng bộ lữ đoàn tăng thiết
giáp là: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng cán bộ
chủ trì, cơ quan chính trị, UBKT các cấp; Xác định đúng nội dung, xây dựng và
thực hiện tốt chương trình, kế hoạch, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức,
phương pháp bồi dưỡng; Phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của đội ngũ bí
thư chi bộ đại đội trong bồi dưỡng; Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức,
lực lượng trong bồi dưỡng năng lực công tác KT, GS của đội ngũ bí thư chi bộ
đại đội ở các đảng bộ lữ đoàn tăng thiết giáp.

pháp, tác phong công tác của ủy viên ủy ban kiểm tra ở các tổ chức cơ sở


23
đảng trong Quân đội hiện nay” của tác giả Vũ Văn Chức [19] đã chỉ ra
những yêu cầu cơ bản về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công
tác của ủy viên UBKT ở các tổ chức cơ sở đảng trong quân đội hiện nay là:
Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, nắm
vững và chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, pháp
luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội. Có tinh
thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật cao; luôn yên tâm công tác, yêu
ngành, yêu nghề, có ý chí phấn đấu, biết tập trung trí tuệ, năng lực thực hiện
nhiệm vụ; có tác phong thận trọng, chín chắn, tỷ mỷ, cụ thể, chuẩn xác và
chu đáo, bảo vệ cái đúng và đấu tranh với tiêu cực, sai trái. Có tính trung
thực, khách quan, công tâm, lối sống trong sạch, lành mạnh, không vì lợi ích
cá nhân; có tinh thần đoàn kết đúng đắn và tình cảm cách mạng trong sáng.
Có kiến thức toàn diện về xây dựng Đảng, công tác chính trị, thành thạo
công tác KT, GS.
* Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến chất lượng, nâng
cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng
Trong công trình “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra ở các tổ
chức cơ sở đảng Trường Sĩ quan chỉ huy kỹ thuật thông tin”, của tác giả Lê
Văn Cơ [22] làm rõ vai trò của công tác kiểm tra và trách nhiệm của đảng uỷ
cùng kiểm tra, giám sát các cấp đối với công tác kiểm tra; khái quát những
ưu, khuyết điểm và những nguyên nhân của những ưu, khuyết điểm đó. Trong
đó nguyên nhân chủ quan là nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chủ
trì, nguyên nhân khách quan là thuộc về cơ cấu tổ chức như ở các tổ chức cơ
sở đảng một cấp không có kiểm tra, giám sát, cán bộ phải kiêm nhiệm nên
thiếu sự chủ động trong công tác. Tác giả đã chỉ ra năm yêu cầu cơ bản đòi
hỏi cần phải quán triệt và thực hiện tốt để nâng cao chất lượng kiểm tra ở các

nâng cao tính giáo dục, phòng ngừa trong tiến hành công tác kiểm tra đảng
viên, tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm, tác giả đề xuất năm giải pháp đồng


25
bộ nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng có dấu
hiệu vi phạm kỷ luật ở các trung, lữ đoàn đủ quân ở Quân khu 1.
Nghiên cứu về “Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của uỷ ban
kiểm tra các cấp ở Đảng bộ Học viện Hậu cần hiện nay”, tác giả Nguyễn Văn
Bắc [11] đã đưa ra quan niệm về chất lượng công tác KT, GS của UBKT các
cấp ở Đảng bộ Học viện Hậu cần và làm rõ 5 yếu tố quy định chất lượng
công tác KT, GS: Một là, sự lãnh đạo của đảng uỷ, sự chỉ đạo, hướng dẫn
của UBKT cấp trên đối với công tác KT, GS của UBKT cấp dưới. Hai là,
phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác của ủy viên UBKT.
Ba là, tính chủ động, tích cực, sáng tạo và năng lực tham mưu chính xác, kịp
thời của UBKT các cấp. Bốn là, kết quả thực hiện nội dung, hình thức,
phương pháp, chế độ, nền nếp và quy trình công tác kiểm tra, giám sát. Năm
là, công tác KT, GS của UBKT các cấp phải phát huy vai trò các tổ chức
quần chúng (đoàn thanh niên, công đoàn, phụ nữ), hội đồng quân nhân; kết
hợp chặt chẽ với thanh tra quốc phòng, với KT, GS của các cơ quan có liên
quan, với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhân dân địa phương.
Trong bài “Hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của đảng ủy cơ sở trong
Đảng bộ Quân đội” của Tác giả Sinh Huy [74] đã chỉ ra những ưu, khuyết điểm
trong công tác KT, GS của đảng ủy cơ sở, trong đó, có nhận thức, trách nhiệm
của cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên về hoạt động này. Để
nâng cao hiệu quả công tác KT, GS của đảng ủy cơ sở trong Đảng bộ Quân đội
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới cần thực hiện đồng bộ các giải
pháp: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán
bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu của đảng ủy cơ sở về công tác KT,
GS; nâng cao tính khoa học trong công tác KT, GS của đảng bộ cơ sở; công tác

để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát; tăng cường công tác KT, GS và thi
hành kỷ luật đảng ở chi bộ.
Trong bài “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, góp
phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) trong Đảng bộ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status