Đánh giá thực trạng và xây dựng bản đồ tồn dư hóa chất sử dụng trong nông nghiệp khu vực thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HUẾ Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ TỒN DƯ
HÓA CHẤT SỬ DỤNG TRONG NÔNG NGHIỆP KHU VỰC THỊ
TRẤN LIM, HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi Trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS. Hoàng Văn Hùng
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm

Nguyễn Thị Huế
2

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 3
1.2.1. Mục tiêu tổng quát của đề tài 3
1.2.3. Mục tiêu cụ thể của đề tài 3
1.3. Yêu cầu 4
1.4. Ý nghĩa của đề tài.……………………………………………………. 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 5
2.1.2. Vai trò của hóa chất bảo vệ thực vật 8
2.1.3. Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật 8
2.2. Cơ sở pháp lý của công tác quản lý và sử dụng hóa chất bảo vệ thực
vật. 9
2.3. Tình hình quản lý và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam 10

2.3.1. Tình hình quản lý hóa chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam 10
2.3.2. Tình hình nhập khẩu và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam 12
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
3.3. Nội dung nghiên cứu 20

4.4.1. Vị trí quan trắc 37
4.4.2. Kết quả quan trắc chất lượng môi trường đất. 37
4.4.3. Đánh giá về việc tồn dư hóa chất BVTV trong đất theo chỉ tiêu riêng lẻ 40
4.5. Xây dựng bản đồ hiện trạng môi trường 46
4.6. Đề xuất biện pháp 55
4.6.1. Giải pháp quản lý Error! Bookmark not defined.
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1. Kết luận 58
5.2. Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
BVMT Bảo vệ môi trường
BVTV Bảo vệ thực vật
HCBVTV Hóa chất bảo vệ thực vật
FAO Tổ chức Lương Thực và Nông nghiệp
Liên Hiệp Quốc
LD
50
Liều lượng cần thiết gây chết 50% cá thể
thí nghiệm (chuột bạch) tính bằng đơn vị
mg/kg thể trọng
NN-PTNT Nông nghiệp - phát triển nông thôn


6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 4.1: Biểu đồ Tỷ lệ đồng dạng của một số yếu tố ảnh hưởng đến
tồn dư thuốc BVTV trong đất (similarity 87 – 100 %) 32
Hình 4.2: Biểu đồ mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hướng đến thuốc
BVTV tồn dư trong đất (MDS) 33
Hình 4.3: Biểu đồ mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hướng đến thuốc
BVTV tồn dư trong đất (PCA) 33
Hình 4.4: Biểu đồ hàm lương tồn dư Heptachlor trong đất 39

1.1. Đặt vấn đề
Vấn đề môi trường đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của mọi
quốc gia và cộng đồng quốc tế. Ngày nay, cùng với sự phát triển của các
hoạt động sản xuất kinh doanh, môi trường nói chung và môi trường đất
nói riêng đang bị tác động tiêu cực (Đào Trọng Ánh, 2000)[1]. Việt Nam là
một nước nông nghiệp, có xuất phát điểm thấp, dân số tập chung chủ yếu ở
khu vực nông thôn (Nguyễn Thị Vân Hà, 2013)[5]. Trong những năm gần
đây khu vực nông thôn của nước ta đang trong quá trình chuyển đổi, kéo
theo đó là sự phát sinh không ít vấn đề về ô nhiễm môi trường mà đặc biệt
là ô nhiễm do hoạt động sản xuất nông nghiệp (Cục BVMT, 2007)[3]. Tuy
Đảng và nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích cũng như biện
pháp bảo vệ môi trường nhưng vì điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn
nên việc bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế.
Từ lâu nhân dân ta đã sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất
nông nghiệp nhằm diệt trừ sâu bệnh gây hại cho cây trồng để bảo vệ mùa
màng. Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, việc sử dụng
hóa chất bảo vệ thực vật để tăng năng suất cây trồng càng gia tăng (Phạm
Bình Quyền, 2000)[8]. Do việc quản lý, bảo quản và sử dụng hóa chất bảo
vệ thực vật dùng trong nông nghiệp còn chưa chặt chẽ nên một số loại hóa
chất bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng vẫn lưu hành rộng
rãi. Tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật cấm và hạn chế sử dụng trong môi
trường đất, nước, không khí, động vật, thực vật ở các vùng nghiên cứu rất
đáng lo ngại, cần tiếp tục áp dụng các biện pháp can thiệp (Sở KHCN BN,
2009)[7].
Hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) khi sử dụng cho cây trồng được cây
trồng hấp thụ một phần, còn lại một phần bị rửa trôi theo nước mưa xuống 2


Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thấy được tầm quan trọng của
công tác đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường đất, được sự nhất trí
của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường, trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và cơ sở thực tập là Sở Tài Nguyên và
Môi trường, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên TS. Hoàng Văn
Hùng em thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và xây dựng bản đồ tồn
dư hóa chất sử dụng trong nông nghiệp khu vực thị trấn Lim, huyện
Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” nhằm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về
môi trường tại tỉnh Bắc Ninh, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ
và cải thiện môi trường hướng đến sự phát triển bền vững.
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát của đề tài

Đánh giá hiện trạng môi trường nông nghiệp và xây dựng bản đồ tồn
dư hóa chất sử dụng trong nông nghiệp khu vực thị trấn Lim, huyện Tiên
Du, tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể của đề tài
Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực thị trấn Lim, huyện Tiên
Du, tỉnh Bắc Ninh.
Xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin để đánh giá
về lượng tồn dư hóa chất sử dụng trong nông nghiệp mà trong đó chủ yếu
tồn dư do thuốc BVTV.
Đề xuất cơ chế chính sách và biện pháp quản lý môi trường phù hợp
với điều kiện thực tế của địa phương.
1.3. Yêu cầu
Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác.
Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn
nghiên cứu.
Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù
hợp hơn.

5 PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về môi trường và quản lý môi trường
* Khái niệm: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất
nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn
tại, phát triển con người và sinh vật.
- Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành
các loại:
+ Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như là các
yếu tố vật lý, hóa học và sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của
con người.
+ Môi trường nhân tạo: Là tất cả cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do
con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
+ Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người
tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá
nhân và cộng đồng loài người.
Môi trường theo nghĩa rộng là tổng các nhân tố như không khí, nước,
đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan xã hội,… có ảnh hưởng đến chất lượng
cuộc sống con người và các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho đời sống
và sản xuất của con người.
Môi trường theo nghĩa hẹp là các nhân tố như không khí, đất, nước,

+ Sức chịu tải của môi trường: Là giới hạn cho phép mà môi trường
có thể tiếp nhận và hấp thụ các chất gây ô nhiễm. 7

2.1.1.2. Các khái niệm liên quan đến hóa chất BVTV
Hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc
có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây
trồng và nông sản chống lại sự phá hoại của sinh vật gây hại đến tài nguyên
thực vật.
Những sinh vật gây hại chính gồm: Sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột
và các tác nhân khác. Hóa chất bảo vệ thực vật gồm nhiều nhóm khác nhau,
gọi tên theo tên nhóm sinh vật gây hại, thuốc trừ bệnh để trừ bệnh hại,…
Một số đặc điểm của hóa chất bảo vệ thực vật cần lưu ý:
- Tên hóa chất: Do nhà sản xuất đặt tên để phân biệt sản phẩm của
hãng này với hãng khác.
- Hoạt chất: Là thành phần chính của thuốc, quyết định đặc tính của
thuốc. Cùng một chất có thể có nhiều tên thương mại khác nhau.
- Các chất phụ gia: Giúp thuốc phân bố đều khi pha chế, bám dính
tốt và loang trải đều trên bề mặt cây trồng khi phun. Cùng một hoạt chất
nhưng hiệu quả thuốc có thể khác nhau là do bí quyết về các chất phụ gia
của mỗi nhà sản xuất khác nhau.
- Tính độc: Biểu thị bằng LD
50
là liều lượng cần thiết gây chết 50%
cá thể thí nghiệm (chuột bạch) tính bằng đơn vị mg/kg thể trọng. LD
50
càng
nhỏ thì độ độc càng cao. Hiện nay, thuốc BVTV được phân loại theo tính

quả kinh tế, đồng thời cũng giúp giảm được diện tích canh tác.
Biện pháp hoá học dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau,
đem lại hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp phòng trừ duy nhất.
Đến nay, thuốc BVTV đã để lại những dấu ấn quan trọng trong hầu
hết các lĩnh vực của nền nông nghiệp hiện đại. Nhưng loài người vẫn tiếp
tục tìm kiếm các dạng sản phẩm mới dễ sử dụng hơn, có hiệu lực trừ dịch
hại cao hơn, thân thiện hơn với môi sinh và môi trường.
2.1.3. Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc BVTV cũng là một trong những nhân tố gây mất ổn định môi
trường. Do bị lạm dụng, thiếu kiểm soát, dùng sai, nên nhiều mặt tiêu cực 9

của thuốc BVTV đã bộc lộ như: Gây ô nhiễm nguồn nước và đất, để lại dư
lượng trên nông sản, gây độc cho người và nhiều loài động vật máu nóng,
gây mất sự cân bằng trong tự nhiên, làm suy giảm tính đa dạng của sinh
quần, xuất hiện các loài dịch hại mới, tạo tính chống thuốc của dịch hại và
làm đảo lộn các mối quan hệ phong phú giữa các loài sinh vật trong hệ sinh
thái, gây bùng phát và tái phát dịch hại, dẫn đến hiệu lực phòng trừ của
thuốc bị giảm sút hoặc mất hẳn.
Khi chúng ta ăn phải thức ăn bị nhiễm độc sẽ gây ngộ độc thực
phẩm. Ngộ độc thường được biểu hiện dưới hai dạng là ngộ độc cấp tính và
ngộ độc mạn tính.
Ngộ độc cấp tính: Bệnh nhân thường đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy,
“miệng nôn, trôn tháo” nếu nặng thì tăng tiết dịch tiêu hóa, đổ mồ hôi, giảm
thị lực, trụy mạch, co thắt thanh quản, co giật, hôn mê và có thể dẫn đến tử
vong.
Ngộ độc mạn tính: Do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc trừ sâu với
hàm lượng và tính độc thấp được tích lũy trong cơ thể trong thời gian dài,

Việt Nam.
- Quy chuẩn Việt Nam 15:2008/BTNMT được ban hành theo Quyết
định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường.
2.3. Tình hình quản lý và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình quản lý hóa chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam
Để tăng cường công tác quản lý hóa chất BVTV từ đăng ký, nhập
khẩu, sản xuất kinh doanh và sử dụng, ngày 03-06-2009, Bộ NN-PTNT
vừa ra chỉ thị số 1504/CT-BNN-BVTV, về việc tăng cường quản lý đăng
ký, nhập khẩu, sản xuất kinh doanh và sử dụng hóa chất BVTV. Đặc biệt là
thuốc BVTV mà theo đó, Bộ NN-PTNT yêu cầu các địa phương, các cơ
quan chức năng, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV triển 11
khai thực hiện. Cụ thể là, đối với UBND các tỉnh thành phố trực thuộc
Trung Ương cần tập trung chỉ đạo sở NN-PTNT, UBND cấp huyện và các
cơ quan chức năng ở địa phương tiến hành kiểm tra, thanh tra việc chấp
hành các quy định về quản lý thuốc BVTV đối với các doanh nghiệp, các
cơ sở sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói và các cửa hàng, đại lý buôn
bán thuốc BVTV, các hộ nông dân sử dụng sử dụng thuốc BVTV. Đối với
các trường hợp buôn bán thuốc BVTV không đảm bảo đủ các điều kiện
theo quy định (buôn bán lậu) phải đình chỉ và xử lý nghiêm theo quy định
của pháp luật. Những trường hợp vi phạm nghiêm trọng như: Sản xuất,
kinh doanh thuốc BVTV cấm, ngoài danh mục, giả với khối lượng lớn cần
chuyển sang cơ quan điều tra khẩn trương làm rõ và xử lý hình sự, truy tố
trước pháp luật. Bên cạnh đó, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, cơ quan
thông tin đại chúng ở địa phương, tổ chúc các lớp tập huấn kỹ thuật và
tuyên truyền cho nông dân sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả, các quy
trình sản xuất an toàn, các quy định của pháp luật, nâng cao nhận thức của

dụng thuốc BVTV an toàn hiệu quả, vệ sinh – an toàn lao động.
Ngoài ra, Bộ NN-PTNT còn đề nghị UBND các tỉnh thành phố trực
thuộc Trung Ương, các cơ quan đơn vị khẩn trương thực hiện các nội dung
trên và báo cáo thường xuyên về Cục bảo vệ thực vật, cơ quan thuộc Bộ để
có biện pháp xử lý kịp thời những vướng mắc nảy sinh.
2.3.2. Tình hình nhập khẩu và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Sử dụng hóa chất BVTV trong nông nghiệp là một trong những biện
pháp phòng trừ dịch hại cây trồng, đồng thời là biện pháp chủ đạo, quan
trọng nhất, có tính quyết định trong việc đẩy lùi dịch hại trên cây trồng ở
các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam hóa chất BVTV mà chủ yếu là
thuốc BVTV được cấu thành bởi các hóa chất độc, hầu hết hoạt chất hay
chất phụ gia trong thuốc BVTV đều là những chất độc hại với mức độ khác
nhau nên sử dụng thuốc BVTV là chấp nhận rủi ro nếu không tuân thủ quy 13
định. Việc sử dụng thuốc BVTV không đúng gây ảnh hưởng xấu đến con
người, vật nuôi và môi trường.
Để phát huy mặt tích cực của thuốc BVTV và hạn chế những hậu
quả do chúng gây ra phải tăng cường quản lý trong đăng ký, kinh doanh,
xuất nhập khẩu, bảo quản và tiêu hủy thuốc BVTV, bên cạnh đó cần tăng
cường sử dụng hợp lý thuốc BVTV trong phạm vi cả nước.
Trong những năm qua công tác quản lý hóa chất BVTV đã có nhiều
cố gắng và chuyển biến tích cực, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất đề ra
nhưng việc sử dụng hóa chất BVTV và đặc biệt là thống kê, phát hiện, tiêu
hủy hóa chất BVTV còn nhiều hạn chế, cần được cải thiện. Để thực hiện
yêu cầu này, cục BVTV được Bộ NN&PTNT giao nhiệm vụ chỉ đạo thực
hiện việc di dời, nâng cấp, cải tạo và áp dụng biện pháp xây dựng các hệ
thống xử lý đối với 15 địa điểm gây ô nhiễm môi trường do hóa chất
BVTV theo quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về

thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg.
Cục BVTV đã chỉ đạo thực hiện hoàn thành việc di dời, nâng cấp,
cải tạo và áp dụng các biện pháp xây dựng hệ thống xử lý đối với 15 địa
điểm gây ô nhiễm môi trường do thuốc BVTV theo quyết định số 64 phê
duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng đối với thuốc BVTV (2003 - 2007). Thực hiện điều tra thuốc, bao bì
thuốc BVTV cần tiêu hủy ở địa phương đề xuất nguồn tiêu hủy.
Kết quả điều tra năm 2009 của Chi cục BVTV các tỉnh, thành phố
trong cả nước cho thấy, lượng thuốc BVTV cần tiêu hủy: 69.237,236 kg và
43.574,179 lít thuốc BVTV; lượng bao bì cần tiêu hủy: 69.640,282kg. Kinh
phí thực hiện là 63 tỉ đồng, bao gồm: 56 tỉ 405 triệu đồng để tiêu hủy thuốc
BVTV (50 triệu đồng/tấn) và 6,964 tỉ đồng tiêu hủy bao bì thuốc BVTV
(10 triệu đồng/tấn). Trong đó, nguồn kinh phí tiêu hủy thực hiện theo
hướng dẫn tại công văn số 7838/VPCP-KTN của văn phòng chính phủ về
tiêu hủy thuốc BVTV tồn đọng, cần tiêu hủy như sau: 15
Kinh phí tiêu hủy thuốc, bao bì thuốc BVTV còn tồn đọng cần tiêu
hủy của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Các doanh nghiệp, hộ kinh
doanh chủ động bố trí để tiêu hủy. Chi phí tiêu hủy được tính vào chi phí
hợp lý loại trừ khi xác định thu thập chịu thuế.
Kinh phí tiêu hủy thuốc, bao bì thuốc BVTV của các đơn vị sự
nghiệp, cơ quan nhà nước thuộc địa phương quản lý hoặc không rõ nguồn
gốc, thì UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương lập phương án
xử lý cụ thể, chủ động bố trí nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường của ngân
sách địa phương để thực hiện.
Kinh phí tiêu hủy thuốc, bao bì hóa chất BVTV của các đơn vị sự
nghiệp, cơ quan nhà nước thuộc bộ NN&PTNT quản lý thì Bộ NN&PTNT
có trách nhiệm sử dụng dự toán ngân sách của bộ để thực hiện.

Hóa chất BVTV là hàng hóa đặc thù, hạn chế kinh doanh, kinh doanh
với điều kiện chỉ được phép nhập khẩu, sản xuất, gia công, sang chai, đóng
gói buôn bán, sử dụng khi được đăng ký tại Việt Nam. Cục BVTV là cơ
quan đăng ký hóa chất BVTV tại Việt Nam.
Đăng ký hóa chất BVTV vào danh mục được sử dụng quản lý chặt
chẽ, các tiêu chí được đăng ký để duy trì và bổ xung với mục đích hạn chế
và loại bỏ những sản phẩm có độ độc cao, tồn dư lâu trong môi trường,
nâng cao độ an toàn của các loại hóa chất BVTV được sử dụng. Trong đó:
Không cho đăng ký thuốc BVTV trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật
cấm sử dụng; thuốc trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng
ở Việt Nam để trừ dịch hại trên đồng ruộng. Thuốc có hoạt chất thuốc bảo
vệ thực vật do cá nhân, tổ chức nước ngoài sáng chế, nhưng chưa được
đăng ký sử dụng ở nước ngoài. Thuốc có tên thương phẩm trùng với tên
hoạt chất hay tên thương phẩm của thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký.
Thuốc thành phẩm có độ độc cấp tính nhóm I hoặc thuốc thành phẩm có độ
độc cấp tính nhóm II nhưng có hoạt chất thuộc nhóm độc I, theo quy định
tại mục 1, mục 7, phụ lục 4 trừ các thuốc quy định tại khoản 4, Điều 4 của 17
Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT. Các loại thuốc có trong các danh mục
cảnh báo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc
(FAO) và Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP); các loại
thuốc bảo vệ thực vật trong phụ lục 3 của Công ước Rotterdam. Thuốc
chứa hoạt chất methyl bromide.
Hàng năm, Bộ NN&PTNT đã ban hành thông tư danh mục thuốc
BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam
bao gồm:
- Danh mục thuốc BVTV sử dụng ở Việt Nam: Thuốc trừ sâu: 662
hoạt chất với 1549 tên thương phẩm. Thuốc trừ bệnh: 468 hoạt chất với

nhập khẩu để nghiên cứu, thử nghiệm, để sử dụng trong các dự án của nước
ngoài tại Việt Nam, để sử dụng trong các trường hợp đặc thù khác hoặc để
tái xuất theo hợp đồng đã ký với nước ngoài phải được Cục BVTV cấp
phép nhập khẩu.
Cấm nhập khẩu các loại thuốc và nguyên liệu thuốc BVTV trong danh
mục thuốc BVTV cấm sử dụng ở Việt Nam, trừ trường hợp là chất chuẩn
để phục vụ công tác kiểm tra dư lượng và thuốc BVTV nhập lậu phải được
Cục BVTV cấp phép nhập khẩu.
Cục BVTV phân bổ lượng methyl bromide nhập khẩu trong năm trước
ngày 30/01 của năm tiếp theo căn cứ vào đăng ký, quy mô hoạt động của
các tổ chức hành nghề xông hơi khử trùng và lộ trình loại trừ dần methyl
bromide mà Việt Nam đã đăng ký với quốc tế.
Tất cả thuốc thành phẩm và nguyên liệu thuốc BVTV nhập khẩu vào
Việt Nam đều phải kiểm tra nhà nước về chất lượng trước khi sản xuất, gia
công, sang chai, đóng gói, lưu thông và sử dụng. Kiểm tra nhà nước về chất
lượng thuốc BVTV khi nhập khẩu vào Việt Nam thực hiện theo thông tư số
77/2009/TT-BNNPTNT quy định về kiểm tra nhà nước chất lượng thuốc
BVTV nhập khẩu.
* Sản xuất, kinh doanh hóa chất BVTV

Trích đoạn Đánh giá về việc tồn dư hóa chất BVTV trong đất theo chỉ tiêu riêng lẻ Xây dựng bản đồ hiện trạng môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status