Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay đúng thời điểm và các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ vệ sinh tay đúng thời điểm của nhân viên y tế tại một số khoa của bệnh viện nhi đồng Cần Thơ năm 2015 - Pdf 33

SỞ Y TẾ TP. CẦN THƠ
BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG

.......

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ VỆ SINH TAY
ĐÚNG THỜI ĐIỂM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN SỰ TUÂN THỦ VỆ SINH TAY ĐÚNG THỜI ĐIỂM
CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI MỘT SỐ KHOA
CỦA BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ NĂM 2015

Chủ nhiệm đề tài: CKI ĐD. Trần Thị Thu Hà
Cộng sự chính: ThsĐD. Lữ Mộng Thùy Linh
CĐĐD. Lê Ngọc Điệp
CĐĐD. Lê Ngọc Hằng

Cần Thơ, năm 2015


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
• BV:

Bệnh viện

• CCTH:

Cấp cứu tổng hợp


lực dương liên tục qua mũi
• WHO (World Health Organization): Tổ chức Y tế Thế giới.

ii


MỤC LỤC
...............................................................................................................................1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.......................................................................1
MỤC LỤC..............................................................................................................2
ĐẶT VẤN ĐỀ.......................................................................................................1
Chương 1................................................................................................................4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU......................................................................................4
1.1 Mốc lịch sử của vệ sinh bàn tay .................................................................4
1.2 Nhiễm khuẩn bệnh viện...............................................................................6
1.2.1 Định nghĩa NKBV.....................................................................................6
1.3 Mối liên quan giữa tuân thủ vệ sinh tay và tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện . . .7
1.4 Tầm quan trọng vệ sinh tay ..........................................................................8
1.5 Định nghĩa sự tuân thủ vệ sinh tay................................................................9
Bảng 1.1 Phân biệt VST bằng xà phòng và sát khuẩn tay nhanh [2] ...............11
1.6 Một số nghiên cứu liên quan.......................................................................11
Chương 2..............................................................................................................16
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........................................16
2.1 Đối tượng nghiên cứu.................................................................................16
2.2 Phương pháp nghiên cứu............................................................................16
2.3 Biến số nghiên cứu......................................................................................17
Đặc tính mẫu nghiên cứu:................................................................................17
- Tuổi: lấy năm hiện tại trừ đi năm sinh...........................................................17
- Giới tính: có hai giá trị là nam hoặc nữ.........................................................17
- Nghề nghiệp (chuyên môn): gồm 4 giá trị là: bác sĩ, điều đưỡng, bảo mẫu và

của đối tượng như sau: về phân bố độ tuổi của đối tượng chúng tôi nhận thấy các
đối tượng chủ yếu có độ tuổi ≤ 35 với 74,2% và các đối tượng còn lại là trên 35
tuổi. Các đối tượng đa phần là những người vẫn còn trẻ đó là một lợi thế do họ
có thể tiếp xúc học hỏi được những đề mới trong công tác, nhanh nhẹn trong
công việc, tuy nhiên vẫn có những điểm còn hạn chế như về kinh nghiệm làm
việc hay tuổi trẻ thì thường ít cẩn thận bằng những người lớn tuổi. Còn về phân
iii


bố theo giới tính của đối tượng thì chúng tôi ghi nhận tỷ lệ nam giới chiếm hơn 3
lần so với nữ giới (77,5% và 22,5%). Nam hay nữ thì không quan trọng trong
công tác, nhưng có một điểm chúng ta cần chú ý đó là tính cách của mỗi giới. Nữ
thì thường cẩn thận, tỉ mĩ hơn so với nam giới tuy nhiên điều này không phải lúc
nào cũng đúng mà còn tùy thuộc vào tính cách của từng người..........................30
Về trình độ chuyên môn của các đối tượng nghiên cứu, chúng tôi nghiên cứu tại
3 khoa của bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ là khoa sơ sinh, hồi sức tích cực –
chống độc và cấp cứu tổng hợp thì chúng tôi ghi nhận tỷ lệ đối tượng điều dưỡng
là cao nhất với 70,8%, tiếp đến là bác sĩ với 16,9%. Điều này cũng hoàn toàn
hợp lý trong bối cảnh y tế của Việt Nam nối chung và của Bệnh viện Nhi đồng
Cần Thơ nối riêng, điều dưỡng là những người trực tiếp hàng ngày chăm sóc và
theo dõi bệnh nhân có tiếp xúc nhiều với người bệnh, bác sĩ cũng tiếp xúc hàng
ngày nhưng thời gian là ít hơn, còn những đối tượng khác như bảo mẫu thì
thường xuyên tiếp xúc với trẻ sơ sinh hay hộ lý thì chủ yếu tiếp xúc với những
môi trường xung quanh bệnh nhân. Về thăm niên công tác của các đối tượng thì
chúng tôi nhận thấy sự phân bố có chênh lệch những không quá lớn với tỷ lệ cao
nhất là các đối tượng có công tác từ trên 5 năm với 44,9%. Các đối tượng có
thâm niên càng nhiều năm chứng tỏ có nhiều kinh nghiệm hơn so với những đối
tượng có thâm niên thấp, tuy nhiên chúng ta cần chú ý do những đối tượng này
đã làm nhiều năm nên có khi họ chủ quan trong một số công việc.....................31
Chúng tôi tiến hành khảo sát các đối tượng nghiên cứu tại ba thời điểm trong

thời điểm trước tiếp xúc với bệnh nhân thì có 67,5% các NVYT thực hiện rửa tay
bằng cách sát khuẩn nhanh hoặc bằng xà phòng. Tại thời điểm trước thực hiện
các kỹ thuật vô khuẩn thì có 89,7% NVYT thực hiện rửa tay. Tại thời điểm sau
khi tiếp xúc bệnh nhân thì có 83,1% NVYT thực hiện rửa tay. Tại thời điểm sau
nghi ngờ hoặc tiếp xúc với máu, dịch tiết thì có 98,2% NVYT thực hiện rửa tay
và tại thời điểm sau tiếp xúc môi trường xung quanh bệnh nhân thì có 61,8%
NVYT thực hiện rửa tay. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Liên thì
tỷ lệ tuân thủ rửa tay theo 5 thời điểm đều thấp hơn so với nghiên cứu của chúng
tôi, các tỷ lệ này lần lượt là 48,9% trước khi tiếp xúc bệnh nhân, 54,3% trước khi
làm thủ thuật, 73,3% sau nguy cơ phơi nhiễm với dịch tiết, 59,7% sau khi tiếp
iii


xúc bệnh nhân, 48,7% sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh bệnh nhân [6]. Sự
khác nhau này có thể là do sự khác nhau về thời gian nghiên cứu, nghiên cứu của
chúng tôi được thực hiên sau này nên việc rửa tay ngày càng được ngành y tế
quan tâm hơn. Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT đã được cải
thiện, tuy nhiên vẫn còn một bộ phân không hề nhỏ các NVYT vẫn chưa tuân thủ
đúng việc vệ sinh tay trong những thời điểm có thể gây ra những nhiễm trùng
cho người bệnh mà điều này là hết sức nghiêm trọng.........................................33
Còn về tỷ lệ tuân thủ rửa tay đầy đủ cả 5 thời điểm của NVYT chúng tôi ghi
nhận được là 44,9%. Tỷ lệ này của chúng tôi thấp hơn trong nghiên cứu của Trần
Thị Thanh Hà, trong nghiên cứu của mình tác giả này ghi nhận tỷ lệ tuân thủ vệ
sinh tay của NVYT là 62% [7], còn trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị
Kim Liên cũng ghi nhận tỷ lệ cao hơn trong nghiên cứu của chúng tôi với 55,3%
NVYT tuân thủ rửa tay [6]. Nhìn vào kết quả trên chúng ta có thể nhận thấy có
một điều hơi bất hợp lý là tại 5 thời điểm cần phải vệ sinh tay thì tỷ lệ trong từng
thời điểm của nghiên cứu chúng tôi cao hơn các nghiên cứu của các tác giả trên,
tuy nhiên vấn đề tuân thủ rửa tay chung lại thấp hơn. Theo tôi việc này có thể là
do sự quá tải của bệnh viện làm cho các thời điểm khác nhau mà NVYT đó có

cấp cứu tổng hợp là 55,6%. Nhận thấy tại các khoa phòng thì có sự khác nhau về
tỷ lệ tuân thủ rửa tay của các NVYT vì vậy chúng ta tìm đúng những đối tượng
mà có những biện pháp can thiệp khác nhau.......................................................36
Tương tự là sự phân bố các NVYT theo giới của từng khoa về tuân thủ rửa tay.
Chúng tôi nhận thấy tại hai khoa là Hồi sức tích cực – chống độc và cấp cứu tổng
hợp thì tỷ lệ nam tuân thủ rửa tay cao hơn nữ cới tỷ lệ lần lượt là 57,1% và 80,0,
còn ở khoa sơ sinh thì ngược lại nữ lại có sự tuân thủ cao hơn với tỷ lệ là 59,5%.
Còn về phân bố độ tuổi của NVYT theo khoa về tuân thủ rửa tay thì chúng tôi
cũng nhận thấy tương tự như sự phân bố theo giới với khoa Hồi sức tích cực –
chống độc và cấp cứu tổng hợp thì nhóm NVYT có độ tuổi ≤ 35 là có sự tuân thủ
rửa tay cao hơn nhóm trên 35 tuổi, còn ở khoa sơ sinh thì ngược lại ở nhóm > 35
tuổi có sự tuân thủ cao hơn nhóm ≤ 35 tuổi với tỷ lệ là 78,6%. Đồng thời chúng
tôi còn ghi nhận sự phân bố thời điểm khảo sát theo khoa vệ sự tuân thủ rửa tay
của NVYT, qua kết quả chúng tôi ghi nhận tại khoa sơ sinh và khoa cấp cứu tổng
iii


hợp thì các NVYT được quan sát vào buổi chiều thì có sự tuân thủ cao hơn các
NVYT được quan sát vào buổi sáng và đêm với tỷ lệ là 100%, và ngược lại tại
khoa Hồi sức tích cực – chống độc thì các NVYT được quan sát vào đêm lại có
sự tuân thủ cao hơn với tỷ lệ là 50,0%. Nhận thấy ở các khoa vẫn có sự tương
đồng nhau về sự phân bố các nhóm NVYT tuân thủ rửa tay, tuy nhiên vẫn có sự
khác nhau ở một số nhóm, vì vậy chúng ta cần nắm rõ các thông tin này để có sự
can thiệp phù hợp trên từng khoa, từng nhóm đối tượng để đạt được kết quả cao
nhất đồng thời là giúp thực hiện tốt công tác bảo vệ sức khỏa của các bệnh nhân.
..............................................................................................................................37
4.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ rữa tay.................................................37
Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ rửa tay của các NVYT giúp
chúng ta có những kế hoạch định hướng tốt hơn nhằm cải thiện được vấn đề tuân
thủ rửa tay của các NVYT. Qua nghiên cứu và đánh chúng tôi ghi nhận được kết

những nhiễm trùng bệnh viện. Các lãnh đạo bệnh viên cần chú ý và quan tâm sâu
sắc hơn vấn đề này để có những biện pháp chấn chỉnh kịp thời..........................39
Về sự khác biệt giữa thâm niên làm việc với tuân thủ rửa tay của đối tượng
chúng tôi ghi nhận kết quả như sau: tỷ lệ tuân thủ cao nhất ở nhóm NVYT có
thâm niên làm việc > 5 năm với 60,0%, nhóm NVYT có thâm niên làm việc từ 2
– 5 năm là 30,8% và dưới 2 năm là 34,8%. Chúng tôi ghi nhận sự khác biệt trên
có ý nghĩa thống kê với p=0,034. Kết quả này trong nghiên cứu của chúng tôi
khác với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Liên và Trần Thị Thanh Hà,
hai tác giả này chưa ghi nhận có sự khác biệt về thâm niên làm việc với sự tuân
thủ rửa tay của NVYT [6], [7]. Chúng tôi nhận thấy kết quả trong nghiên cứu
của mình là rất hợp lý, ở những đối tượng có thâm niên làm việc lâu năm thì họ
có kinh nghiệm hơn biết được sự quan trọng của việc rửa tay, thêm một yếu tố
khác nữa hỗ trợ cho sự khác biệt này là khi mà các NVYT có thâm niên lâu năm
tức là có độ tuổi đã cao, mà chúng ta đã ghi nhận những đối tượng có độ tuổi cao
thì có sự tuân thủ rửa tay cao hơn........................................................................40
Thời điểm khảo sát là một yếu tố quan trọng mà nhiều tác giả chú ý đến khi
nghiên cứu về sự tuân thủ rửa tay của NVYT. Qua nghiên cứu tại 3 thời điểm
sáng, chiều và đêm về tuân thủ rửa tay chúng tôi nhận thấy các NVYT được
iii


khảo sát vào buổi chiều là có sự tuân thủ rửa tay cao nhất với tỷ lệ là 73,7%, tiếp
đến là buổi sáng với 51,4% và thấp nhất là vào ban đêm với tỷ lệ tuân thủ chỉ có
21,2%. Kết quả này của chúng tôi giống với nghiên cứu của tác giả Trần Thị
Thanh Hà, tác giả này cũng ghi nhận tỷ lệ NVYT được quan sát vào buổi chiều
có sự tuân thủ rửa tay cao hơn buổi sáng với 66% so với 60% [7]. Và sự khác
biệt này trong nghiên cứu của chúng tôi là có ý nghĩa thống kê với p=0,001, có
nhiều lý do cho thấy kết quả trên là hợp lý như: buổi sáng thì công việc nhiều
hơn, các NVYT phải đi thăm bệnh, tiêm thuốc, quét don… nên đôi khi họ quên
hoặc quá bận nên không thực hiện rửa tay, còn vào buổi chiều thì ít công việc

có 38,2% NVYT rửa tay bằng sát khuẩn nhanh và 60,0% rửa bằng xà phòng....43
- Sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh bệnh nhân: có 61,8% tuân thủ rửa tay,
trong đó có 31,5% đối tượng rửa tay bằng sát khuẩn nhanh và 30,3% rửa bằng xà
phòng....................................................................................................................43
2. Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ rửa tay...................................................43
Ghi nhận có 2 yếu tố liên quan đến việc tuân thủ rửa tay của NVYT là thâm niên
làm việc và thời điểm khảo sát. Trong đó những đối tượng có thâm niên làm việc
> 5 năm và thời điểm khảo sát là buổi chiều thì tuân thủ rửa tay cao hơn các
nhóm NVYT còn lại với p
Bảng 3.4 Phân bố chuyên môn đối tượng theo khoa về tuân thủ đầy đủ các thời
điểm rửa tay...............................................................................................................
22
Bảng 3.5 Phân bố thâm niên làm việc theo khoa về tuân thủ đầy đủ các thời
điểm rửa tay...............................................................................................................
23
Bảng 3.6 Phân bố giới theo khoa về tuân thủ đầy đủ các thời điểm rửa tay.............
23
Bảng 3.7 Phân bố độ tuổi theo khoa về tuân thủ đầy đủ các thời điểm rửa tay........
24
Bảng 3.8 Phân bố thời điểm khảo sát theo khoa về tuân thủ đầy đủ các thời điểm
rửa tay .......................................................................................................................
25
Bảng 3.9 Liên quan giữa giới tính và tuân thủ rữa tay.............................................
25
iv


Bảng 3.10 Liên quan giữa độ tuổi và tuân thủ rữa tay..............................................
26
Bảng 3.11 Liên quan giữa trình độ chuyên môn và tuân thủ rữa tay........................
26
Bảng 3.12 Liên quan giữa thâm niên làm việc và tuân thủ rữa tay..........................
27
Bảng 3.13 Liên quan giữa thời điểm khảo sát và tuân thủ rữa tay...........................
27
Bảng 3.14 Liên quan giữa số bệnh nhân chăm sóc và tuân thủ rữa tay của bác sĩ,
điều dưỡng và bảo mẫu.............................................................................................
27
Bảng 3.15 Liên quan giữa nhân viên các khoa và tuân thủ rữa tay của bác sĩ,

trẻ sơ sinh làm gia tăng nguy cơ tử vong của trẻ sơ sinh lên từ 2 đến 4 lần [4],
[14]. Ngày nay, mặc dù kiến thức về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện ngày
càng cao, kháng sinh phổ rộng ngày càng nhiều và các biện pháp kiểm soát
nhiễm khuẩn bệnh viện ngày càng được tăng cường, song nhiễm khuẩn vẫn chưa
giảm. Có nhiều phương thức lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện, tuy nhiên sự lây
truyền qua bàn tay nhân viên y tế là một trong những nguyên nhân hàng đầu .
Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định vệ sinh tay với dung dịch sát khuẩn tay chứa
cồn là biện pháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây truyền tác nhân gây bệnh
trong các cơ sở y tế.
Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 18/2009/TT-BYT ngày 14
tháng 10 năm 2009 hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn
tại các cơ sở khám, chữa bệnh, trong đó đã quy định thầy thuốc, nhân viên y tế,
1


sinh viên/học sinh và người bệnh, người nhà người bệnh khi đến bệnh viện phải
vệ sinh tay theo quy định và hướng dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh. Vệ sinh tay
của nhân viên y tế là một trong những giải pháp hàng đầu được Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) khuyến cáo nhằm tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện
và phòng ngừa các bệnh lây truyền cho người bệnh và nhân viên y tế trong quá
trình cung cấp dịch vụ y tế [22].Vệ sinh tay làm giảm 40% nhiễm khuẩn bệnh
viện [15].
Theo WHO, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của các nước trên thế giới dao động
từ 5% đến 89% và trung bình là 37.8% [20]. Tại Việt Nam, tỷ lệ tuân thủ vệ
sinh tay trung bình ở nhân viên y tế từ 40 - 50% [21].
Vệ sinh tay là biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả làm giảm tỷ lệ lây nhiễm
chéo nhưng thực tế theo quan sát thì việc tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế
lại chưa cao. Tại BV Nhi Trung ương năm 2010 kết quả sự tuân thủ vệ sinh tay
ban đầu tại 03 khoa HSTC tăng từ 33,3% lên 55,8% và sau cùng tăng 61,9% [5],
Bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2012 tỷ lệ tuân thủ VST ở khoa Sơ sinh là 85% [7].

1.1 Mốc lịch sử của vệ sinh bàn tay
Trong suốt thế kỷ thứ XIX, ở Châu Âu và Mỹ, 25% bà mẹ sinh con tại bệnh
viện đã tử vong do sốt hậu sản. Nguyên nhân là do vi khuẩn Streptococcus
pyogenes. Năm 1843, bác sĩ Oliver Wendell Holmes (Mỹ) yêu cầu một bác sĩ
của khoa sản (nơi ông làm việc) nghỉ việc một tháng sau 2 trường hợp bà mẹ tử
vong mà ông cho rằng liên quan đến vệ sinh bàn tay của bác sĩ đó. Ý kiến của
ông đã bị nhiều bác sĩ cùng thời phản đối.
Vào những năm 1840, bác sĩ Ignaz Semmelweis (1818 - 1865) công tác tại
Bệnh viện đa khoa Vienne (Áo) khám phá ra sự khác biệt về tỷ lệ tử vong ở các
bà mẹ sau sinh con giữa hai khoa Sản của bệnh viện. Năm 1846, Semmelweis
nghiên cứu và thấy rằng tại hai khoa Sản của bệnh viện, cùng thực hành một kỹ
thuật rửa tay. Khoa thứ nhất là khoa thực hành của sinh viên y khoa, nơi mà chỉ
có các bác sĩ và sinh viên y khoa làm việc có tỷ lệ tử vong do sốt hậu sản là
13,10%, tỷ lệ này cao gấp gần 5 lần so với khoa thứ 2 là khoa hướng dẫn thực
hành cho nữ hộ sinh (bao gồm các nữ hộ sinh và học sinh hộ sinh) có tỷ lệ tử
vong ở các bà mẹ sau sinh là 2,03%. Ông quan sát và thấy rằng các bác sĩ và sinh
viên y khoa thường không rửa tay sau khi thăm khám mỗi bệnh nhân, thậm chí
sau khi mổ tử thi bệnh nhân. Ông cho rằng nguyên nhân sốt hậu sản là do bàn tay
không rửa của các bác sĩ và các sinh viên y khoa chứa tác nhân gây bệnh. Ông đã
đề xuất sử dụng dung dịch nước vôi trong (chứa chlorine) để rửa tay vào thời
điểm chuyển tiếp sau mổ tử thi sang thăm khám bệnh nhân. Tỷ lệ tử vong của
các bà mẹ sau đó đã giảm từ 12,24 % xuống 2,38%. Tuy nhiên, tại thời điểm đó,
nhiều người cho rằng khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với người bệnh
của Semmelweis là quá nhiều và không bác sĩ nào chấp nhận đôi bàn tay của họ
chính là nguyên nhân gây tử vong hậu sản. Một số người khác thì cho rằng kết
4


quả nghiên cứu của ông là thiếu bằng chứng khoa học. Năm 1849 ông bị sa thải
khỏi bệnh viện Vienne và tới làm việc ở khoa Sản Bệnh viện Pest's St. Rochus ở

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), NKBV là các nhiễm khuẩn xuất hiện
sau 48h kể từ khi bệnh nhân nhập viện và không hiện diện cũng như không ở
giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện.
1.2.2 Tác nhân gây NKBV
Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra bởi các vi khuẩn, vi rút, nấm và ký sinh
trùng. Trong đó nhiễm trùng đường tiết niệu thông qua thủ thuật đặt dẫn lưu
nước tiểu không đảm bảo vô khuẩn là phổ biến nhất, đứng hàng thứ 2 là viêm
phổi.
1.2.3 Tình hình NKBV hiện nay
 Trên thế giới
Bất kỳ nơi nào trên thế giới, các nước phát triển cũng như các nước
nghèo đều phải đối diện với NKBV. Theo nghiên cứu của WHO tại 55 bệnh viện
của 14 nước trên các châu lục, khoảng 8,7% bệnh nhân nội trú mắc NKBV.
 Tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự thực hiện năm 2006
– 2007 tại 62 bệnh viện khu vực phía Bắc đại diện các tuyến: Trung ương,
tỉnh/Thành phố và Quận/Huyện cho thấy, tỉ lệ NKBV trung bình là 7,8%. Trong
đó các bệnh viện tuyến TW có tỉ lệ NKBV là 5,4%; các BV tuyến tỉnh/thành phố
có tỉ lệ NKBV là 8,3% cao hơn tỉ lệ NKBV ở các BV tuyến quận/huyện là 6,4%.
Tác nhân gây NKBV hàng đầu là Pseudomonas aeruginosa, tiếp đó là
Acinetobacte baumani và nấm Candida [11].
1.2.4 Hậu quả của Nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra những hậu quả nặng nề với bệnh nhân cũng
như các NVYT. Các hậu quả của NKBV bao gồm:
1.2.4.1 Tăng chi phí và tăng ngày điều trị
Tại Việt Nam, thông tin tại Đại hội Hội Kiểm soát nhiễm khuẩn Hà Nội
năm 2008 cho thấy, mỗi NKBV làm kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 9,4
6





năm 1994 đến 1997 trên 20,000 cơ hội rửa tay của NVYT tại một BV đã cho
thấy: khi tỉ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tăng từ 48% (1994) lên 66%
(1997) thì tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giảm từ 16,9% (1994) xuống còn 6,9%
(1997) Tại Việt Nam, can thiệp làm tăng sự tuân thủ vệ sinh tay của NVYT cũng
mang lại hiệu quả tích cực trong việc làm giảm tỉ lệ NKBV. [11]
1.4 Tầm quan trọng vệ sinh tay
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, rửa tay được coi là liều vắc xin tự chế, rất đơn
giản, dễ thực hiện, hiệu quả về chi phí cũng như có thể cứu sống hàng triệu
người.
Những năm gần đây, Bộ Y tế đã phát động phong trào vệ sinh bàn tay ở cả
bệnh viện và cộng đồng. Theo nhiều báo cáo của các chuyên gia kiểm soát
nhiễm khuẩn trong và ngoài nước thì các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra
trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách giữ gìn vệ sinh,
trong đó có rửa tay bằng xà phòng là biện pháp cơ bản nhất. Theo đó, chỉ một
động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây
bệnh tiêu chảy làm tử vong hàng triệu người mỗi năm trên thế giới. Việc rửa tay
cũng có thể làm giảm rủi ro nhiễm khuẩn tiêu chảy tới 47%, nhiễm khuẩn đường
hô hấp tới 19 – 45%. Các nghiên cứu cho thấy, bàn tay của một người có thể
mang tới 4,6 triệu mầm bệnh [19].
Vệ sinh tay (VST) là làm sạch tay bằng nước với xà phòng có hay không có
chất sát khuẩn và sát khuẩn tay với dung dịch có chứa cồn.
Vệ sinh tay (VST) là cách hiệu quả nhất để ngăn chặn lây lan của vi sinh
vật, giảm thiểu vi khuẩn cư trú trên tay trong hoạt động chuyên môn hàng ngày
[12].
Vệ sinh tay là nội dung cơ bản của phòng ngừa chuẩn và là biện pháp hiệu
quả nhất trong kiểm soát sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở khám
bệnh chữa bệnh.


là tuân thủ vệ sinh tay.

9


Trích đoạn Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay THỜI ĐIỂM VỆ SINH TAY
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status