NGUYN TH TUYT
ĐáNH GIá HIệU QUả GIảM ĐAU SAU Mổ NộI SOI
CắT VòI TRứNG Có KHốI CHửA BằNG BƠM
BUPIVACAIN
VàO VếT CắT Và GÂY TÊ CHỗ RạCH DA
Chuyờn ngnh: Gõy mờ hi sc
Mó s : 67.72.33.01
LUN VN BC S CHUYấN KHOA II
H NI 2011
B Y T
TRNG I HC Y H NI
1
Ngi hng dn khoa hc:
GS. Nguyn Th
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm
ơn:
• GS. Nguyễn Thụ - Chủ tịch hội Gây mê hồi sức Việt nam, nguyên
Hiệu trưởng trường Đại học Y Hà nội, nguyên chủ nhiệm Bộ môn Gây mê hồi
sức trường Đại học Y Hà nội, người thầy mẫu mực, giàu tình yêu thương, đã
hết lòng dìu dắt tôi suốt quãng đời làm gây mê hồi sức và đã trực tiếp hướng
dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
• PGS. TS. Nguyễn Hữu Tú - Phó hiệu trưởng, Chủ nhiệm bộ môn Gây
mê hồi sức trường Đại học Y Hà nội, người thầy đã tận tình giúp đỡ tôi rất
nhiều trong thời gian tôi học chuyên khoa II và làm luận văn tốt nghiệp.
• TS. Bùi Ích Kim - Người thầy đã bảo ban dạy dỗ từ năm 1984 khi tôi
bắt đầu học chuyên ngành Gây mê hồi sức đên nay và cho tôi nhiều ý kiến
quý báu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
• GS. TS. Phan Đình Kỷ - Thầy đã đóng góp cho tôi những ý kiến quý
báu để tôi hoàn thành bản luận văn này.
• PGS. TS. Nguyễn Quốc Kính ; PGS, TS. Trịnh văn Đồng – Những
Các loại phẫu thuật tuy khác nhau nhưng tất cả đều gây đau đớn. Hàng
triệu ca phẫu thuật được thực hiện hàng năm, đòi hỏi phải sử dụng thường
xuyên các phương pháp giảm đau ở các cấp độ khác nhau. Đau sau phẫu thuật
mang tính cấp thiết, nếu không được quan tâm thỏa đáng sẽ tăng nguy cơ trở
thành các cơn đau mãn tính. Giảm đau sau mổ vừa là vấn đề nhân đạo, vừa
nhằm giúp người bệnh sớm phục hồi các chức năng, giảm thiểu các biến
chứng, ổn định tinh thần. Do vậy, việc tìm kiếm các thuốc giảm đau và các
phương pháp giảm đau thích hợp luôn là mối quan tâm của các bác sĩ. Trong
suốt 2 thập kỷ qua, các kỹ thuật mới để hỗ trợ kiểm soát đau sau phẫu thuật đã
được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi [35], [42], [69].
Phẫu thuật nội soi đã cách mạng hóa phẫu thuật với nhiều ưu điểm vượt
trội: cải thiện kết quả thẩm mỹ và sự hài lòng của bệnh nhân, giảm mất máu,
giảm thời gian nằm viện, giảm đau đớn và giảm chi phí. Tuy nhiên, sau phẫu
thuật đau tiếp tục là một trong các phiền nạn ảnh hưởng khá nhiều lên người
bệnh [35], [39], [42], [57], [69]. Số lượng bệnh nhân được phẫu thuật nội soi
ngày càng nhiều đặc biệt là nội soi ổ bụng. Đau sau phẫu thuật nội soi ổ bụng
được đánh giá ở nức độ trung bình và có những nét đặc trưng riêng [38], [42].
4
Bupivacain là thuốc tê đã được sử dụng từ năm 1963, hiện nay đang
được dùng rộng rãi để gây tê vùng [5], [9]. Gần đây việc bơm bupivacain vào
ổ bụng kết hợp với gây tê tại điểm chọc trocar (ống soi) đã đem lại một số kết
quả giảm đau khá khả quan [43], [55], [56], [57], [60], [65] . Đây là một
phương pháp gây tê vùng để giảm đau được coi là đơn giản, có độ an toàn cao
và có hiệu quả đối với loại phẫu thuật đau vừa như mổ nội soi [42, 69, 75]. Một
số nghiên cứu cho thấy sau mổ nội soi ổ bụng với phương pháp giảm đau này,
đa số bệnh nhân không cần dùng thuốc giảm đau khác, hoặc lượng thuốc giảm
đau sau mổ khác được dùng giảm một cách đáng kể, đặc biệt là trong 6 giờ đầu
[16], [18], [43], [55], [56], [57], [60], [62], [65], [72]. Tại Việt nam năm 2006
cũng đã có tác giả nghiên cứu về vấn đề này [16], [18]. Tuy nhiên chưa thấy có
báo cáo nào về việc sử dụng phương pháp giảm đau này cho các bệnh nhân mổ
xác định vị trí và thời gian, kết thúc khi kích thích chấm dứt. Loại nhận cảm cả
cơ học, nhiệt học hay hóa học với nhiều tác nhân kích thích ở da, cơ và các mô
bên trong như màng xương, thành động mạch, mặt khớp, màng não, có tiết diện
hẹp (0,5mm), tiếp xúc với các sợi thần kinh C không có myelin, tốc độ dẫn
6
truyền chậm, gây cảm giác đau chậm, khó xác định vị trí và thời điểm , có khả
năng kéo dài cả sau khi kích thích đã chấm dứt [17], [20].
Các kích thích phải vượt qua ngưỡng nhận cảm của ổ cảm thụ để tạo
cảm giác đau cấp và mãn. Các ổ cảm thụ không có khả năng thích nghi,
ngược lại khi bị kích thích liên tục, chúng càng hoạt hoá làm ngưỡng đau
ngày càng giảm gây ra "hiện tượng tăng cảm giác đau" [71]. Kích thích vùng
cạnh thương tổn có thể làm giảm cảm giác đau. Khi tổ chức bị thương tổn bởi
tác nhân lý, hóa sẽ sản sinh ra các chất gây đau (chất P, postaglandin E,
histamin, serotonin, bradikinin, các ion ) [17], [20], [82] chúng kích thích
hoặc làm giảm ngưỡng hoạt hoá của ổ thụ cảm, ngoài ra các ổ thụ cảm ở các
tạng còn bị kích thích bởi sức căng kéo, co thắt hay thiếu máu [20].
Hình 1.1. Sơ đồ dẫn truyền cảm giác đau
Các xung động đau được truyền từ các ổ thụ cảm đau theo các sợi Aα,
Aβ, Aδ (có myelin) về dây thần kinh thứ nhất (protoneuron) nằm trong các
hạch thần kinh với tốc độ 4-30 m/giây nếu là đau cấp, ngắn, kiểu châm chọc,
định vị được, xuất hiện nhanh sau 0,2 giây và theo các sợi C (không có
7
myelin) tốc độ 0,5 m/giây, với cảm giác đau lan tỏa, kiểu bỏng rát, kèm theo
phản ứng tâm lý, xuất hiện chậm sau 2 -3 giây [17], [23]. Các sợi hướng tâm
đi tiếp vào rễ sau tủy tiếp nối với các tế bào trung gian (interneuron).
b. Đường dẫn truyền từ tuỷ lên não.
Ở sừng sau tuỷ sống có nhiều lớp (chia bởi Rexed 1952), lớp I, II, V gồm
các neuron nhận cảm đặc biệt đáp ứng với các kích thích gây đau ở da dù là cơ
hay nhiệt học được vận chuyển bởi các sợi Aδ và C, cũng có thể nhận kích thích
từ tạng. Lớp V còn gọi là lớp neuron hội tụ nhận xung động qua các sợi hướng
tân gai thị tận cùng ở đồi thị bên nhất là ở nhân bụng sau bên, đi lên từ
lớp I và V, tham gia vào việc tạo lập cảm giác đau phân biệt được và
đi lên vỏ não. Bó cựu gai thị tận cùng ở đồi thị giữa. một số sợi kết
thúc ở nhân giữa bên và nhân gần giữa. Các neuron này đáp ứng với
các kích thích đau có trừng tiếp nhận phân tán, gửi xung động lên vỏ
não vùng vận động, tiền vận động, trán hố mắt, là vùng giữ vai trò
thiết lập phản ứng vận động và tâm lý khi đau [17], [20].
Vỏ não: Tế bào thần kinh thứ 3 mang xung động từ đồi thị vùng
nền não về vùng cảm giác đau của vỏ não. Cảm giác đau được tiếp
nhận một cách có ý thức cả về nhận thức lẫn thái độ ứng xử. Vùng
tiếp nhận bó tân gai thị chịu trách nhiệm về nhận thức và phân tích
cảm giác đau từ vị trí tiếp nhận, bản chất, cường độ, nguyên nhân.
Vùng tiếp nhận bó cựu gai thị chịu trách nhiệm về thay đổi thái độ
ứng xử trước một cơn đau. Do vậy đau không chỉ là phản ứng thực thể
mà còn mở rộng đến cả đời sống tinh thần [17], [20].
9
1.1.3. Những yếu tố làm thay đổi ngưỡng đau
Yếu tố tâm lý: là yếu tố rất quan trọng tuy không phải là cảm giác thực
thụ, nhưng chúng ảnh hưởng và tác động sâu sắc vào cảm nhận đau,
làm thay đổi đáp ứng của mỗi cá thể với sự đau đớn. Một số trạng thái
tinh thần, xúc cảm hay quá trình tâm lý làm tăng hoặc giảm cảm nhận
đau [37], [69].
Ngưỡng đau có thể tăng trên 35% khi đãng trí đơn thuần, nếu ám thị
hoặc thôi miên có thể làm tăng ngưỡng đau đến mức mà nhiều cảm
giác đau phổ biến không nhận thấy được.
Những yếu tố thể chất:
o Tuổi: người già chịu đau tốt hơn người trẻ. Collin J. cho rằng
ngưỡng đau tăng cùng với tuổi và nhu cầu dùng thuốc giảm đau
thường giảm ở người trên 40 tuổi [37].
o Giới: ngưỡng đau của hai giới là khác nhau. Nam giới có nhịp
Tại vị trí phẫu thuật tổn thương da và các mô khác nhau cùng với các
kích thích nhiệt, hóa học và các thao tác phẫu thuật, sự co kéo các cấu trúc cơ
thể gây ra những thay đổi về thể dịch, xuất hiện các chất viêm như:
prostaglandin typ E, chất P, bradykinin,…gây thoát mạch phù nề, làm giảm
ngưỡng hoạt hóa của các ổ cảm thụ đau [19], [20], [69]. Các chất gây đau tích
lũy, hoạt hóa các sợi Aδ và C gây nhiều luồng xung động tới vùng sừng sau
của tủy tạo nên những nhận cảm đặc trưng của vùng bị tổn thương, trong đó
cảm giác đau chỉ là một phần trong các biểu hiện lâm sàng và không hằng
định [68].
11
Trong phẫu thuật ổ bụng, sự hoạt hóa các ổ thụ cảm liên quan đặc biệt
tới sự giật kéo, co thắt và sự căng của cơ trơn ở tạng rỗng. Luồng nhận cảm
tổn thương này mượn đường của thần kinh giao cảm nên thường không chính
xác, kém khu trú và có tính lan tỏa [68].
1.1.6. Ảnh hưởng của đau sau phẫu thuật ổ bụng đối với bệnh nhân
Trên tim mạch: Đau làm tăng tiết catecholamine gây mạch nhanh,
huyết áp tăng, tăng sức cản ngoại biên, tăng công cơ tim, tăng tiêu thụ oxy cơ
tim dẫn đến dễ gây thiếu máu cơ tim do mất cân bằng cung cầu về oxy của cơ
tim. Ngoài ra đau còn làm thay đổi phân phối máu đến các cơ quan, dễ gây tắc
tĩnh mạch sâu do bệnh nhân không dám vận động sớm [90], [93].
Trên hô hấp: Đau làm cho bệnh nhân không dám thở sâu, thở nhanh
nông, thể tích khí lưu thông thấp. Bệnh nhân không dám vận động, nằm yên
một tư thế dẫn đến hậu quả là làm giảm thông khí ở một số vùng phổi gây rối
loạn tỷ số thông khí tưới máu. Đau làm bệnh nhân ho khạc không hiệu quả,
gây ứ đọng đờm dãi góp phần làm tăng công hô hấp và gây mệt cơ hô hấp.
Hậu quả cuối cùng là thiếu oxy máu, huyết khối phổi, nhiễm trùng phổi và
xẹp phổi [69], [94].
Trên tiêu hoá: Đau làm giảm nhu động dạ dày ruột, kéo dài thời gian
làm rỗng dạ dày đẫn đến làm chậm trung tiện và lâu phục hồi chức năng ống
tiêu hóa [32].
2
ở vòm hoành sau mổ cũng là nguồn
gốc của đau hai vai sau phẫu thuật nội soi ổ bụng. Tuy nhiên, bệnh nhân
thường đau vai trái hơn vì vòm hoành phải được bảo vệ tốt hơn do có gan che
chắn. Cảm giác đau vai thường kéo dài trên 24 giờ. Một số nghiên cứu xác
nhận, khí tồn dư trong khoang phúc mạc có thể quan sát được trên X-quang
cho tới ngày thứ ba sau mổ [42], [70], [99]
1.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐAU SAU MỔ
1.2.1. Tâm sinh lý và cơ địa bệnh nhân
Sự lo lắng, sợ hãi làm tăng cường độ đau [35], [69], [71], [90].
Nguồn gốc xã hội, trình độ văn hoá, nhận thức giáo dục và môi trường
tại nơi điều trị là những nhân tố chủ yếu có khả năng làm ảnh hưởng đến nhận
thức đau [35], [90].
Người trẻ hút thuốc lá nhiều đòi hỏi lượng morphine để giảm đau nhiều
hơn [68], [69].
Tình trạng trầm cảm trước mổ: rối loạn giấc ngủ, ám ảnh bệnh tật,
không chỉ liên quan đến đau mãn mà còn liên quan đến đau cấp sau mổ [32].
13
1.2.2. Ảnh hưởng của phẫu thuật
Loại phẫu thuật: lồng ngực, bụng trên là đau nhiều nhất, tiếp theo là
thận, cột sống và xương, khớp [90, 94], phẫu thuật nội soi đau ít hơn, nội soi
phụ khoa ít đau hơn nội soi cắt túi mật [64].
Vị trí, phạm vi và thời gian phẫu thuật ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ
đau sau mổ [32, 69].
Tính chất đường rạch ở bụng: đường rạch ngang hoặc chéo đau hơn
đường rạch thẳng [32].
1.2.3. Các ảnh hưởng khác
Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ: chuẩn bị tốt về tâm lý, an thần trước mổ
và giải thích về diễn biến đau sau mổ làm tăng khả năng chịu đau.
Biến chứng của cuộc phẫu thuật và gây mê.
thành một khoang thực.
Phúc mạc được tạo bởi các tế bào biểu mô lát đơn mỏng dẹt, lợp lên
thành trong của cơ thể và lợp mặt ngoài các tạng, bao giờ cũng hơi ướt, nhẵn,
bóng, cho phép các tạng chuyển động dễ dàng, không bị cọ xát mạnh vào
nhau và vào thành cơ thể, vì thế còn được gọi là biểu mô trượt. Biểu mô
không chứa những mạch máu. Sự trao đổi dinh dưỡng giữa biểu mô với mô
liên kết được thực hiện qua màng đáy bằng cách khuếch tán, thẩm thấu…[3].
Phúc mạc có chức năng như một hàng rào bảo vệ các tạng và giảm bớt
ma sát giữa các tạng. Có khả năng thấm hút lớn và có diện tích rộng nên hấp
thu được thuốc là cơ sở để tiến hành thẩm phân phúc mạc. Có tính dính, đặc
biệt là mạc nối lớn . Có vai trò chống nhiễm khuẩn, khu trú ổ viêm không cho
lan rộng và có khả năng dự trữ mỡ .
15
1.4. TÍNH CHẤT DƯỢC LÝ CỦA NEFOPAM
Cấu trúc hóa học của nefopam: 5 methyl -1- phenyl- 1,3,4,6 – tetrahydro
– 2,5 benzoxazocine
Nefopam là thuốc giảm đau trung ương không phải opioid của nhóm hóa
chất các benzoxazocine, được phát triển vào đầu những năm 1970 và được sử
dụng rộng rãi ở các nước châu Âu để làm giảm các cơn đau trung bình đến
trầm trọng, thay thế cho opioid. Nefopam còn có tác dụng chống run có thể do
các thuốc dùng trong phẫu thuật gây nên. Liều 30 - 120mg có hiệu quả giảm
đau hơn aspirin nhưng tỷ lệ tác dụng phụ lớn hơn như chóng mặt, ra mồ hôi,
buồn nôn đặc biệt ở liều cao. Liều giảm đau thông thường đường uống 30mg
có tác dụng trong 4 - 6 giờ; Tiêm bắp, tĩnh mạch 10 - 20mg hoặc truyền tĩnh
mạch chậm 30 -40mg cho 4 - 6giờ. Chế phẩm dạng ống 20mg và viêm 30mg.
Nefopam giảm đau kém hơn nửa so với opioid hoặc oxycodone nhưng có xu
hướng giảm các tác dụng phụ, giảm ức chế hô hấp và ít khả năng lạm dụng
thuốc, do đó là thuốc thay thế hoặc để phối hợp giảm liều opioid. Cơ chế tác
dụng của nefopam chưa được hiểu rõ, mặc dù ức chế sự tái hấp thu serotonin,
dopamine và noradrenaline được cho là liên quan đến tác dụng giảm đau của
gấp 2 - 3 lần so với lidocain. Ức chế vận động rất ít ở đậm độ thuốc 0,25 %,
trung bình ở đậm độ 0,5 % và ức chế vận động nhiều ở đậm độ 0,75 %.
Bupvacain dược dùng để gây tê tủy sống ở đậm độ 0,5 % trong dung dịch
đẳng trương hoặc ưu trương. Thời gian ức chế cảm giác đau dài 2 đến 3 giờ
nhưng ức chế vận động thì hạn chế [5], [9].
1.5.3. Dược động học
a. Các chỉ số dược động học
Các chỉ số dược động học là do Tucker đo được sau khi tiêm bupivacain
vào tĩnh mạch. Sự phân bố bupivacain xảy ra nhanh và tuân theo mô hình 3
khoang: nửa thời gian phân bố (T/2α) là 0,45 giờ, nửa thời gian vận chuyển
17
(T/2α) là 0,3 giờ. Hệ số đào thải huyết tương của nó phụ thuộc chủ yếu vào
chức năng gan là 0,47 l/phút, mức này tương đương với hệ số phân tích của
gan là 0,38. Hệ số này giảm đi ở tuổi trên 50, Thể tích phân bố ở tính trạng ổn
định (V
Dss
) là chỉ số động học tính được là 72 - 31 lít. Tỷ lệ gắn vào protein
của bupivacain là rất cao 95 %, và chủ yếu gắn vào axít ở 1-glycoprotein bằng
các liên kết có ái tính cao và có thể bão hòa. Tỷ lệ gắn vào albumin ít hơn với
ái tính kém hơn [5], [9].
Chuyển hóa của bupivacain xảy ra ở gan và các cytochrom P450, tùy
theo từng cá thể có các chất chuyển hóa khác nhau được tạo ra. Gần như toàn
bộ số bupivacain được chuyển hóa trước khi được đào thải theo nước tiểu,
quá trình chuyển hóa khá phức tạp khử butyl để tạo ra các dẫn chất xylidic
[5], [9].
b. Độc tính
Dù được dùng theo con đường nào bupivacain cũng được hấp thu vào tuần
hoàn rồi được chuyển hóa tại gan và thải chủ yếu qua thận. Như các thuốc tê
nhóm amide bupivacain sử dụng kéo dài gây ngộ độc thàn kinh trước tim mạch,
nhưng khi sử dụng gây tê một liều và trên trẻ em có thể độc với tim trước.
loạn nhịp thất. Người ta kết luận rằng hoạt hóa hệ thần kinh thực vật cũng làm
tăng độc tính trên tim do ức chế các tế bào thần kinh hệ GABA. Thiếu oxy và toan
làm tăng độc tính của bupivacain. Tăng kali, hạ natri và tụt nhiệt độ cũng làm tăng
tác dụng độc với tim của bupivacain và đa số tai biến về tim đều xảy ra trong sản
khoa có thể do progesterone gây ra [5], [9].
19
1.5.4. Tác dụng dược lý
a. Tác dụng toàn thân:
Ngộ độc toàn thân chỉ xuất hiện khi thuốc tê thấm được vào vòng tuần
hoàn với nồng độ hiệu dụng [9]
• Tác dụng ức chế thần kinh trung ương: xuất hiện sớm nhất với trung
tâm ức chế gây nên các dấu hiệu kích thích: bồn chồn, lo âu, run cơ, cơn co
giật, mất định hướng,
• Ức chế dẫn truyền thần kinh - cơ gây nhược cơ, liệt hô hấp,
• Làm giãn cơ trơn do tác dụng liệt hạch và tác dụng trực tiếp lên cơ trơn.
• Trên tim mạch: do tác dụng làm ổn định màng, thuốc tê làm giảm tính
kích thích, giảm dẫn truyền và giảm lực co bóp cơ tim. Có thể gây nhịp chậm,
QRS rãn rộng, loạn nhịp, thậm chí rung thất và ngừng tim. Trên mạch: gây
giãn mạch, hạ huyết áp.
• Trên máu: liều cao tích tụ chất chuyển hóa gây oxy hóa.
b. Tác dụng tại chỗ:
• Đặc điểm gây tê: thời gian khởi tê chậm, tác dụng gây tê lâu, cường
độ gây tê mạnh [9].
• Thuốc tê tác dụng trên tất cả các sợi thần kinh trung ương và thần
kinh thực vật lần lượt từ sợi nhỏ đến sợi to tùy theo nồng độ của thuốc. Thứ tự
mất cảm giác là: đau, lạnh, nóng, xúc giác nông rồi đến xúc giác sâu. Khi hết
thuốc, tác dụng phục hồi theo chiều ngược lại.
• Gây tê bề mặt bôi hoặc thấm thuốc tại chỗ: dung dịch (0,1 % - 1 %).
• Gây tê tiêm thấm dưới da để thuốc ngấm được vào tận cùng thần
kinh: dung dịch (0,1 % - 1 %).
a. Đánh giá đau theo thang điểm đau bằng nhận hình đồng dạng
(Visual Analog Scale - VAS) [52], [87]
Thước đo độ đau VAS là một thước có 2 mặt dài 10 cm. Mặt quay về
phía bệnh nhân có các hình tượng biểu thị mức độ đau để bệnh nhân dễ dàng
so sánh. Mặt đối diện về phía thầy thuốc có chia thành 10 vạch. Bệnh nhân
được yêu cầu và định vị con trỏ trên thước tương ứng với mức độ đau của
mình. Khoảng cách từ chỗ bệnh nhân chỉ đến điểm 0 chính là điểm VAS (ở
mặt sau thước).
Hình tượng E (tương ứng 0 điểm): không đau.
Hình tượng D (tương ứng 1-3 điểm): đau ít.
Hình tượng C (tương ứng 4-6 điểm): đau vừa.
Hình tượng B (tương ứng 7-8 điểm): đau nhiều.
Hình tượng A (tương ứng 9-10 điểm): đau dữ dội.
22
Hình 1.2. Thước VAS
b. Thang điểm đau theo sự lượng giá và trả lời bằng số (Verbal
Numerical Rating Scale - VNRS) [52], [94]
Cách đánh giá này không cần thước, bệnh nhân được hướng dẫn thang
điểm đau (điểm 0 tương ứng với không đau, điểm 10 là đau nhất), rồi lượng
giá và trả lời bằng số tương ứng với mức đau của mình là bao nhiêu trong các
mức từ 0-10,
c. Thang điểm đau theo sự lượng giá bằng cách phân loại
(Categorical Rating Scale - CRS) [52]
Thầy thuốc đưa ra 6 mức độ đau và bệnh nhân được yêu cầu tự lượng giá
mức đau của mình theo các mức độ: không đau, đau nhẹ, đau vừa, rất đau,
đau dữ dội, đau rất dữ dội.
1.7. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢM ĐAU SAU MỔ BẰNG BƠM
BUPIVACAIN VÀO KHOANG PHÚC MẠC VÀ GÂY TÊ CHỖ RẠCH
DA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
23
trước khi kết thúc cuộc mổ, nhận thấy nhóm được dùng thuốc có sự giảm đau
đáng kể so với nhóm dùng giả dược. Tỷ lệ bệnh nhân yêu cầu dùng thêm
thuốc giảm đau ít hơn: 10% ở nhóm R 15% ở nhóm bupivacain và 45% ở
nhóm nước muối. Lượng morphin đã dùng ở 2 nhóm nghiên cứu rất ít so với
nhóm giả dược và mức độ giảm đau của nhóm ropivacain tốt hơn nhóm
bupivacain [43].
Năm 2002 Ng A. Swami và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của
bupivacain đưa vào khoang phúc mạc và gây tê đường rạch da sau mở bụng
cắt bỏ tử cung trên 60 bệnh nhân chia làm 2 nhóm: nhóm giả dược và nhóm
bơm bupivacain 0,25% 30ml vào khoang phúc mạc và 20ml vào vết mổ trước khi
đóng bụng cho thấy mức độ giảm đau đáng kể ở nhóm bupivacain với P < 0,01 và
lượng morphin tiêu thụ đã giảm rất nhiều: 62mg ở nhóm giả dược – 44mg ở
nhóm bupivacain. Tác giả kết luận rằng sự kết hợp của bơm bupivacain vào
khoang phúc mạc và tê chỗ rạch da đã cung cấp sự giảm đau đáng kể trong 4
giờ đầu cho phẫu thuật cắt tử cung đường bụng [60]
Ashraf MN. Refaie (2005) đánh giá ảnh hưởng của bupivacain nhỏ giọt
vào khoang phúc mạc để giảm đau sau phẫu thuật nội soi chẩn đoán, nghiên
cứu được tiến hành trên 63 bệnh nhân nữ vô sinh: 32 người trong nhóm
bupivacain và 31 người trong nhóm nước muối sinh lý. Kết quả cho thấy mức
độ đau tại thời điểm 1, 2 và 3 giờ sau mổ của nhóm bupivacain thấp hơn đáng
kể với P < 0,05. Số bệnh nhân vận động được sau 2 giờ cũng cao hơn và thời
gian cần thuốc giảm đau lần đầu cũng lâu hơn có ý nghĩa P < 0,05. Tác giả kết
luận bupivacain nhỏ giọt vào khoang phúc mạc có lợi cho bệnh nhân phẫu
25