nghiên cứu một số loại màng sử dụng trong chế tạo kit xác định nhóm máu - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

NGUYỄN ĐỨC HÙNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ LOẠI MÀNG SỬ DỤNG
TRONG CHẾ TẠO KIT XÁC ĐỊNH NHÓM MÁU

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẬM

NGUYỄN ĐỨC HÙNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ LOẠI MÀNG SỬ DỤNG
TRONG CHẾ TẠO KIT XÁC ĐỊNH NHÓM MÁU

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.30


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACD
CMC
CPD
CPDA
Cs
DEAE
EDTA
ELISA
HBV
HCV
HIV
Ig
Nxb
PA
PCR
PLA
PVA
BSA
Axit citrate dextrose
Carboxyl methyl cellulose
Citrate, phosphat, dextrose

1.1. MÁU VÀ CHỨC NĂNG CỦA MÁU 3
1.1.1. Định nghĩa 3
1.1.2. Khối lƣợng của máu Error! Bookmark not defined.
1.2. PHÂN LOẠI NHÓM MÁU 3
1.2.1. Hệ thống nhóm máu ABO 4
1.2.2. Hệ thống nhóm máuRh 5
1.3. KHÁNG NGUYÊN, KHÁNG THỂ 6
1.3.1. Kháng nguyên (antigen) 6
1.3.2. Kháng thể (antibody) 7
1.4. CÔNG TÁC TRUYỀN MÁU TRÊN THẾ GIỚI 7
1.4.1. Lịch sử công tác truyền máu 8
1.4.2. Truyền máu hiện đại 8
1.5. AN TOÀN TRUYỀN MÁU 8
1.6. CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHÓM MÁU 11
1.7. MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN GÂY BẤT THƢỜNG TRONG XÁC ĐỊNH
NHÓM MÁU BẰNG PHƢƠNG PHÁP HUYẾT THANH MẪU 12
1.7.1. Phản ứng yếu 12
1.7.2. Bệnh lý 13
1.7.3. Các nguyên nhân khác 13
1.8. NGUYÊN LIỆU TẠO MÀNG TRONG CHẾ TẠO THẺ XÉT NGHIỆM
NHÓM MÁU 14
1.9. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC 15
1.9.1.CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC 15
1.9.2.CÁC NGHIÊN CỨU CỦA NƢỚC NGOÀI 16
CHƢƠNG 2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP 19
2.1. NGUYÊN LIỆU VÀ HÓA CHẤT 19
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2.3. HƢỚNG DẪN SỬ DỤNG THẺ XÉT NGHIỆM 20

Bảng 1.1. Đặc điểm các nhóm máu hệ ABO và tỉ lệ ở Việt Nam 4
Bảng 1.2. Đặc điểm nhóm máu hệ Rhesus và tỉ lệ ở Việt Nam 5
Bảng 2.1. Kết quả kiểm chứng nhóm máu 21
Bảng 2.2. Độ nhạy của thẻ xét nghiệm khi xác định với nhóm máu A 23
Bảng 2.3. Độ nhạy của thẻ xét nghiệm khi xác định với nhóm máu B 23
Bảng 2.4. Độ nhạy của thẻ xét nghiệm khi xác định với nhóm máu AB 24
Bảng 2.5. Độ nhạy của thẻ xét nghiệm khi xác định với nhóm máu O 24
Bảng 3.1. Độ nhạy và độ đặc hiệu của thẻ xét nghiệm đƣợc ép màng cellophane 27
Bảng 3.2. Độ nhạy của thẻ xét nghiệm với các nồng độ CMC khác nhau 29
Bảng 3.3. Độ nhạy và độ đặc hiệu của thẻ xét nghiệm đƣợc ép màng CMC 31
Bảng 3.4. Độ nhạy của thẻ xét nghiệm với các nồng độ PVA khác nhau 32
Bảng 3.5. Độ nhạy và độ đặc hiệu của thẻ xét nghiệm đƣợc ép màng PVA 34
Bảng 3.6. Độ nhạy của thẻ sử dụng các loại màng Cellophane, CMC, PVA 35
Bảng 3.7. Độ nhạy của thẻ xét nghiệm với lƣợng kháng thể khác nhau 38
Bảng 3.8. So sánh độ nhạy và độ đặc hiệu của thẻ xét nghiệm với phƣơng pháp xét
nghiệm trên phiến kính và xét nghiệm trong tube .40
Bảng 3.9. Thời hạn sử dụng thẻ xét nghiệm 42
Bảng 3.10. Giá thành sản xuất 1 thẻ xét nghiệm nhóm máu do đề tài sản xuất .43

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo Quy chế truyền máu do Bộ Y tế ban hành ngày 19 tháng 1 năm 2007,
định nhóm máu hệ ABO tại giƣờng bệnh là một xét nghiệm bắt buộc nhằm phòng
tránh tai biến tan máu cấp trong lòng mạch do truyền nhầm nhóm máu [1].
Trên bề mặt hồng cầu ngƣời có 30 kháng nguyên thƣờng gặp và hàng trăm
kháng nguyên khác nhƣng đều là kháng nguyên có tính miễn dịch yếu. Các kháng
nguyên xếp thành hệ thống các nhóm máu ABO, Rh, Lewis, MNSs, P, Kell Trong
số này có hai hệ thống nhóm máu ABO và Rh đóng vai trò đặc biệt quan trọng
trong truyền máu [6].
Sự không tƣơng thích về mặt miễn dịch trong hệ nhóm máu ABO là nguy cơ
đe dọa nhiều nhất trong y học truyền máu [49]. Những biến chứng ở ngƣời bệnh do
truyền nhầm nhóm máu thƣờng do lỗi xảy ra trong quá trình xét nghiệm máu [35].
Định nhóm máu đầu giƣờng đƣợc thực hiện trƣớc khi truyền máu và nằm trong luật
y tế của nhiều nƣớc trên thế giới. Vấn đề quan trọng trong định nhóm máu đầu
giƣờng đối với hệ nhóm máu ABO là khả năng tƣơng thích, tính chính xác của các
xét nghiệm [15], [20]. Điều này phụ thuộc vào độ chính xác của các thiết bị xét
nghiệm. Do vậy, các quyết định truyền nhầm nhóm máu do lỗi kỹ thuật và hiệu suất
sử dụng thiết bị nghèo nàn [44].
Để bảo đảm an toàn truyền máu về mặt miễn dịch, mọi phòng xét nghiệm
phát máu đều định nhóm máu hệ ABO, hệ Rh và các hệ nhóm máu hồng cầu khác,
xác định kháng thể bất thƣờng, tiến hành phản ứng hoà hợp ở các điều kiện, nhiệt
độ khác nhau và thực hiện quy trình truyền máu đúng. Ở Việt Nam, chúng ta chỉ
định đƣợc nhóm máu hệ ABO, làm phản ứng chéo ở nhiệt độ 22
0
C nên an toàn

- Nghiên cứu xét nghiệm kiểm chứng tự động làm song song với xét nghiệm
trên thẻ để dựa vào đó đánh giá kết quả xét nghiệm.
- So sánh độ nhạy và độ chính xác của thẻ với các phƣơng pháp khác.
- Nghiên cứu điều kiện bảo quản thẻ, các hóa chất và dụng cụ kèm theo.
- Hƣớng dẫn cụ thể cho thu thập máu, các thành phần của máu và các chế
phẩm máu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MÁU VÀ CHỨC NĂNG CỦA MÁU
1.1.1. Định nghĩa
Máu là tổ chức màu đỏ, vận chuyển trong hệ thống mạch. Máu cùng với
bạch huyết, dịch gian bào và dịch não tủy tạo thành môi trƣờng trong cơ thể. Máu là
thành phần quan trọng nhất của môi trƣờng bên trong cơ thể và đảm nhiệm nhiều
chức năng sinh lý khác nhau [2].
1.1.2. Thành phần của máu
Máu gồm hai thành phần: thể hữu hình (huyết cầu) và huyết tƣơng. Các thể
hữu hình của máu là hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu, chiếm 43 - 45% tổng số máu,
chỉ số này đƣợc gọi là hematocrit. Hồng cầu là thành phần chiếm chủ yếu trong thể
hữu hình. Huyết tƣơng chiếm 55 - 57% tổng số máu. Huyết tƣơng chứa nƣớc,
protein, các chất điện giải, các hợp chất hữu cơ và vô cơ, các hocmon, các vitamin,
các chất trung gian hoá học, các sản phẩm chuyển hoá Huyết tƣơng chứa toàn bộ
các chất cần thiết cho cơ thể và toàn bộ các chất cần đƣợc thải ra ngoài. Huyết
tƣơng bị lấy mất fibrinogen thì đƣợc gọi là huyết thanh [3].
1.2. PHÂN LOẠI NHÓM MÁU
Sự hiểu biết về kháng nguyên nhóm máu là vô cùng cần thiết cho công tác

Kháng nguyên trên
màng hồng cầu
Kháng thể trong
huyết thanh
Tỷ lệ

A
A
Chống b
21,5
B
B
Chống a
29,5
AB
A và B
Không có a và b
6
O
Không có A, B
Chống a và chống b
43
Nguồn: Đỗ Trung Phấn (2006)[4]
Cơ thể nhóm máu A có kháng nguyên A trên bề mặt hồng cầu và có kháng
thể b (anti-B) trong huyết tƣơng.
Cơ thể nhóm máu B có kháng nguyên B trên bề mặt hồng cầu và có kháng
thể a (anti-A) trong huyết tƣơng.
Cơ thể nhóm máu AB có kháng nguyên A và B trên bề mặt hồng cầu và
không có kháng thể a và b trong huyết tƣơng.


99,96%
Rh(-)
Không
Không
0,04%
Nguồn: Đỗ Trung Phấn (2006)[4]
Kháng nguyên hệ thống nhóm máu Rh có tính di truyền, còn kháng thể
chống Rh chỉ xuất hiện ở cơ thể Rh(-) khi đƣợc miễn dịch bằng hồng cầu có kháng
nguyên D. Kháng thể này thƣờng là IgG. Nếu một ngƣời có Rh(-) và chƣa hề đƣợc
truyền máu Rh(+) bao giờ thì việc truyền máu Rh(+) cho họ sẽ không xảy ra phản
ứng tức thì. Tuy nhiên, sau khi truyền máu Rh(+) từ 2-4 tuần sau, lƣợng kháng thể

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6

chống Rh gây ngƣng kết hồng cầu Rh(+) của ngƣời cho vẫn tồn tại trong máu ngƣời
nhận. Sau 2-4 tháng truyền máu Rh(+), nồng độ kháng thể chống Rh trong máu
ngƣời Rh(-) mới đạt tối đa. Nếu truyền máu Rh(+) cho những ngƣời này lần thứ 2
có thể gây ra tai biến truyền máu nặng. Sau nhiều lần truyền máu Rh(+) cho ngƣời
Rh(-), ngƣời Rh(-) trở nên rất mẫn cảm với kháng nguyên Rh, tai biến khi truyền
máu là rất nguy hiểm. Đó là lý do tại sao ta phải lƣu ý tới ngƣời đã đƣợc truyền máu
nhiều lần [26].
Trƣờng hợp thứ hai là ngƣời mẹ ngƣời Rh(-), bố Rh(+). Đứa trẻ đƣợc di
truyền bố Rh(+) từ bố. Hồng cầu bố Rh(+) của thai sang máu mẹ. Ngƣời mẹ sẽ có
quá trình tạo kháng thể chống Rh, các kháng thể này qua nhau thai làm ngƣng kết
hồng cầu thai. Nếu ngƣời mẹ có thai lần đầu thì cơ thể ngƣời mẹ chƣa sản xuất đủ
kháng thể để gây nguy hiểm cho thai nhi [26].
Trƣờng hợp tiếp theo cần lƣu ý là ngƣời phụ nữ có tiền sử sảy thai. Những
ngƣời này nếu cần truyền máu phải xét nghiệm nhóm máu Rh. Nếu ngƣời mẹ này

Kháng thể đơn dòng
Các kháng thể đơn dòng chỉ nhận biết một epitope trên một kháng nguyên
cho sẵn. Các kháng thể đơn dòng cùng một dòng thì giống hệt nhau và đƣợc sản
xuất bởi cùng một dòng tƣơng bào [51].
Kháng thể đơn dòng là một công cụ hữu hiệu thiết yếu trong nghiên cứu từ
miễn dịch đến protein chips nhằm tạo các kit chẩn đoán bệnh, các liệu pháp trị liệu
[52]. Kháng thể đơn dòng đã dần thay thế kháng thể đa dòng nhờ tính đặc hiệu và
có thể sản xuất số lƣợng lớn với giá thành thấp [42]. Kháng thể đơn dòng IgM
chống A, B, AB, D sử dụng cho định nhóm máu với độ nhạy và tính đặc hiệu cao
ngày càng đƣợc nghiên cứu cải tiến, có phản ứng ngƣng kết với nhóm máu yếu
(sub-group) rất sẵn có trên thị trƣờng [51], [59].
Kháng thể đa dòng
Các kháng thể đa dòng là một tập hợp các kháng thể đặc hiệu với các epitope
khác nhau trên một kháng nguyên cho trƣớc. Trong đáp ứng miễn dịch, cơ thể tổng
hợp nhiều kháng thể tƣơng ứng với các epitope của cùng một kháng nguyên: đáp
ứng nhƣ vậy gọi là đa dòng [7].
1.4. CÔNG TÁC TRUYỀN MÁU TRÊN THẾ GIỚI

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8

1.4.1. Lịch sử công tác truyền máu
Lịch sử truyền máu trong y học thực sự mở ra sau khi Karl Landsteiner và
học trò phát hiện ra hệ nhóm máu ABO. Năm 1913, Reuben Ottenberg nêu vấn đề
hoà hợp nhóm máu trong truyền máu và đƣa ra sơ đồ truyền máu mang tên ông, từ
đây đã khắc phục đƣợc tình trạng tử vong do truyền nhầm nhóm máu [5].
Năm 1921 ở các nƣớc nhƣ Anh, Hà Lan và Australia đã thành lập đƣợc
những trung tâm truyền máu đầu tiên trên thế giới. Năm 1943, J. Loutit, P. Mollison
chỉnh lý dung dịch chống đông ACD, đã tạo điều kiện bảo quản lâu dài máu ở 4

đúng. Các biện pháp này đã đƣợc trú trọng ở các nƣớc phát triển rất sớm. Tại các
nƣớc đang phát triển, vấn đề này còn chƣa đƣợc quan tâm do vấn đề kinh phí, trình
độ cán bộ, do vậy đã có nhiều trƣờng hợp đáng tiếc xảy ra gây tử vong hoặc gây nên
tình trạng truyền máu không hiệu lực cho ngƣời bệnh. Nếu truyền 50ml máu không
tƣơng thích cho ngƣời bệnh sẽ gây ra một phản ứng cấp tính tán huyết. Điều này
cho thấy vai trò của xác định nhóm máu trƣớc khi truyền máu [27].
Tại Việt Nam để bảo đảm an toàn truyền máu cho ngƣời bệnh, chúng ta mới
chỉ thực hiện đƣợc việc định nhóm máu hệ ABO, làm phản ứng hoà hợp ở nhiệt độ
phòng thí nghiệm, do vậy chƣa bảo đảm an toàn truyền máu về mặt miễn dịch.
Để bảo đảm an toàn truyền máu về mặt miễn dịch trƣớc tiên chúng ta phải
nắm vững đƣợc các kiến thức sau:
Chức năng và các thành phần của máu
Kháng nguyên, kháng thể, phản ứng kháng nguyên, kháng thể và các yếu tố
ảnh hƣởng đến phản ứng kháng nguyên, kháng thể.
Nhóm máu hệ ABO và các phƣơng pháp xác định nhóm máu hệ ABO.
Hệ thống nhóm máu Rh và các hệ nhóm máu hồng cầu khác.
Tầm quan trọng của phản ứng hoà hợp [1].
Trong thực hành truyền máu, ngoài những qui định về những xét nghiệm
phát hiện các virut lây theo đƣờng máu, kỹ thuật bảo quản , chúng ta cần phải thực
hiện đúng qui tắc về nhóm máu. Qui tắc cơ bản là không để kháng nguyên và kháng
thể tƣơng ứng gặp nhau trong máu ngƣời nhận. Đối với hệ thống nhóm máu ABO,
thoả mãn qui tắc trên là phải truyền máu cùng nhóm. Dựa vào kháng thể đã biết của
huyết thanh mẫu (anti-A, anti-B, anti-AB), ngƣời ta xác định chính xác kháng
nguyên A và B trên bề mặt hồng cầu. Đồng thời với việc xác định nhóm máu thuộc
hệ ABO, chúng ta cần phải làm các phản ứng chéo bằng cách trộn hồng cầu ngƣời
cho với huyết thanh máu ngƣời nhận và ngƣợc lại trộn hồng cầu ngƣời nhận với

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11

Rh(-) có thể cho ngƣời có nhóm máu Rh(+) hoặc Rh(-) nhƣng chỉ nhận đƣợc ngƣời
có nhóm máu Rh(-) [3].
1.6. CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHÓM MÁU
Theo Quy chế truyền máu do Bộ Y tế ban hành ngày 19 tháng 1 năm 2007,
định nhóm máu hệ ABO tại giƣờng bệnh là một xét nghiệm bắt buộc nhằm phòng
tránh tai biến tan máu cấp trong lòng mạch do truyền nhầm nhóm máu. Định nhóm
máu có thể thực hiện bằng 2 phƣơng pháp:
1.6.1. Phƣơng pháp huyết thanh mẫu ( phƣơng pháp trực tiếp)
- Dùng huyết thanh mẫu đã biết trƣớc kháng thể để tìm kháng nguyên nhóm
máu trên màng hồng cầu.
- Trộn huyết thanh mẫu với máu ngƣời thử, dựa vào hiện tƣợng ngƣng kết
hay không ngƣng kết mà ngƣời ra tìm ra kháng nguyên trên màng hồng cầu và từ đó
xác định đƣợc nhóm máu [1].
1.6.2. Phƣơng pháp hồng cầu mẫu ( phƣơng pháp gián tiếp)
- Dùng hồng cầu mẫu đã biết trƣớc kháng nguyên để tìm kháng thể trong
huyết tƣơng ngƣời thử.
- Trộn hồng cầu đã biết trƣớc kháng nguyên với huyết tƣơng ngƣời thử. Dựa
vào hiện tƣợng ngƣng kết hay không ngƣng kết mà ngƣời ta biết đƣợc kháng thể
trong huyết tƣơng ngƣời thử, từ đó xác định đƣợc nhóm máu ngƣời thử [1].
1.6.3. Phản ứng chéo
Mặc dầu đã biết đƣợc nhóm máu của ngƣời cho và ngƣời nhận, nhƣng trƣớc
khi truyền máu bao giờ cũng phải làm phản ứng chéo để xác định sự hoà hợp giữa
máu ngƣời cho và ngƣời nhận. Lấy hồng cầu rửa ngƣời cho trộn với huyết thanh
ngƣời nhận vào trong một ống nghiệm và lấy huyết thanh ngƣời cho trộn với hồng
cầu rửa ngƣời nhận vào trong một ống nghiệm. Quan sát trên kính hiển vi hiện

x
(bao gồm những phân nhóm A có phản
ứng yếu với kháng thể chống A) có thể phản ứng với kháng thể chống AB. Do đó,
một số thẻ định nhóm máu có thêm vị trí phủ kháng thể chống AB. Mục đích là làm
tăng khả năng xác định nhóm máu, làm dễ dàng hơn cho ngƣời đọc kết quả khi gặp
phải nhóm máu có phản ứng yếu. Trƣờng hợp này cũng có thể xử lý bằng cách rửa
tế bào hồng cầu bằng dung dịch saline rồi ủ với kháng thể 30 phút để tăng khả năng
ngƣng kết giữa kháng thể và kháng nguyên yếu. Kết quả đọc trên kính hiển vi nếu
cần. Nhóm máu A
x
B có A
x
yếu dễ gây nhầm lẫn với nhóm B khi đọc kết quả.
Kháng nguyên nhóm máu chƣa đƣợc phát triển đầy đủ khi mới sinh. Vì thế
hồng cầu trẻ sơ sinh hay máu cuống rốn có thể cho phản ứng yếu. Mẫu máu đƣợc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13

lƣu trữ cũng có thể cho phản ứng yếu hơn so với máu tƣơi. Các trƣờng hợp này cần
lặp lại xét nghiệm và kết hợp thêm với các xét nghiệm khác để kết luận [1].
1.7.2. Bệnh lý
Bệnh nhân mang bệnh bạch cầu hoặc đã đƣợc điều trị bằng cấy tủy: Rửa tế
bào hồng cầu và ủ với kháng thể anti-A, anti-B, anti-AB trong 30 phút ở nhiệt độ
phòng nhằm làm tăng sự kết hợp của kháng thể với một lƣợng nhỏ kháng nguyên.
Đọc kết quả dƣới kính hiển vi phát hiện sự ngƣng kết yếu.
Một số bệnh nhân đã đƣợc điều trị bệnh nhƣ ung thƣ (dạ dày, tuỵ, ống mật,
túi mật, bệnh bạch cầu…) cũng là nguyên nhân gây ra các phản ứng yếu hoặc không
phản ứng. Các khối mô này có thể sản xuất ra một lƣợng lớn các chất làm vô hiệu

Carboxymethylcellulose là một dẫn xuất của cellulose đƣợc tạo thành bằng
phản ứng của cellulose với alkali và chloroacetic acid, nhóm carboxymethyl(-CH2-
COOH) gắn với nhóm hydroxyl của các monomers cấu tạo nên khung của cellolose.
CMC tinh khiết dạng bột màu trắng hoặc dạng vi sợi có màu hơi vàng, không mùi,
không vị, không độc. Bột CMC dễ hút ẩm, dễ hòa tan trong nƣớc thành dạng keo,
không hòa tan trong nhiều dung môi methanol, ethanol, acetone, chloroform,
benzene .

Hình 1.1. Cấu trúc phân tử của màng CMC
1.8.2. Polyvinyl alcohol (PVA)

Hình 1.2. Cấu trúc phân tử của PVA

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15

Polyvinyl alcohol (PVA) (C2H3OH)x là một polimer tổng hợp dễ hòa tan
trong nƣớc. PVA là dạng màng film lý tƣởng, có thể chuyển thành dạng keo bám
dính tốt, không mùi, không độc, chịu đƣợc dầu mỡ và nhiều dung môi hữu cơ.
Màng PVA mềm dẻo, có khả năng co dãn tùy thuộc độ ẩm.
1.8.3. Màng Cellophane
Cellophane là một dẫn xuất của cellulose đƣợc tạo thành bằng phản ứng của
cellulose hòa tan trong alkali và carbon disulfide tạo thành dung dịch keo, sau đó ép
qua khe nhỏ vào các bể hóa chất làm giảm sulfuric acid, sodium sulfate Màng
cellophane mỏng trong suốt, thấm ít đối với không khí, nƣớc. Màng cellophane
đƣợc ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực: thực phẩm, y tế, công nghiệp.

Hình 1.3. Cấu trúc phân tử của cellophane
Các loại màng CMC, PVA, cellophane đều dễ phân hủy, có thể coi là loại

Kit xét nghiệm dạng thẻ tƣơng đối đơn giản, an toàn cho ngƣời sử dụng, hạn
chế sự lây nhiễm bệnh cho cả các nhân viên y tế đặc biệt trong thời điểm hiện nay
khi nhiều bệnh nguy hiểm truyền nhiễm qua đƣờng máu ngày càng gia tăng. Thẻ xét
nghiệm định nhóm máu hệ ABO, Rh có thể sử dụng tại nhà nhờ tính đơn giản, dễ sử
dụng, đọc kết quả bằng mắt thƣờng không cần đến các trang thiết bị đặc biệt.
1.9.2. CÁC NGHIÊN CỨU CỦA NƢỚC NGOÀI
Có nhiều phƣơng pháp xác định nhóm máu trên các mẫu khác nhau: mẫu
nƣớc bọt, nƣớc tiểu, các loại mô khác nhau [29]. Các xét nghiệm định nhóm máu
trên các mẫu nƣớc bọt, nƣớc tiểu, tóc thƣờng đƣợc sử dụng trong lĩnh vực hình sự.
Trong xét nghiệm định nhóm máu tại nhà hoặc kiểm chứng hoà hợp trong truyền

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17

máu, ngƣời ta thƣờng dùng các kit xét nhiệm trên mẫu máu. Có nhiều phƣơng pháp
xác định nhóm máu khác nhau nhƣ: phản ứng ngƣng kết, ELISA, PCR xác định
chính xác kiểu gen qui định nhóm máu [1].
Trên nguyên lý của các phƣơng pháp đó, nhiều loại kit xét nghiệm đã đƣợc
nghiên cứu và phát triển. Loại kit xét nghiệm định nhóm máu đơn giản dựa trên
nguyên tắc của phản ứng ngƣng kết thƣờng đƣợc làm ở dạng thẻ xét nghiệm dạng
phiến: Serafol ABO bedside card [51], Olympus
(R)
PK
TM
[23], thẻ định nhóm máu
Eldon Card [17], hoặc thẻ xét nghiệm dạng ống (Ortho Gelcard của Mỹ [48]) hoặc
dạng que nhúng dipstick [46] cũng đƣợc nghiên cứu.
Thẻ xét nghiệm định nhóm máu đầu tiên đƣợc đăng ký bản quyền vào năm
1956 của Knud Erik Harboe Eldon. Thẻ Eldon xác định nhóm máu dựa trên phƣơng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status