Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
_____________
LÊ VĂN DŨNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG SINH CẢNH CỦA
VOỌC MŨI HẾCH (RHINOPITHECUS AVUNCULUS DOLLMAN, 1912)
Ở KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH VOỌC MŨI HẾCH
KHAU CA, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60 42 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. LÊ XUÂN CẢNH HÀ NỘI – 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này, tôi đã nhận được rất nhiều sự
động viên, giúp đỡ nhiệt tình của những người thân, các cá nhân và bạn bè đồng
nghiệp. Tôi vô cùng biết ơn tất cả những sự giúp đỡ nhiệt tình đó!
Nhân dịp này, cho phép tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
tới PGS. TS. Lê Xuân Cảnh (Viện trưởng, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) -
người đã dành thời gian hướng dẫn khoa học tận tình, chi tiết trong suốt quá trình thực
hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới bà Amy Levine (Giám đốc Sinh học
Bảo tồn – Vườn thú Denver, Hoa Kỳ) đã tài trợ kinh phí và cung cấp một số trang, thiết
Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2013
Lê Văn Dũng
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu Linh trƣởng ở Việt Nam 3
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1945 3
1.1.2. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 3
1.1.3. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay 4
1.2. Khái quát về các loài thú Linh trƣởng của Việt Nam 5
1.2.1. Phân loại học 5
1.2.2. Tình trạng bảo tồn 6
1.2.3. Các mối đe dọa 8
1.3. Giống Voọc mũi hếch Rhinopithecus 9
1.3.1. Phân loại học 9
1.3.2. Hình thái 10
1.3.3. Sinh thái và tập tính 11
1.3.4. Phân bố 13
1.4. Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) 13
1.4.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu Voọc mũi hếch ở Việt Nam 13
1.4.2. Hình thái 16
iii
3.3.4. Một vài đặc điểm về nơi ngủ và nơi kiếm ăn 46
3.4. Các mối đe dọa tới VMH ở KBTL&SCVMH Khau Ca. 49
3.4.1. Các mối đe dọa 49
3.4.2. Đánh giá các mối đe dọa 54
3.5. Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn. 56
3.5.1. Công tác bảo tồn tại KBTL&SCVMH Khau Ca 56
3.5.2. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
Kết luận 60
Kiến nghị 61
Tài liệu tham khảo 62
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CI
Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (Conservation International)
CCKL
Chi Cục Kiểm lâm
BQL
Ban quản lý
GPS
Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning
System)
FFI
chụp bởi tác giả.
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Danh sách các loài linh trƣởng của Việt Nam và tình trạng bảo tồn. 7
Bảng 1.2. Một số đặc điểm hình thái của các loài thuộc giống Rhinopithecus 10
Bảng 1.4. Kích thƣớc và trọng lƣợng của Voọc mũi hếch (R. avunculus) 16
Bảng 3.1. Thời gian và số lƣợng cá thể Voọc quan sát ở KBTL&SCVMH Khau
Ca. 32
Bảng 3.2. Kích thƣớc vùng sống theo từng tháng của Voọc mũi hếch 41
Bảng 3.3. Độ dài đƣờng di chuyển theo ngày, mùa của Voọc mũi hếch 43
Bảng 3.4. Cƣờng độ sử dụng một số loài thực vật của Voọc 45
Bảng 3.5. Tổng hợp các vị trí ngủ của Voọc mũi hếch. 48
Bảng 3.6. Kết quả đánh giá và cho điểm các mối đe dọa đến sinh cảnh và quần
thể Voọc 55 vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Voọc mũi hếch ở Khau Ca (Con đực trƣởng thành) 16
Hình 1.2. Phân bố của Voọc mũi hếch ở Việt Nam 19
Hình 1.3. Vị trí khu vực Khau Ca, tỉnh Hà Giang 21
Hình 2.1. Hệ thống các tuyến điều tra (tuyến A, C là hai tuyến theo dõi vật hậu
học) tại KBTL&SCVMH Khau Ca 25
Quang (Chiêm Hoá, Na Hang), Yên Bái (Lục Yên), Bắc Kạn (Bạch Thông, Na Rì, Chợ
Đồn, Ba Bể), Hà Giang (Bắc Mê). Kết quả điều tra trong những năm từ 1990 cho thấy,
vùng phân bố của loài linh trưởng này đã bị thu hẹp, hiện còn tập trung ở một số khu
vực thuộc tỉnh Tuyên Quang và Bắc Kạn [11]. Tuy nhiên, những ghi nhận gần đây cho
thấy Voọc mũi hếch chỉ còn sót lại ở một số khu vực sau: phân khu Tát Kẻ và phân khu
Bản Bung của khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Na Hang, tỉnh Tuyên Quang [20, 29,
30]; khu vực Khau Ca và Tùng Vài, tỉnh Hà Giang [42]. Hiện tại Khu Bảo tồn Loài và
Sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca, tỉnh Hà Giang, là nơi có quần thể Voọc mũi hếch
lớn nhất của Việt Nam và thế giới với khoảng 100 cá thể [30].
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái,
thành phần thức ăn, tập tính vận động của Voọc mũi hếch được công bố như: công
trình nghiên cứu của Boonratana và Lê Xuân Cảnh (1994) về sinh thái và tập tính của
Voọc mũi hếch ở Khu BTTN Na Hang [19]; Phạm Nhật (1993) về thức ăn và kết quả
của các cuộc điều tra thực địa về Voọc mũi hếch ở một số khu vực thuộc vùng Đông
Bắc Việt Nam [10]; Lê Khắc Quyết (2006) về một số đặc điểm sinh thái của Voọc mũi
hếch ở Khau Ca và Đồng Thanh Hải (2011) về tập tính, sinh thái và bảo tồn của Voọc
mũi hếch ở Khu BTTN Na Hang và Khu vực Khau Ca [13, 31]. Các kết quả nghiên
2
cứu, đã bổ sung những thông tin, tư liệu tốt hơn về sinh học sinh thái của loài linh
trưởng nguy cấp này.
Tuy vậy, trong những năm gần đây, sự suy giảm đa dạng sinh học đã đến mức
báo động, đặc biệt là hoạt động săn bắn và sinh cảnh bị suy giảm đang đe dọa đến sự
tồn tại của nhiều loài sinh vật hoang dã, trong đó có các loài linh trưởng. Mất sinh cảnh
sống của nhiều loài, phần lớn là do con người khai thác và sử dụng quá mức các nguồn
tài nguyên thiên nhiên mà điều đó là hoàn toàn có thể tránh được. Hơn thế công tác
quản lý và bảo tồn các loài linh trưởng này vẫn còn nhiều bất cấp, ví dụ các khu vực có
loài Voọc mũi hếch lại chưa được bảo vệ nghiêm ngặt hoặc có diện tích quá nhỏ, các
hiểu biết về sinh thái và vùng sống của chúng còn ít, dẫn đến việc thiếu cơ sở khoa học
cho các hoạt động quản lý và bảo tồn hiệu quả loài linh trưởng cự kỳ nguy cấp này.
về các đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn các loài linh trưởng. Trong suốt thời kỳ
kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), mọi hoạt động nghiên cứu trực tiếp về các loài
thú nói chung, các loài linh trưởng nói riêng, ở Việt Nam bị gián đoạn.
1.1.2. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (tháng 10 năm 1954), các nghiên
cứu về đa dạng sinh vật, trong đó có các loài linh trưởng đã được tiếp tục và phát triển.
4
Ở miền Bắc Việt Nam, các nhà khoa học Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc điều tra,
nghiên cứu về thành phần loài của các khu hệ và cả một số đặc điểm sinh học, sinh thái
của các loài thú nói chung và các loài linh trưởng nói riêng ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt
Nam, trong giai đoạn 1956 – 1971 [16]. Ở miền Nam Việt Nam, chỉ có rất ít điều tra,
nghiên cứu đã được thực hiện trong thời gian này; đáng chú ý là các công trình của
Van Peenen và cộng sự (1969) [67].
Các nghiên cứu về linh trưởng có giá trị khoa học trong thời gian này phải kể
đến các công trình là:
- Năm 1960, Đào Văn Tiến với công trình “Sur une Nouvelle Espece de
Nycticebus au Vietnam” đã mô tả một loài Cu li mới – Cu li nhỡ (Nycticebus
intermedius) ở Việt Nam [72].
- Năm 1970, Đào Văn Tiến với công trình “Sur les formes de semnopithèque noir
Presbytis francoisi (Colobidae, Primates) au Vietnam et description d’une forme
nouvelle” nghiên cứu về các phân loài của loài Voọc đen má trắng (Presbytis francoisi)
và đã mô tả một phân loài voọc mới – Voọc Hà Tĩnh (Presbytis francoisi hatinhensis)
[73].
- Năm 1973, Lê Hiền Hào xuất bản cuốn: “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam”, tập
1, cung cấp những thông tin về phân bố, đặc điểm sinh học và giá trị kinh tế của 9 loài
linh trưởng ở miền Bắc Việt Nam [5].
- Kết quả của các cuộc điều tra thú ở miền Bắc Việt Nam đã được Đào Văn Tiến
(1985) tổng kết trong cuốn: “Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam” [16].
1.1.3. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay
Theo “Hệ thống phân loại học phân tử các loài linh trưởng Đông Dương” của
Roos và cộng sự (2007) khu hệ thú linh trưởng Việt Nam gồm có 25 loài và phân loài
thuộc 3 họ: Họ Culi (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae), họ Vượn (Hylobatidae) [61].
6
Trong số 25 loài và phân loài, 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt Nam, đó
là: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus
delacouri), Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus), Chà vá chân xám
(Pygathrix cinerea), Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis) và Vượn
đen (Nomascus nasutus) [21, 60, 61].
Họ Cu li (Loridae) chỉ có 1 giống (Nycticebus) với hai loài cu li là: Cu li lớn
(Nycticebus bengalensis) và Cu li nhỏ (N. pygmaeus) [21, 60, 61].
Họ Khỉ (Cercopithecidae), ở Việt Nam, có hai phân họ: phân họ Khỉ
(Cercopithecinae) và phân họ Voọc (Colobinae), với 4 giống: Macaca,
Trachypithecus, Pygathrix và Rhinopithecus.
Trong đó, phân họ Khỉ (Cercopithecinae) chỉ có 1 giống (Macaca) gồm 6 loài
và phân loài, đặc biệt phân loài Khỉ đuôi dài Côn Đảo (M. fascicularis condorensis) là
phân loài đặc hữu của Việt Nam – hiện chỉ có phân bố ở một số đảo thuộc VQG Côn
Đảo [21].
Phân họ Voọc (Colobinae) có 3 giống: Trachypithecus (7 loài và phân loài),
Pygathrix (3 loài và phân loài) và Rhinopithecus (1 loài) [61].
Họ Vượn (Hylobatidae), ở Việt Nam, chỉ có 1 giống (Nomascus) với 5 loài và
phân loài [21, 34, 35, 60].
1.2.2. Tình trạng bảo tồn
Sự suy giảm quần thể ngoài tự nhiên đối với các loài linh trưởng ở Việt Nam
vẫn đang ở mức nghiêm trọng, nếu như không có những hành động bảo tồn thiết thực
để bảo vệ những loài linh trưởng nguy cấp này. Số loài linh trưởng bị đe dọa tuyệt
chủng của Việt Nam là cao nhất trên thế giới với 20 trên tổng số 25 loài [37]. Hiện tại,
trong các loài linh trưởng Việt Nam có đến 9 loài được xếp ở mức Nguy cấp (EN) và 7
loài được xếp ở mức Cực kỳ Nguy cấp (CR) trong Danh sách Đỏ IUCN (2013). Trong
VU
IB
VU
Họ Khỉ
Cercopithecidae
Phân họ
Cercopithecinae
3
Khỉ mặt đỏ
Macaca arctoides
VU
IIB
VU
4
Khỉ mốc
Macaca assamensis
VU
IIB
NT
5
Khỉ đuôi dài
Macaca fascicularis fascicularis
Chà vá chân
xám
Pygathrix cinerea
CR
IB
CR
10
Chà vá chân nâu
Pygathrix nemaeus
EN
IB
EN
11
Chà vá chân đen
Pygathrix nigripes
EN
IB
EN
12
Voọc mũi hếch
Rhinopithecus avunculus
CR
IB
CR
13
Voọc xám
Trachypithecus crepusculus
VU
IB
EN
19
Voọc hà tĩnh
Trachypithecus hatinhensis
EN
IB
EN
20
Voọc cát bà
Trachypithecus poliocephalus
CR
IB
CR
8 Họ Vƣợn
Hylobatidae
21
Vượn đen tuyền
Nomascus concolor
EN
IB
CR
22
Nguồn: Roos và cộng sự (2007), Văn Ngọc Thịnh và cộng sự (2010) [61, 67].
Chú thích: SĐVN – Sách đỏ Việt Nam (2007)
CR – Cực kỳ Nguy cấp; EN – Nguy cấp; VU – Sắp nguy cấp; LR – Ít
nguy cấp
IUCN – 2013 The IUCN Red List of Threatened Species
CR – Cực kỳ nguy cấp; EN – Nguy cấp; VU – Sắp nguy cấp; NT –
Gần bị đe dọa; LR – Nguy cơ thấp
NĐ 32 - Nghị định số 32/2006 NĐ-CP
Nhóm IB: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những
loài động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về
kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao.
Nhóm IIB: hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài
động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh
tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.
1.2.3. Các mối đe dọa
Các mối đe dọa lớn nhất đến hầu hết các loài linh trưởng của Việt Nam là sự
phá hủy nơi sống và hoạt động săn bắn trái phép.
Săn bắn: là mối đe dọa chính đối với các loài linh trưởng tại Việt Nam. Việc sử
dụng súng, để săn bắn rất phổ biến và chưa được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt là các
loại súng săn tự chế. Hiện nay, ở một số vùng miền núi phía Bắc, mỗi gia đình thường
có 1 khẩu súng loại này. Hoạt động săn bắn động vật thường mang tính cơ hội và bất
kỳ loài chim và thú nào cũng đều có thể là mục tiêu tiềm tàng của hoạt động săn bắn.
Người dân địa phương có truyền thống ăn thịt hầu hết các loài động vật săn bắt được,
9
trong đó có các loài linh trưởng. Bên cạnh mục tiêu săn bắn các loài linh trưởng để làm
thực phẩm sử dụng trong sinh hoạt, chúng còn đối mặt với mục tiêu săn bắn để nấu
cao, bán với giá cao trên thị trường thuốc đông dược.
Phá hủy nơi sống: Ngoài việc đất rừng bị xâm lấn làm đất nông nghiệp do dân
- Rhinopithecus avunculus
- Rhinopithecus strykeri
(Nguồn: IUCN, 2013) [37].
1.3.2. Hình thái
Bảng 1.2. Một số đặc điểm hình thái của các loài thuộc giống Rhinopithecus
Đặc điểm
R. roxellana
R. bieti
R. brelichi
R. strykeri
R. avunculus
Chiều dài cơ
thể (mm)
(thân - đầu)
680 – 760
740 – 830
(cái) 830
(đực)
60 – 762
555 (đực)
540 (cái)650
(đực)
Chiều dài đuôi
(% chiều dài
thân - đầu)
≈ 110%
70 – 90%
85 – 95%
140%
140 – 150%
chân)
Vàng
Đen
Đen
Đen
Đen
Mặt dưới đùi
Có mảng
lông sáng
màu
Màu sáng
Đen
Đen
Dương vật
Đen
Trọng lượng cơ
thể (kg)
6,5 – 10,0
(cái)15,0 –
39,0 (đực)
9,2
(cái)15,0
(đực)
7,8 (cái)
2
(Bảng 1.3). Loài Voọc
mũi hếch (R. avunculus) hiện có mật độ cá thể thấp nhất do các nguyên nhân làm suy
giảm số lượng quần thể là: săn bắn và mất sinh cảnh [19, 20, 41, 63].
Tổ chức xã hội của các loài Voọc mũi hếch đến nay vẫn chưa được nghiên cứu và
hiểu biết cặn kẽ. Một số tác giả [19, 20, 41, 63] cho rằng nhiều đơn vị gia đình kết hợp với
nhau tạo thành đàn lớn. Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Voọc và trong đàn
lớn như thế nào đến nay vẫn chưa được biết rõ ràng [41].
Thức ăn của các loài voọc mũi hếch cũng thay đổi lớn theo mỗi loài. Voọc mũi
hếch (R. avunculus) ăn các loại thức ăn từ thực vật như các loài sung vả (Ficus spp.),
các loài Polyathia và các loài thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiacae) [55]. Voọc mũi hếch
vàng (R. roxellana) ăn các loại lá, chồi non, quả và hạt thay đổi theo mùa rõ rệt, vào
mùa đông chủ yếu là địa y (41%), vỏ cây (23%) và chồi (22%) và các thời gian khác là
12
quả (38%), địa y (21%) và chồi (17%) [63, 70]. Voọc mũi hếch Quý Châu (R. brelichi)
ăn các loại lá, cuống lá, quả, hạt và chồi; thay đổi theo các mùa trong năm, từ tháng 01-
03, chúng ăn chủ yếu là chồi (90%); trong tháng 04-06, chủ yếu là các loài lá (93%); từ
tháng 07-09, ăn chủ yếu lá (58%), quả và hạt (35%); và tháng 10-12, ăn chủ yến lá non
(47%), hoa (28%) và lá (16%) [18].
Bảng 1.3. Một số đặc điểm sinh thái của các loài thuộc giống Rhinopithecus
Đặc điểm
R. roxellana
R. bieti
R. brelichi
R. strykeri
R. avunculus
Độ cao (m so
với mực
nước biển)
)
1 – 15
10 – 20
10 – 20
≤8
Sinh cảnh
Rừng hỗn
giao tre nứa,
cây lá kim
và cây lá
rụng núi cao
Rừng
thường
xanh cây lá
rộng và lá
kim ôn đới
núi cao
Rừng thường
xanh cây lá
rộng và lá
kim cận nhiệt
đới núi cao
Rừng ôn
đới hỗn
hợp
Rừng nguyên
sinh thường
xanh trên núi
đá vôi và núi
Nhưng Pocock (1924) đã nhận thấy có một vài sự khác nhau giữa các loài thuộc
giống Rhinopithecus và đã đặt lại tên cho loài Voọc mũi hếch bắt được ở Yên Bái
thuộc giống Presbytiscus [56]. Thomas (1928) đã nghiên cứu 12 mẫu vật Voọc mũi
hếch do J. Delacour và H. P. Lowe thu được vào năm 1926 và 1927 và đã ủng hộ ý
kiến này của Pocock [66].
Trong những thập niên tiếp theo với sự bùng nổ của thế chiến II (1941-1945) và
chiến tranh Pháp – Việt Nam đã xảy ra ở Miền Bắc Việt Nam (1945-1954), do đó hầu
như không có thông tin nghiên cứu về loài này. Cho tới khi các công trình nghiên cứu
về Linh trưởng của Đào Văn Tiến (1970), Lê Hiền Hào (1973) công bố:
14
Theo Lê Hiền Hào, Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus Dollman, 1912)
phân bố ở Chiêm Hóa và Na Hang (Tuyên Quang), Chợ Rã, Chợ Đồn, Na Rì và Bạch
Thông (Bắc Kạn), Định Hóa, Đại Từ (Thái Nguyên), Ngòi Hút (Yên Bái), trên bờ phía
Tây của sông Hồng. Ông cho rằng, Voọc mũi hếch cũng sống ở vùng đất thấp và rừng
núi cao ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn trong quá khứ nhưng có khả năng là
Voọc mũi hếch đang rất hiếm hoặc tuyệt chủng trong các khu vực này [5].
Năm 1985, Đào Văn Tiến công bố kết quả nghiên cứu với cuốn sách "Khảo sát
thú ở Bắc Việt Nam "Trong cuốn sách này, các ghi nhận về phân bố địa lý của loài
Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus Dollman, 1912) là rất ít [16].
Cho đến khi Hà Đình Đức và John MacKinnon tiến hành đợt khảo sát đối với
các loài Linh trưởng ở các xã Phong Huân và Đại Xao (có thể là Đại Sao), Chợ Đồn
(Bắc Kạn) trong tháng 1 năm 1988 [4]. Một quần thể 30-40 cá thể Voọc nũi hếch
(Rhinopithecus avunculus Dollman, 1912) được ghi nhận ở đây trong tháng Giêng năm
1988 và Tháng 8 năm 1989 [4].
Kết quả của cuộc điều tra năm 1990 đã dẫn tới một cuộc khảo sát cụ thể cho loài
Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus Dollman, 1912) vào năm 1992 bởi
Ratajszczak, Đặng Ngọc Cần, và Phạm Nhật (tài trợ bởi FFI, WWF và British
Airways). Các cuộc điều tra ở huyện Na Hang, Chiêm Hóa và Chạm Chu (Tuyên
Quang), Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc), ước tính số Voọc mũi hếch sống ở
và bảo tồn Voọc mũi hếch ở Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện tại Tát kẻ thuộc
khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (Tuyên Quang) và Khau Ca (Hà Giang) [30].
Trong những năm gần đây, công tác điều tra, nghiên cứu, bảo tồn và phát triển
các loài Linh trưởng quý hiếm đã và đang được chú trọng. Kết quả của các điều tra,
nghiên cứu về khu hệ linh trưởng của các địa phương, các vùng miền và các công trình
nghiên cứu về sinh học, sinh thái của các loài Linh trưởng ở Việt Nam đã được công bố
trên các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế.