LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc
và sinh trưởng của rừng Cao su (Hevea brasiliensis) trồng thuần loài tại
tỉnh Bình Phước” được hoàn thành trong chương trình đào tạo Đại học chính
quy khóa 53 (2008 – 2012) tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
Trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn, tôi nhận được sự quan
tâm và sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu Nhà trường, Khoa Lâm học, Khoa Kinh
tế và quản trị kinh doanh và các thầy cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp.
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành
đến Ban Giám hiệu, Khoa Lâm học, Khoa Kinh tế và quản trị kinh doanh, các
thầy cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp và đặc biệt là T.S Cao Danh Thịnh,
Th.S Lương Thị Phương – những người hướng dẫn khoa học – đã tận tình truyền
đạt kiến thức chuyên môn và những kinh nghiệm quý báu cùng những tình cảm
tốt đẹp nhất dành cho tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị, bạn bè, người thân đã
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Luận văn.
Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù bản thân đã có nhiều cố
gắng nhưng chắc chắn còn nhiều thiếu sót, hạn chế. Rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học để
Luận văn được hoàn thiện hơn cũng như nâng cao kiến thúc phục vụ cho
những nghiên cứu sau này.
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính toán trong Luận văn là
trung thực và được trích dẫn rõ ràng.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 20 tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Hoàng Văn Hùng
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Tên gọi Đơn vị
D
1.3
DANH MỤC CÁC BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Phân bố thực nghiệm và lý thuyết N/D
1.3
dạng Weibull 46
Hình 4.2: Phân bố thực nghiệm và lý thuyết N/H
vn
dạng Weibull 47
Hình 4.3: Phân bố thực nghiệm và lý thuyết N/D
t
dạng Weibull 48
Hình 4.4: Biểu đồ tương quan H
vn
/D
1.3
theo dạng phương trình H
vn
= a.D
1.3
b
. 54
Hình 4.5: Biểu đồ tương quan D
t
/D
1.3
theo dạng phương trình D
t
= a +b.D
1.3
.57
Khu vực này có điều kiện khí hậu và đất đai phù hợp cho cây Cao su phát triển.
Hiện tại, diện tích trồng cao su ở nước ta là 780,000ha, chiếm 34% tổng diện tích
cây công nghiệp lâu năm và cũng là cây công-lâm nghiệp có diện tích trồng lớn
nhất cả nước. Trong đó diện tích khai thác khoảng gần 500,000 ha. Trong
khoảng 5 năm năm trở lại đây, nhờ vào giá trị xuất khẩu mang lại, được chính
phủ quan tâm nên cây cao su được trồng tái canh luân phiên, nhờ vậy mà năng
suất khai thác được cải thiện đáng kể. Nếu như trong những năm 2001, năng suất
chỉ ở mức 1.3 tấn/ha thì đến năm 2010, con số này tăng lên 1.689 tấn/ha và đứng
thứ 4 trong 9 nước thành viên ANRPC. Bên cạnh việc trồng tái canh, diện tích
6
Cao su còn được mở rộng tại các tỉnh Tây Nguyên như KonTum, Gia Lai, Đăk
Lắc và miền núi Phía Bắc như Lào Cai.
Có nền tảng là đất nước có lịch sử trồng Cao su lâu đời với điều kiện tự
nhiên, đất đai rất phù hợp để phát triển cây Cao su và tính đến cuối năm 2010,
diện tích khai thác cao su chỉ chiếm 62% tổng diện tích trồng cao su, do đó
tiềm năng khai thác còn khá lớn. Kỳ vọng về một tương lại không xa, cây Cao
su sẽ góp phần đưa kinh tế nông-lâm nghiệp nước ta giàu mạnh, đưa nước ta
trở thành cường quốc về công nghiệp Cao su thiên nhiên.
Để làm được những điều đó, cần nhiều hơn nữa những sự quan tâm từ
ban ngành, các đơn vị kinh tế và quan trọng nhất vào lúc này là cần có nhiều
hơn nữa những công trình nghiên cứu, những ý tưởng khoa học thực tế, có
chất lượng để hoàn thiện hơn các nghiên cứu về cây Cao su, góp phần phát
triển cây Cao su một cách tốt nhất. Tính đến thời điểm cuối năm 2010 thì các
nghiên mới chỉ đề cập đến việc trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến gỗ và tính
chất cơ lý gỗ, mà chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về
cấu trúc và sinh trưởng cây Cao su. Nhằm góp phần bổ sung và hoàn thiện
hơn các công trình nghiên cứu về cây Cao su, đề tài “ Nghiên cứu một số đặc
điểm cấu trúc và sinh trưởng của rừng Cao su (Hevea brasiliensis) trồng
thuần loài tại tỉnh Bình Phước” được thực hiện. Với mục tiêu xây dựng các cơ
sở dữ liệu về cấu trúc rừng, các quy luật cấu trúc được mô phỏng bằng các dạng
/cây vào cuối chu kì kinh
doanh.
Hiện nay, Indonesia là nước trồng Cao su lớn nhất Thế giới. Tại nước
này người ta thành lập các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triển Cao su như: NES
(Nuclear Eatate Schemes – Kế hoạch đại điền hạt nhân ) nhằm hỗ trợ sự phát
8
triển diện tích canh tác mới của cây Cao su cho thành phần nông dân nghèo
không có đất. Tổ chức này ký hợp đồng với nhà nước và sử dụng đại điền làm
hạt nhân để hỗ trợ sự phát triển tiểu điền xung quanh như xây dựng cơ sở hạ
tầng, hỗ trợ trồng và chăm sóc vườn cây cho tới khi khai thác.
Năm 1899, Thái Lan cho nhập Cao su từ Java thuộc Indonesia về trồng
tại tỉnh Trang, vùng Tây Nam, sau đó cây Cao su đã lan sang phía Nam và
phía Đông của nước này. Ngày nay, Thái Lan đã phát triển nhân giống Cao su
ra phía Bắc và Đông Bắc. Thái Lan cũng có các tổ chức hỗ trợ cho việc phát
triển Cao su tiểu điền như ORRAF (Office of the Rubber Auction Market –
Chợ đấu giá trung tâm)…(Nuchanat Na – Ranong), 2006 [27]
Trước năm 1990, Malaysia là nước trồng và sản xuất cao su thiên nhiên
hàng đầu thế giới, sản lượng Cao su đạt cao nhất là 1,,661,000 tấn vào năm
1988. Malaysia là một điển hình trong nghiên cứu chọn lọc và khuyến cáo
giống Cao su thích nghi theo điều kiện sinh thái của môi trường để tối ưu hóa
tiềm năng của giống cây. Việc phân vùng chủ yếu dựa trên mức độ gây hại
Cao su như bệnh Nấm hồng, bệnh rụng lá phấn trắng, bệnh héo đen đầu lá và
bệnh rụng lá Corynesposa.
Ấn Độ cũng đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp
để phát triển cây Cao su ở ngoài vùng thyền thống ( từ vĩ độ 15
0
– 20
0
Bắc ),
kết quả đạt được rất khả quan và năng suất cây Cao su có thể đạt được trên
Việt Nam quản lý đạt 1,716 tấn/ha/năm, cao hơn năng suất các nước sản xuất
cao hàng đầu như Thái Lan, Indonesia, Malaysia vốn có điều kiện tự nhiên
thuận lợi hơn Việt Nam. Song năng suất Cao su tiểu điền tại Việt Nam vẫn
còn thấp, bình quân đạt 1,44 tấn/ha/năm. Giá trị xuất khẩu của Cao su Việt
Nam không những tăng về số lượng mà còn tăng đáng kể về mặt chất lượng.
Trong năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu 741.000 tấn Cao su với 15 chủng
loại khác nhau mang về nguồn ngoại tệ gần 1,4 tỷ USD (Trần Thúy Hoa,
2008) [25]
10
Sau 110 năm cây Cao su được du nhập, hiện nay nước ta đang đứng thứ
6 trên Thế giới về sản lượng Cao su thiên nhiên và thứ 4 về xuất khẩu Cao su
thiên nhiên. Trong các vùng trồng Cao su chính ở Việt Nam thì Đông Nam
Bộ chiếm 67,4 % về diện tích nhưng đóng góp đến 78,55% về sản lượng,
đồng thời cũng là vùng đạt mức năng suất cao nhất nước. Tây Nguyên và
miền Trung là vùng có điều kiện khí hậu ít thuận lợi song cây Cao su vẫn phát
triển tương đối tốt và đạt sản lượng bình quân tương ứng là 1,36 tấn/ha/năm
và 1,172 tấn/ha/năm.
Tuy nhiên, có thể thấy rõ có sự chênh lệch khá lớn giữa năng suất vườn
Cao su giữa các đơn vị sản xuất thuộc Tập Đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam
(VRG), là đơn vị có năng lực và tích cực áp dụng kịp thời các tiến bộ các tiến bộ
kỹ thuật trong canh tác cây Cao su, với năng suất đạt trên 1,7 tấn/ha trong năm
2007. VRG đã thành lập câu lạc bộ 2 tấn để khuyến khích các đơn vị thành viên
nâng cao sản lượng. Tính đến cuối năm 2007 với 6 công ty gồm 61 nông trường
đã đạt năng suất bình quân trên 2 tấn/ha (VRG, 2007) [17]
Tác giả Tống Viết Thịnh đã có công trình nghiên cứu về đánh giá phân
hạng sử dụng đất trồng Cao su. Theo tác giả căn cứ vào mức độ hạn chế của
chỉ tiêu khí hậu (chế độ mưa, cân bằng nước, chế độ nhiệt, sương mù và tốc
độ gió) và 10 chỉ tiêu đất (tầng dày, thành phần cơ giới, độ phì, sỏi đá và độ
dốc). Áp dụng nguyên tắc của FAO để phân hạng sử dụng đất trồng Cao su
gồm 3 hạng đất phù hợp và 2 hạng đất không phù hợp. Từ năm 1990 đến nay,
Ở Việt Nam cây Cao su được phát triển trên nhiều vùng khác nhau,
ngoài Đông Nam Bộ thì còn có cả Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và Tây
Bắc. Theo Nguyễn Thị Huệ (1997), Cao su là loài cây dài ngày, được độc
canh trên vùng có khí hậu nóng ẩm nên đã có nhiều bệnh xuất hiện và gây hại
làm ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng và sản lượng của cây Cao su. Tác
giả Phan Thành Dũng đã theo dõi trong thời gian từ năm 1996 - 2005, có 7
loại bệnh gây hại chính đến sinh trưởng và sản lượng cây Cao su, trong đó có
3 loại mới xuất hiện là nứt vỏ do nấm Botrydiplodia theobromae Pat (1998),
12
bệnh rụng lá Corynespora (1999) và rễ nâu do nấm Phellinus (Corner) G.H.
Cunn (2002). Các loại bệnh gây hại cho cây Cao su tại nước ta chủ yếu là do
nấm và một số tác nhân không truyền nhiễm khác, không có Mycoplasma, vi
rút, vi khuẩn, tuyến trùng (theo Phan Thành Dũng, 2006)[2]
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của phong trào trồng Cao su nên
diện tích đất thuộc vùng Đông Nam Bộ (vốn là vùng truyền thống trồng cây
Cao su của nước ta) đã không còn đáp ứng được, đã có nhiều nghiên cứu để
đưa Cao su ra ngoài vùng truyền thống. Năm 1994, Viện nghiên cứu Cao su
phối hợp với Trung tâm Cây ăn quả Phú Hộ (nay thuộc Viện KHKT nông lâm
nghiệp miền núi phía Bắc) đã đưa vào khảo nghiệm hàng chục giống Cao su
tại Phú Hộ (Phú Thọ, vĩ độ 21,27
0
B)[8]. Qua kết quả theo dõi cho thấy tại Phú
Hộ với điều kiện khí hậu môi trường đặc trưng cho vùng trung du miền núi
phía Bắc (khí hậu lạnh, mùa đông kéo dài, gió lốc…) ảnh hưởng xấu đến cây
Cao su. Nhưng hiện cây Cao su tại đây vẫn sinh trưởng tương đối tốt và hiện
tại đang cho khai thác mủ với năng suất tương đối ổn định, đạt 60 – 70% năng
suất bình quân Cao su của Đông Nam Bộ[10]
Năm 1996, Nguyễn Hải Đường có công trình “Phòng trừ sâu bệnh và
cỏ dại cho cây Cao su”
Năm 1997, Nguyễn Khoa Chi có công trình “Kỹ thuật trồng, chăm sóc
của tự nhiên, nhờ đó đã giải quyết được nhiều vấn đề trong kinh doanh rừng,
đặc biệt trong lĩnh vực lập biểu chuyên dụng phục vụ công tác điều tra dự
đoán sản lượng cũng như xây dựng hệ thống các biện pháp kinh doanh, nuôi
dưỡng rừng cho từng đối tượng cụ thể.
Cho đến nay, các thành tựu trong nghiên cứu về cấu trúc, sinh trưởng
rừng của nhân loại là rất đồ sộ. Vì thế, trong khuôn khổ một đề tài luận văn
tốt nghiệp, tôi chỉ khái quát một số công trình tiêu biểu trong và ngoài nước
có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho việc lựa chọn
phương pháp nghiên cứu.
14
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Nghiên cứu quy luật cấu trúc đường kính thân cây (N/D
1.3
)
Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D) là một trong các chỉ
tiêu quan trọng nhất của cấu trúc rừng và đã được nghiên cứu khá đầy đủ từ
cuối thế kỷ trước. Để nghiên cứu mô tả quy luật này, hầu hết các tác giả đã
dùng phương pháp giải tích, tìm các phương trình toán học dưới dạng nhiều
phân bố xác suất khác nhau. Các công trình tiêu biểu về lĩnh vực này có kể
đến các công trình sau:
Balley (1973) sử dụng hàm Weibull, Schifel (theo Phạm Ngọc
Giao(1995)[4]), Naslund (1936, 1937) xác lập quy luật phân bố Charlier cho
phân bố N/D của lâm phần thuần loài, đều tuổi sau khép tán (theo Phạm Ngọc
Giao (1995)[4]). Drachenko, Svalov sử dụng phân bố Gamma biểu thị phân
bố số cây theo đường kính lâm phần Thông ôn đới.
Đặc biệt để tăng tính mềm dẻo, một số tác giả đã dùng họ hàm khác
nhau như: Loetch (1973) (theo Phạm Ngọc Giao (1995)[4]) dùng họ hàm
Beta; Roemisch, K (1975) nghiên cứu khả năng dùng hàm Gama mô phỏng
sự biến đổi của phân bố đường kính cây rừng theo tuổi. Lembeke, Knapp và
Ditima (theo Phạm Ngọc Giao (1975)[4]) sử dụng phân bố Gamma với các
(1.3)
Clutter, J.L và Allison, B.J (1973) (theo Phùng Nhuệ Giang (2003)[3])
dùng đường kính bình quân cộng, sai tiêu chuẩn đường kính và đường kính
nhỏ nhất để tính các tham số của phân bố Weibull với giả thiết các đại lượng
này quan hệ với tuổi, mật độ lâm phần.
1.2.1.2. Nghiên cứu quy luật quan hệ giữa chiều cao với đường kính thân cây
15
Đây cũng là một trong những quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ
thống các quy luật cấu trúc lâm phần.
Qua nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với
mỗi cỡ kính luôn tăng theo tuổi, đó là kết quả tự nhiên của sinh trưởng. Trong
mỗi cỡ kính xác định, ở các cấp tuổi khác nhau cây rừng sẽ thuộc các cấp sinh
trưởng khác nhau. Khi nghiên cứu sự biến đổi theo tuổi của quan hệ giữa
chiều cao và đường kính ngang ngực, Tiourin, A.V (1972) (theo Phạm Ngọc
Giao (1975)[4]) đã rút ra kết luận: “ Đường cong chiều cao thay đổi và luôn
dịch chuyển lên phía trên khi tuổi tăng lên”. Kết luận này cũng được Vagui,
A.B (1955) khẳng định. Pordan, M (1965) ; Haller, K.E (1973) cũng phát hiện
ra quy luật: “Độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi
tăng lên”. Critis, R.O (1967) đã mô phỏng quan hệ giữa chiều cao và đường
kính theo dạng phương trình:
logh = d +b
1
. +b
2
. + b
3
. (1.4)
Kelen, R (1971) kiến nghị: Để mô phỏng sự biến đổi của quan hệ giữa
chiều cao và đường kính theo tuổi trước hết phải tìm phương trình thích hợp
cho lâm phần, sau đó xác lập mối qua hệ của các tham số theo tuổi.
.logd (1.9)
h = k.d
b
(1.10)
16
h – 1,3 = a.e
-b/d
(1.11)
Như vậy, để biểu thị tương quan giữa chiều cao với đường kính có thể
sử dụng nhiều dạng phương trình khác nhau. Việc sử dụng phương trình thích
hợp nhất cho đối tượng nào đó thì cần được nghiên cứu cụ thể. Nhìn chung,
để biểu thị đường cong chiều cao thì phương trình Parabol và phương trình
Logarit được sử dụng nhiều nhất.
1.2.1.3. Nghiên cứu quy luật quan hệ giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực
(D
t
/D
1.3
)
Tán cây thể hiện sức sống, khả năng sinh trưởng, tăng trưởng nên nó có
quan hệ mật thiết với sinh trưởng đường kính ngang ngực. Nghiên cứu của
nhiều tác giả đã khẳng định điều đó như : Zieger; Erich (1928); Cromer,
O.A.N; Ahken, JD (1948); Feree, Miller.J (1953); Hollerwoger.F (1954)…
Tùy theo loài cây và các điều kiện khác nhau, mối liên hệ này được thể hiện
khác nhau nhưng phổ biến nhất là dạng phương trình đường thẳng:
D
t
= a + b.D
1.3
(1.12)
tuổi cuối cùng và tính trước được tốc độ sinh trưởng cực đại.
Dạng hàm sinh trưởng của Gompertz (1825):
y = m. (1.13)
Trong đó: y: hàm sinh trưởng của nhân tố điều tra
A: tuổi cây (hay tuổi rừng)
m,b,c: những tham số của phương trình
Tiếp sau đó là các hàm sinh trưởng của các tác giả như: Korsun,
Assamann Frane, Schumacher, Korf…
Năm 1973, Wenk chứng minh hàm Gompertz là kết quả của một giả
thuyết vi phân đơn giản về tốc độ sinh trưởng tương đối:
(1.14)
Từ đó, có thể đi tới phương trình biểu thị tốc độ sinh trưởng tương đối
của hàm Gompertz như sau:
= b.c
1
. (1.15)
18
Các hàm dùng để mô phỏng quy luật sinh trưởng đều có dạng phức tạp,
biểu diễn quá trình sinh học phức tạp của cây rừng hoặc lâm phần. dưới sự chi
phối tổng hợp của các nhân tố nội tại và ngoại cảnh [3].
Tổng kết các công trình trên có thể nhận xét rằng: bằng phương pháp
nghiên cứu từ mô tả định tính chuyển dần sang định lượng dưới dạng các mô
hình toán học là một trong những hướng nghiên cứu thể hiện sự phát triển
vượt bậc trong nghiên cứu các quy luật sinh học của cây rừng hoặc lâm phần.
Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu sự thay đổi về số lượng của đại lượng sinh
trưởng theo thời gian của mỗi tác giả đều có những hướng nghiên cứu giải
quyết vấn đề đều khác nhau.
1.2.2. Ở Việt Nam
1.2.2.1. Nghiên cứu quy luật cấu trúc đường kính thân cây
Tác giả Đồng Sỹ Hiền (1974)[8] đã chọn hàm Pearson với 4 họ đường
(1.18)
log h = a + b.d
1.3
(1.19)
log h = a + b.log d
1.3
(1.20)
Tác giả chọn được phương trình thích hợp nhất là: log h = a + b.log d
1.3
1.2.2.3. Nghiên cứu quy luật quan hệ giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực
Vũ Đình Phương (1985) (theo Phùng Nhuệ Giang (2003)[3]) đã khẳng
định mối liên hệ mật thiết giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực tồn
tại ở dạng phương trình đường thẳng. Tác giả đã thiết lập phương trình tương
quan D
t
/D
1.3
cho một số loài cây lá rộng như : Ràng ràng, Lim xanh, Vạng
trứng, Chò chỉ ở lâm phần hỗn giao khác tuổi phục vụ công tác điều chế rừng.
Phạm Ngọc Giao (1995[4]) đã xây dựng mô hình động thái tương quan
D
t
và D
1.3
để xác lập phương trình D
t
= a + b.D
1.3
tại một thời điểm nào đó với
tham số b của phương trình là một hàm của chiều cao tầng trội với lâm phần
trưởng chiều cao tầng trội và thay đổi đồng thời hai tham số để xác định
đường cong chỉ thị cấp đất cho rừng Thông đuôi ngựa [14].
Trịnh Đức Huy (1988) đã phân tích những quy luật sinh trưởng Bồ đề
theo các điều kiện sinh thái khác nhau bằng các phương trình định lượng toán
học, trong đó các biến sinh thái đã được “số hóa”. Kết quả nghiên cứu là
những quy luật chung của lâm phần, cho một vùng nghiên cứu tương đối
rộng, chứ không phải cho từng cây rừng hay địa phương cụ thể [11].
Hoàng Xuân Y (1997) đã tiến hành phân chia cấp đất bằng chiều cao cây
có tiết diện bình quân (Hg). Tác giả thử nghiệm các hàm Korf, Schumacher,
21
Gompertz và chọn hàm Schumacher để mô phỏng sinh trưởng chiều cao cho
rừng Mỡ (M.glauca) trồng tại Trung tâm nghuyên liệu giấy.
Phạm Xuân Hoàn (2001) đã sử dụng hàm Gompertz để nghiên cứu quá
trình sinh trưởng của các lâm phần Quế ở Yên Bái [9].
Ngoài ra, nhiều tác giả khác như: Vũ Văn Nhâm, Bảo Huy, Trần Văn
Con, Hoàng Văn Dưỡng…đã nghiên cứu sinh trưởng cây rừng theo xu hướng
toán học hóa. Việc mô phỏng mang tính chất định lượng cho quá trình sinh
trưởng của cây rừng hay lâm phần là không thể thiếu trong khoa học hiện nay,
nhằm đưa ra được những cơ sở thực tiễn trong kinh doanh rừng hợp lý.
22
PHẦN 2: MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu.
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được tình hình sinh trưởng và đặc điểm cấu trúc rừng Cao su
trồng thuần loài đều tuổi, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số
biện pháp kỹ thuật lâm sinh
2.1.2. Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu được cấu trúc rừng trồng Cao su tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu được các chỉ tiêu sinh trưởng chủ yếu của rừng trồng Cao
t
/D
1.3
)
2.3.1.6. Nghiên cứu tương quan giữa chiều cao dưới cành với đường kính
ngang ngực (H
dc
/D
1.3
)
2.3.2. Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng.
2.3.2.1. Nghiên cứu sinh trưởng đường kính ngang ngực (D
1.3
)
2.3.2.2. Nghiên cứu sinh trưởng chiều cao cây (H
vn
)
2.3.2.3. Nghiên cứu sinh trưởng đường kính tán (D
t
)
2.3.3. Đặc điểm và giá trị sử dụng cây Cao su
2.3.4. Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Quan điểm và phương pháp luận
Sinh trưởng của cây rừng và quần thể rừng chịu tác động tổng hợp của
nhiều nhân tố sinh thái khác nhau như: điều kiện khí hậu, địa hình, thổ
nhưỡng, loài cây, tuổi cây, cấu trúc hình thái và biện pháp kỹ thuật tác động.
Trong một khu vực hẹp, khi điều kiện ngoại cảnh tương đối đồng nhất và với
biện pháp kỹ thuật chăm sóc tương tự thì nhân tố quan trọng có tác động phân
hóa sức sinh trưởng của rừng là nhân tố mật độ. Đây là một nhân tố nội tại,
phát triển khác. Vì vậy, khi đánh giá sự phát triển của cây rừng cần phải thực
hiện trong nhiều giai đoạn khác nhau và xem xét trong mối liên hệ mật thiết
với sự sinh trưởng của cây.
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu.
2.4.2.1. Phương pháp kế thừa:
Đề tài đã kế thừa và sử dụng một số tài liệu liên quan như:
- Sử dụng số liệu thu thập được từ đề tài cấp bộ: Lập biểu thể tích thân
cây Cao su trồng thuần loài tại Đông Nam Bộ (Chủ nhiệm đề tài: TS. Cao
Danh Thịnh)
- Những tài liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu thủy văn, tài nguyên rừng
25