Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng phục hồi trạng thái IIB tại huyện đại từ, tỉnh thái nguyên - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá và có thể tái tạo được của nước ta. Rừng có
vai trò to lớn đối với con người không chỉ ở Việt Nam mà toàn thế giới như
cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà nước, chống
xói mòn, rửa trôi Bảo vệ môi trường, là nơi cư trú của động thực vật và tàng
trữ các nguồn gen quý hiếm.
Mất

rừng

gây

ra

hậu

quả

nghiêm

trọng,
những

diện

tích

đất

sinh học.
Mặc dù diện tích rừng trồng cũng tăng trong những năm gần đây,
song rừng trồng thường có cấu trúc không ổn định, vai trò bảo vệ môi trường,
phòng hộ kém. Hầu

hết,

rừng

tự

nhiên

của

Việt

Nam

đều

bị

tác

động,

sự

tác


Đây



lối

khai thác

hoàn

toàn

tự

do,

phổ

biến



các

vùng



đồng

hai


khai

thác

trắng như:

phá

rừng làm

nương

rẫy,

khai

thác

trồng

cây

công
nghiệp,

phá



tính

chất

đất rừng,

kết

cấu

rừng

bị

phá

vỡ,

rừng
nghèo

kiệt

về

trữ

lượng



hoàn

toàn

bị

mất trắng,

khó



khả

năng
phục

hồi.
Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện
tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất
lượng. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giới có 11 triệu
ha rừng bị phá huỷ, riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hàng năm có 1,8
triệu ha rừng bị phá huỷ, tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt
đới. Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm
trọng. Năm 1943 độ che phủ của rừng là 43 %, đến năm 1993 chỉ còn 26 %.
1
2
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi,
đốt nương làm rẫy.

tỉnh Thái Nguyên.
2
3
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
Giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống lại kiến thức đã học và vận dụng
vào thực tế sản xuất. Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong
nghiên cứu đề tài cụ thể. Học tập, hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật
được áp dụng trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu.
1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Việc nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khả năng phục
hồi tự nhiên của rừng và có cơ sở đề ra những biện pháp lâm sinh như
khoanh nuôi phục hồi rừng, làm giàu rừng để có thể tận dụng được những
khu rừng sinh trưởng phát triển tự nhiên mang lại hiệu quả hơn cho cuộc
sống của người dân cũng như việc cải tạo môi trường, tăng mức độ đa
dạng sinh học.
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
+ Phục hồi rừng: Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng
trên những diện tích đã bị mất rừng. Theo quan điểm sinh thái học thì phục
hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu
tố cấu thành chủ yếu. Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai
đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán
(Trần Đình Lý, 1995) [7]. Để tái tạo lại rừng người ta có thể sử dụng các giải
pháp khác nhau tuỳ theo mức độ tác động của con người là: phục hồi nhân tạo
(trồng rừng), phục hồi tự nhiên và phục hồi tự nhiên có tác động của con

nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp sếp theo hướng thắng đứng của
các loài cây trong một diện tích có hạn. Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách
vẽ một số giả kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều.
2.1.2. Những nghiên cứu trên Thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được tiến hành từ lâu
nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác
động vào rừng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng.
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được
Richards P.W (1933 - 1934), ODum (1971), Baur. G.N (1976)… tiến hành.
Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính
về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng.
Catinot (1965) [2] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ
rừng, nghiên cứu các tác nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân
loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến…
Baur G.N.(1976) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói
chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong
đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm
sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên.
Bên cạnh đó các công trình của các tác giả Richards, Baur, Catinot, Odum,
Van Stennis được coi là nền tảng cho những nghiên cứu về cấu trúc rừng.
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra
những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao
mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự
nhiên nhiệt đới.
5
6
Tóm lại, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc
rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều
công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh
rừng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng tự


quan

tâm

nghiên

cứu.

Sở



như

vậy

vì cấu

trúc





sở

cho

việc

Thái Văn Trừng (1978)
[12]
, Trần Ngũ Phương (1970) [8] cũng đưa ra
nghiên cứu cấu trúc sinh thái để làm căn cứ phân loại thảm thực vật rừng Việt
Nam.
Khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở mước ta
Thái Văn Trừng (1978)
[12]
đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: Tầng vượt
tán (A
1
), tầng ưu thế sinh thái (A
2
), tầng dưới tán (A
3
), tầng cây bụi (B) và
tầng cỏ quyết (C). Thái Văn Trừng đã vận dụng cải tiến, bổ sung phương
pháp biểu đồ mặt cắt của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam,
trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỉ lệ nhỏ hơn và có
ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối vói những đặc trưng sinh thái và
vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình. Bên cạnh đó, tác giả này
còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia thảm thực vật trong tầng cây lập quần,
độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng thái
mùa của tán lá. Với những quan điểm trên Thái Văn Trừng đã phân chia thảm
thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu. Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng
được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát
sinh quần thể.
6
7
Nguyễn Văn Trương (1983)

đã

căn

cứ

vào

tổ
thành

loài

cây

mục

đích

để

phân

loại

rừng

phục

vụ


của

Thái

Văn
Trừng

kết

hợp

với

hệ

thống

phân

loại

của

Loeschau,

chia

rừng


đoạn tuổi tăng lên, đồng thời số loài cây gỗ tăng dần, số loài cây bụi, cây cỏ
giảm nhanh. Theo quá trình phục hồi trạng thái rừng có sự thay đổi về tầng
thứ và và thành phần thực vật ở các tầng, các giai đoạn cuối của quá trình
7
8
phục hồi (10 - 15 tuổi) rừng có cấu trúc 5 tầng rõ rệt. Trên cơ sở đó tác giả đề
xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả rừng phục hồi sau nương rẫy.
Tóm lại trong thời gian qua đã có nhiều kết quả nghiên cứu đặc điểm
cấu trúc rừng, những công trình đề cập ở trên là định hướng quan trọng trong
việc giả quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài. Trên cơ sở lựa chọn và vận
dụng những kết quả của các tác giả đi trước để nghiên cứu một số đặc điểm
cấu trúc rừng phục hồi tự nhiên sau nương rẫy, thông qua đó đề tài đề xuất
một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp đáp ứng mục tiêu kinh doanh,
góp phần khôi phục và phát triển rừng.
2.2. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.2.1. Điều kiện tự nhiên huyện Đại Từ
2.2.1.1. Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu
Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên,
cách Thành phố Thái Nguyên 25 Km, phía Bắc giáp huyện Định Hoá;
Phía Nam giáp huyện Phổ Yên và Thành phố Thái Nguyên; Phía Đông
giáp huyện Phú Lương; Phía Tây Bắc và Đông Nam giáp tỉnh Tuyên
Quang và tỉnh Phú Thọ.
Huyện Đại Từ có nhiều đơn vị hành chính nhất tỉnh: 31 xã, thị trấn,
tổng diện tích đất tự nhiên toàn Huyện là 57.790 ha và 158.721 khẩu, có 8
dân tộc anh em cùng chung sống: Kinh, tày, Nùng, Sán chay, Dao, Sán dìu,
Hoa, Ngái v.v ; Chiếm 16,58 % về diện tích, 16,12 % dân số cả tỉnh Thái
Nguyên. Mật độ dân số bình quân 274,65 người/km
2
.
Là huyện có diện tích lúa và diện tích chè lớn nhất Tỉnh ( Lúa 12.500 ha,

Như vậy Đại Từ là một huyện có diện tích đất tự nhiên tương đối rộng,
tiềm năng đất đai của Đại Từ rất đa dạng và phong phú. Trong tổng diện tích
đất tự nhiên thì diện tích đất lâm nghiệp là lớn nhất(48,43%) và đang có xu
hướng tăng dần. Nguyên nhân là do huyện không ngừng tuyên truyền, vận
động nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của rừng đầu
nguồn, rừng phòng hộ, từ đó khuyến khích nhân dân tích cực tham gia trồng
và bảo vệ rừng, thực hiện tốt việc chăm sóc, quản lí và phòng chống cháy
rừng. Hằng năm, diện tích rừng trồng mới trên địa bàn huyện không ngừng
tăng lên, năm 2009 diện tích rừng trồng mới đạt 1158 ha, năm 2010 đạt
1479,7 ha và năm 2011 đạt 1179 ha. Do đặc thù là huyện miền núi nên đặc
điểm tự nhiên của Đại Từ rất thích hợp cho phát triển sản xuất lâm nghiệp.
đặc biệt trong những năm gần đây Đại Từ đẩy mạnh công tác giao đất, giao
rừng cho nhân dân trong huyện trồng và chăm sóc, quản lí rừng. Những khu
9
10
đồi trước đây bỏ trống thì giờ chuyển thành những rừng keo, rừng quế, hay
đồi cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Từ đó người dân ngày càng tích cực
trồng và bảo vệ rừng, giữ cho diện tích rừng được ổn định, nạn phá rừng bừa
bãi được hạn chế qua các năm.
Diện tích đất nông nghiệp cũng chiếm một tỉ lệ tương đối lớn trong tổng
diện tích đất tự nhiên(28,3%), tuy nhiên diện tích này có xu hướng giảm qua
các năm. Nguyên nhân là do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá
trình khai thác khoáng sản và sự gia tăng dân số, việc xây dựng các công trình
phúc lợi xã hội như: trường học, bệnh viện, xây dựng đường giao thong, thủy
lợi…diễn ra mạnh mẽ dẫn tới việc chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp sang
làm đất chuyên dùng, đất ở. Nhưng bên cạnh đó, hiện nay diện tích đất chưa
sử dụng đang có xu hướng giảm. Nguyên nhân là do một phần diện tích đất
trước đây là đồi hoang, cỏ tranh, cây dại mọc tự nhiên không canh tác thì nay
dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của UBND tỉnh, huyện về cả vốn và kỹ thuật chăm
sóc đã được thay bằng những trang trại trồng cây ăn quả, cây công nghiệp kết

Như vậy Đại Từ là một huyện có diện tích đất tự nhiên tương đối rộng,
tiềm năng đất đai của Đại Từ rất đa dạng và phong phú. Trong tổng diện tích
đất tự nhiên thì diện tích đất lâm nghiệp là lớn nhất(48,43 %) và đang có xu
hướng tăng dần. Nguyên nhân là do huyện không ngừng tuyên truyền, vận
động nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của rừng đầu
nguồn, rừng phòng hộ, từ đó khuyến khích nhân dân tích cực tham gia trồng
và bảo vệ rừng, thực hiện tốt việc chăm sóc, quản lí và phòng chống cháy
rừng. Hằng năm, diện tích rừng trồng mới trên địa bàn huyện không ngừng
tăng lên, năm 2009 diện tích rừng trồng mới đạt 1158 ha, năm 2010 đạt
1479,7 ha và năm 2011 đạt 1179 ha. Do đặc thù là huyện miền núi nên đặc
điểm tự nhiên của Đại Từ rất thích hợp cho phát triển sản xuất lâm nghiệp.
đặc biệt trong những năm gần đây Đại Từ đẩy mạnh công tác giao đất, giao
rừng cho nhân dân trong huyện trồng và chăm sóc, quản lí rừng. Những khu
đồi trước đây bỏ trống thì giờ chuyển thành những rừng keo, rừng quế, hay
đồi cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Từ đó người dân ngày càng tích cực
trồng và bảo vệ rừng, giữ cho diện tích rừng được ổn định, nạn phá rừng bừa
bãi được hạn chế qua các năm.
Diện tích đất nông nghiệp cũng chiếm một tỉ lệ tương đối lớn trong tổng
diện tích đất tự nhiên(28,3%), tuy nhiên diện tích này có xu hướng giảm qua
các năm. Nguyên nhân là do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá
trình khai thác khoáng sản và sự gia tăng dân số, việc xây dựng các công trình
phúc lợi xã hội như: trường học, bệnh viện, xây dựng đường giao thông, thủy
11
12
lợi…diễn ra mạnh mẽ dẫn tới việc chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp sang
làm đất chuyên dùng, đất ở. Nhưng bên cạnh đó, hiện nay diện tích đất chưa
sử dụng đang có xu hướng giảm. Nguyên nhân là do một phần diện tích đất
trước đây là đồi hoang, cỏ tranh, cây dại mọc tự nhiên không canh tác thì nay
dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của UBND tỉnh, huyện về cả vốn và kỹ thuật chăm
sóc đã được thay bằng những trang trại trồng cây ăn quả, cây công nghiệp kết

Công), thăm công viên cổ tích, vườn thú, Vui chơi tắm mát ở công viên nước.
Tại đây có hệ thống khách sạn, nhà hàng ăn uống phong phú từ bình dân đến
cao cấp Trong nhiều năm nay hồ Núi Cốc đã trở thành một địa chỉ thăm
quan hấp dẫn cho du khách gần xa trong và ngoài nước.
Ngoài ra còn có một số điểm di tích lịch sử khác như: Núi Văn - Núi Võ
ở Văn Yên và Ký Phú; Di tích 27/7 (xã Hùng Sơn), Khu đài tưởng niệm
Thanh niên xung phong (xã Yên Lãng); Khu di tích chiến khu Nguyễn Huệ
(xã Yên Lãng); Nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên (xã La Bằng) và các khu
du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Tam Đảo trải dài trên 11 xã.
Đại Từ còn là nơi nối liền khu di tích lịch sử ATK (huyện Định Hoá)
với Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang).
2.3.1.7. Kết cấu hạ tầng
* Hệ thống cung cấp điện: Huyện Đại Từ có mạng lưới điện Quốc gia
kéo đến 31 xã, thị trấn.
* Giao thông: Đại Từ có mật độ đường giao thông khá cao so với các
huyện trong tỉnh. Tổng chiều dài đường bộ trên địa bàn khoảng gần 600km.
Trong đó:
- Đường quốc lộ 379, chạy dài suốt huyện dài 32km, đã được dải nhựa.
- Đường tỉnh quản lý: gồm 3 tuyến đường: Đán đi Hồ Núi Cốc; Đại Từ
đi Phổ Yên, Khuôn Ngàn đi Minh Tiến - Định hóa; Phú Lạc đi Đu - Ôn
Lương (Phú Lương).
- Còn lại là các tuyến đường bê tông, đường đá, cấp phối thuộc huyện và
xã quản lý. Chủ yếu là đường liên xã, liên thôn, xóm. Cả 31 xã, thị trấn đều đã
có đường ô tô tới trung tâm xã, song do đặc diểm của huyện miền núi, hệ
thống giao thông còn gây ách tắc trong mùa mưa lũ, do vậy chưa đáp ứng cho
sự phát triển và giao lưu hàng hóa trên địa bàn.
13
14
Tuyến đường sắt Quán Triều - Núi Hồng dài 33,5 km là một thuận lợi
lớn, sông về chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, cần phải có kế hoạch từng

- Tiềm năng về du lịch cũng là một lợi thế để phát triển ngành dịch vụ
thương mại trên địa bàn; Trên cơ sở Hồ Núi Cốc kết hợp với các điểm di tích lịch
sử cách mạng nối liền với khu ATK Tân Trào- Tuyên Quang và Định Hoá.
* Về văn hóa - xã hội
- Huyện Đại Từ có nhiều đơn vị hành chính nhất tỉnh: 2 thị trấn là Đại
Từ và Quân Chu, 29 xã là : An Khánh, Bản Ngoại, Bình Thuận, Cát Nê, Cù
Vân, Đức Lương, Hà Thượng, Hoàng Nông, Hùng Sơn, Khôi Kỳ, Ký Phú, La
Bằng, Lục Ba, Minh Tiến, Mỹ Yên, Na Mao, Phú Cường, Phú Lạc, Phú Thịnh,
Phú Xuyên, Phúc Lương, Phục Linh, Quân Chu, Tân Linh, Tân Thái, Tiên
Hội, Vạn Thọ, Văn Yên, Yên Lãng.
Đại Từ là địa bàn sinh sống của 8 dân tộc như: Kinh, Tày, Nùng, Sán
chay, Dao, Sán dìu, Hoa, Ngái v.v… Chiếm 16,58 % về diện tích và 16,12 %
dân số cả tỉnh Thái Nguyên. Mật độ dân số bình quân 274,65 người/km
2
. Đây
là đặc thù của vùng miền núi như Đại Từ do đặc điểm tự nhiên tạo nên.
- Y tế: Công tác xóa xã, thị trấn trắng về y tế được quan tâm và thực hiện
có hiệu quả, đến nay Đại Từ đã không còn xã trắng về y tế. Công tác khám
chữa bệnh ngày càng được nâng cao, song công tác y tế của huyện vẫn còn rất
nhiều khó khăn như: thiếu thuốc điều trị bệnh, thiếu y cụ phục vụ cho khám
chữa bệnh, số lượng cán bộ y tế còn ít và trình độ chưa đồng đều.
- Giáo dục: Hệ thống giáo dục của huyện Đại Từ tương đối phát triển,
huyện có 33 trường mầm non. Có 68 trường phổ thông, trong đó, THPT có 3
trường, THCS có 30 trường, tiểu học có 35 trường, tổng số học sinh là 25.534
học sinh (năm 2010), số giáo viên là 1614 giáo viên (năm 2010). Cơ sở vật
chất trang thiết bị dạy và học ở các trường trên địa bàn huyện từng bước được
cải thiện. Ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng để nâng cao chất lượng giáo
dục, thực hiện cuộc vận động “4 không” trong giáo dục.
15
16

16
17
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
3.4.2.1. Phương pháp kế thừa
Đề tài kế thừa các số liệu sau: Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí
hậu, thuỷ văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng; Tư liệu về điều kiện dân
sinh, kinh tế, xã hội; Những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
3.4.2.2. Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn
Để mô tả một quần xã thực vật, số liệu cần phải được thu thập trên một
số ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích đủ lớn. Việc áp dụng phương pháp điều tra
theo OTC ngẫu nhiên.
a. Cách lập ô:
Cách bố trí các ô đo đếm được thể hiện trong hình 3.01.
Hình 3.01. Cách bố trí các ô đo đếm trong ô tiêu chuẩn diện tích 2500 m
2
- Đối với ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời: Đối với rừng núi đá, diện tích
OTC: 500 m
2
(25 m x 20 m), hình dạng OTC phụ thuộc vào địa hình. Đối với
đất có rừng tự nhiên trên núi đất, diện tích OTC: 2500 m
2
(50 m x 50 m), hình
dạng OTC phụ thuộc vào địa hình. Phân bố OTC đặt ngẫu nhiên, đại diện cho
17
18
từng nhóm thực vật khác nhau, đại diện cho địa hình, độ dốc, điều kiện thổ
nhưỡng khác nhau. Các OTC được đánh dấu ngoài hiện trường thông qua hệ
thống cột mốc gồm 4 cột đặt ở 4 góc của ô. Phần trên mặt đất 0,5m ghi rõ số
hiệu OTC và hướng xác định các góc còn lại.
- Đối với ô thứ cấp và ô dạng bản: Trong OTC, lập 5 ô thứ cấp 25m

trưởng hoặc lợi dụng gỗ.
+ Cây phẩm chất C (xấu): Cây phẩm chất C là những cây đã trưởng
thành, bị khuyết tật nặng (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn ) hầu
như không có khả năng lợi dụng gỗ; hoặc những cây chưa trưởng thành
18
20 m
25m
19
nhưng có nhiều khiếm khuyết (cây cong queo, sâu bệnh, rỗng ruột, cụt ngọn
hoặc sinh trưởng không bình thường), khó có khả năng tiếp tục sinh trưởng và
phát triển đạt đến độ trưởng thành.
Hình 3.02: Xử lW các cây trên đường ranh giới ô đo đế́m
Không tính vào ÔĐĐ
Đo tính và ghi vào ÔĐĐ
- Đo chiều cao: Đo chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành tất cả
các cây đã đo đường kính. Đơn vị đo đếm là mét, đo chính xác đến 0,2m.
- Đo đường kính tán: Đo đường kính tán (Tính trung bình cho đường
kính theo hai hướng: Đông - Tây và Nam - Bắc) cho mỗi cây đã đo đường
kính. Tất cả các số liệu được ghi vào biểu mẫu 01 (Phụ lục 01).
3.4.3. Phương pháp phân tích và xử lí số liệu
Các chỉ số thông dụng được tính theo các công thức đã được sử dụng
rộng rãi trong thực tiễn thống kê, quy hoạch rừng với việc sử dụng chương
trình Excel.
(1) Đặc điểm cấu trúc rừng:
a. Cấu trúc tổ thành sinh thái tầng cây gỗ:
Tổ thành là chỉ tiêu biểu thị tỉ lệ mỗi loài hay nhóm loài tham gia tạo
thành rừng, tuỳ thuộc vào số lượng loài có mặt trong lâm phần mà phân chia
lâm phần thành rừng thuần hoài hay hỗn loài, các lâm phần rừng có tổ thành
loài khác nhau thì chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và tính đa
dạng sinh học cũng khác nhau.

Gi
Di
s
i

=
=
Trong đó: G
i
là tiết diện thân của loài thứ i; s là số loài trong quần hợp

Với: D
i
là đường kính 1.3 m (D
1.3)
của cây thứ i; s là số loài trong quần hợp
Theo đó, những loài cây có chỉ số IVI ≥ 5% mới thực sự có ý nghĩa về
mặt sinh thái trong lâm phần. Theo Thái Văn Trừng (1978) trong một lâm
phần nhóm loài cây nào chiếm trên 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì
nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế.
b. Mật độ:
Công thức xác định mật độ như sau:

10.000
n
N x
S
=
(cây/ha)
1

21
Trong đó:
- n: Tổng số cá thể của loài trong các OTC,
- S: Tổng diện tích các OTC (ha).
c. Đánh giá phân bố số loài
- Phân b  s  loài, s  cây theo các c p    ng kính: S  loài và s  cây
   c tính cho các c p    ng kính: 6 - 10 cm; 11 - 15 cm; 16 - 20 cm, k t
qu     c th  hi n b ng   th.
- Phân b  s  loài, s  cây theo các c p chi u cao: S  loài và s  cây
   c tính cho các c p chi u cao: 1 - 5 m; 6 - 10 m; 11 - 15 m, k t qu 
   c th  hi n b ng   th.
d. Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học của quần hợp cây gỗ rừng
Trong đề tài, sử dụng chỉ số Shannon để đánh giá tính đa dạng của các
quần hợp cây gỗ đã nghiên cứu vì chỉ số này đánh giá tổng hợp cả độ đa dạng
loài (số loài) và độ đa dạng trong loài, tính theo công thức.

N
n
N
n
H
i
s
i
i
ln`
1

=
−=

yếu và nhóm loài cây thứ yếu.
Mức độ tham gia của từng loài cây trong quần xã thực vật được xác định
thông qua công thức tổ thành. Về mặt phương pháp có thể biểu thị cấu trúc tổ
thành thực vật theo số cây, theo tổng diện ngang, theo tổng trữ lượng của từng
loài hoặc kết hợp việc xác định công thức tổ thành theo số cây và theo tổng
diện ngang của từng loài cây.
Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng, tổ thành là vấn đề được chú trọng hàng
đầu. Bởi lẽ tổ thành là nhân tố sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến các
nhân tố sinh thái, hình thái của rừng, tính bền vững, tính ổn định, sự đa dạng
sinh học. Nó ảnh hưởng to lớn đến các định hướng kinh doanh, quản lý và lợi
dụng rừng. Những hệ sinh thái có tổ thành thực vật phức tạp thì sức đề kháng
chống chiụ, ổn định càng cao hơn. Vì vậy thực tiễn kinh doanh lâm nghiệp
luôn luôn mong muốn thiết lập và duy trì những hệ sinh thái hỗn loài.
Cấu trúc tổ thành của một lâm phần rừng nói lên toàn bộ giá trị của lâm
phần. Đề tài sử dụng chỉ số IVI % (Importance Value Index) để biểu thị công
thức tổ thành tầng cây gỗ cho các trạng thái rừng phục hồi.
Theo Danniel marmillod (1958) cho rằng, những loài cây có chỉ số IVI >
5 % là những loài có ý nghĩa về mặt sinh thái. Theo Thái Văn Trừng (1978)
[12] trong một lâm phần, loài cây nào đó chiếm trên 50 % tổng số cá thể tầng
cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế, đây là những cơ sở
quan trọng để xác định loài hoặc nhóm loài ưu thế. Trên cơ sở đó, tôi thống
22
23
kê tất cả những loài và cá thể loài cây gỗ ở tầng cây cao và tầng cây nhỡ của
trạng thái thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên sau khai thác có chỉ số IVI
> 5 %. Từ những điều tra, đánh giá và thu thập được ngoài thực địa thu được
kết quả như sau:
Bảng 4.01. Tổ thành cây gỗ trạng thái rừng IIB
ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên


(Ghi chú: Lob: Lọng bàng; Khn: Kháo nước; Thn: Thành ngạnh; Thm:
Thừng mực; Bư: Bứa; Ngr: Ngót rừng; Reb: Re bầu; Tht: Thẩu tấu; So: Sồi;
Sod: Sồi dẻ; Ch: Chẩn, Nun: Núc nác; Thb: Thôi ba; Nhr: Nhãn rừng; Tr:
Trẩu; Tam: Táu muối; Lk: Loài khác)
Từ số liệu bảng 4.01 trên ta thấy số loài tham gia vào công thức tổ thành
là khá đồng đều tuy nhiên hệ số tổ thành rừng còn thấp. Không có loài ưu thế
nào vượt quá 50 % tổng số cá thể trong tầng cây gỗ nên không đạt ưu thế
tuyệt đối. Phần lớn vẫn là các loài cây ưa sáng mọc nhanh như: Chẹo tía,
Thành ngạnh, Thừng mực, Re bầu…
23
24
Có từ 21 - 24 loài cây trong các ô tiêu chuẩn và có từ 5 - 7 loài ưu thế
tham gia vào công thức tổ thành. Mật độ cây lớn nhất là 488 cây/ha và thấp
nhất là 428 cây/ha.
Hình 4.01. Biểu đồ số loài cây ưu thế và tổng số loài theo OTC
thái rừng IIB ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Qua bảng 4.01 và biểu đồ ta thấy số lượng loài cây ưu thế ở các ô tiêu
chuẩn là khác nhau và các loài ưu thế chiếm từ 5 - 7 loài trên tổng số loài.
Ở OTC 01 loài cây chiếm ưu thế cao nhất là 2 loài trong đó có cây Sồi,
hệ số tổ thành là 15,24 và Thành ngạnh hệ số tổ thành là 9,31.
Ở OTC 02 loài cây chiếm ưu thế cao nhất lần lượt là Sồi, hệ số tổ thành
là 9,89 và Lọng bàng hệ, số tổ thành là 9,48.
Ở OTC 03 loài cây chiếm ưu thế cao nhất lần lượt là Sồi, hệ số tổ thành
là 13,33 và Thành ngạnh, hệ số tổ thành là 9,51.
Ở OTC 04 loài cây chiếm ưu thế cao nhất lần lượt là Re bầu, hệ số tổ
thành là 11,58 và Thành ngạnh hệ số tổ thành là 10,10.
Ở OTC 05 loài cây chiếm ưu thế cao nhất lần lượt là Thành ngạnh, hệ số
tổ thành là 11,67 và Re bầu, hệ số tổ thành là 10,90.
Ở OTC 06 loài cây chiếm ưu thế cao nhất lần lượt là Thành ngạnh, hệ số
tổ thành là 12,25 và Re bầu, hệ số tổ thành là 10,99.

tương đối đồng đều, biến động trong khoảng từ 428 cây/ha đến 488 cây/ha.
Mật độ cây thay đổi ở mỗi vị trí điều tra, nhưng số lượng không đáng kể. Mật
độ trung bình là 463 cây/ha. Như vậy có thể thấy số lượng cây gỗ tại khu vực
nghiên cứu có mức độ đồng đều cao.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status