i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN PHẠM THỊ KIM ANH PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN CÁC CHỦNG VI KHUẨN CÓ
ĐẶC TÍNH PHÂN HỦY PHÂN TỬ TÍN HIỆU ‘‘QUORUM
SENSING
’’ VÀ ĐỐI KHÁNG VỚI VI KHUẨN GÂY BỆNH
GAN THẬN MỦ (Edwardsiella ictaluri) TRÊN CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus)
Chuyên ngành: VI SINH
Mã số chuyên ngành: 604240
LUẬN VĂN THẠC SĨ: SINH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TĨNH
Tp.Hồ Chí Minh, 2012
1.2.3 Tình hình nghiên cứu bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra
trên cá tra 12
1.2.3.1 Bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra trên cá tra 12
Mục lục Luận văn Thạc sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh iv
1.2.3.2 Các nghiên cứu phòng bệnh do Edwardsiella ictaluri gây ra
trên cá tra 12
1.3 Giới thiệu về probiotic 13
1.3.1 Định nghĩa probiotic 14
1.3.2 Đặc điểm của probiotic 15
1.3.3 Vai trò của Probiotic 15
1.3.4 Cơ chế tác động của probiotic 16
1.3.4.1 Tác động đối kháng 16
1.3.4.2 Cải thiện chất lượng nước 17
1.3.4.3 Tăng cường hệ miễn dịch 18
1.3.4.4 Ảnh hưởng đến sự sinh tr
ưởng 19
1.3.4.5 Sự hình thành quần thể trong ruột (Gut colonization) 20
1.4 Cơ chế hoạt đông của hệ thống “ Quorum sensing” ở vi khuẩn gây bệnh .
21
1.4.1 Định nghĩa quá trình “Quorum sensing” 22
1.4.2 Hệ thống “Quorum sensing” của Edwardsiella spp. 22
1.4.3 Sự phân hủy sinh học quá trình “Quorum sensing” của vi khuẩn gây
bệnh 23
1.4.3.1 Enzyme AHL lactonase 23
1.4.3.2 Enzyme AHL acylase 24
Chương 2 – VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Thời gian và địa điể
m nghiên cứu 26
được tuyển chọn 38
2.4.7.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự tăng trưởng của vi khuẩn tuyển
chọn 38
2.4.7.2 Ảnh hưởng của pH lên sự tăng trưởng của vi khuẩn tuyển chọn
38
2.4.7.3 Ảnh hưởng của nồng độ muối lên sự tăng trưởng c
ủa vi khuẩn
tuyển chọn 39
2.4.7.4 Khả năng chịu pH dạ dày 39
2.4.7.5 Khả năng chịu muối mật 40
Mục lục Luận văn Thạc sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh vi
2.4.8 Định danh vi khuẩn sử dụng phương pháp truyền thống và giải trình
tự gen 16S rRNA 41
2.4.8.1 Định danh vi khuẩn sử dụng phương pháp truyền thống 41
2.4.8.2 Định danh vi khuẩn bằng phương pháp giải trình tự gen 16S
rRNA 47
2.4.9 Thử khả năng tương thích giữa các chủng vi khuẩn đã được chọn . 48
2.5 Xử lý kết quả . 49
Chương 3 – KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Phân lập vi khuẩ
n có khả năng phân hủy phân tử tín hiệu AHL ở vi
khuẩn Edwarsiella ictaluri 50
3.1.1 Số lượng dòng vi khuẩn thu được qua các đợt phân lập 50
3.1.2 Biến động giá trị pH của hỗn dịch vi khuẩn trong quá trình phân lập
51
3.1.3 Biến động mật độ quang của các hỗn hợp vi khuẩn qua quá trình phân
lập 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Danh Mục Luận văn Thac sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AHL N- Acyl Homoserine Lactone
BA Blood Agar
BHI Brain Heart Infusion
BHIA Brain Heart Infusion Agar
bp base pair
CFU Colony Forming Unit
COD Chemical Oxygen Demand
ctv. Cộng tác viên
ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cữu Long
Bảng 3.2. Khả năng phân hủy HHL của những dòng vi khuẩn đã được phân lập 53
Bảng 3.3. Kết quả kiểm tra khả năng đối kháng với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
bằng phương pháp thạch khuếch tán 54
Bảng 3.4. Tỉ lệ % mẫu có khuẩn lạ
c đối kháng với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri.55
Bảng 3.5. Kết quả kiểm tra khả năng đối kháng với Edw. ictaluri bởi các dòng vi
khuẩn khảo sát bằng bốn phương pháp 57
Bảng 3.6. Kết quả thử khả năng sinh hemolysin 59
Bảng 3.7. Tổng hợp các đặc tính của các chủng vi khuẩn được sàng lọc: khả năng
phân hủy HHL, đối kháng Edw. ictaluri và sinh hemolysin 60
Bảng 3.8. Kế
t quả kiểm tra khả năng đối kháng bằng phương pháp đường vuông
góc. 62
Bảng 3.9. Kết quả kiểm tra khả năng đối kháng bằng phương pháp thạch khuếch tán
62
Bảng 3.10. Kết quả nhuộm gram 71
Bảng 3.11. Kết quả định danh 4 chủng vi khuẩn gram âm bằng Kit API 20E 72
Bảng 3.12. Kết quả định danh 2 chủng vi khuẩn gram dương bằng Kit API 50 CHL
73
Bảng 3.13. Kết quả định danh bằng sinh học phân tử 74
Bảng 3.14. Thử khả năng tương thích lẫn nhau giữa các chủng vi khuẩn tuyển chọn
. 74
Danh Mục Luận văn Thac sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh x
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Vi khuẩn gây bệnh gan thận mủ Edwardsiella ictaluri 8
Hình 1.2. Cá bệnh ESC cấp tính nhưng không có biểu hiện lâm sàng (A), Cá bệnh
ESC cấp tính với những đốm xuất huyết màu đỏ ở phần đầu và bụng (B) và Cá bị
bệnh ESC mãn tính (C) 9
Hình 1.3. Cá tra khỏe mạnh với nội tạng bình thường (A), cá tra bị bệnh mủ ở gan
bốn chu kỳ 51
Đồ thị 3.2. Biến động mật độ quang của các hỗn hợp vi khuẩn trong các hỗn hợp vi
sinh vật từ hệ tiêu hóa cá tra thịt và giống, nước và bùn ao nuôi cá tra qua bốn chu
kỳ 52
Đồ thị 3.3. Đường cong tăng trưởng chủng T1DT101 (a), T1DT103 (b), G1DT102
(c), G2VL1.2 (d), B4TAG19A (e), N4TAG22a1(f) 63
Đồ thị 3.4. Ảnh hưở
ng của nhiệt độ lên sự sinh trưởng của các chủng vi khuẩn
tuyển chọn 64
Đồ thị 3.5. Ảnh hưởng của nồng độ muối lên sự sinh trưởng của các chủng vi khuẩn
tuyển chọn 65
Đồ thị 3.6. Ảnh hưởng của pH lên sự sinh trưởng của các chủng vi khuẩn tuyển
chọn 66
Đồ thị 3.7. Tỉ l
ệ sống (%) của các chủng vi khuẩn khảo sát theo thời gian ở pH3(a),
pH2(b) 67
Đồ thị 3.8. Tỉ lệ sống (%) của các chủng vi khuẩn khảo sát theo thời gian ở nồng độ
muối mật 0,5% (a), 1% (b), 2% (c) 69
Mở đầu Luận văn Thac sĩ
Để thay thế dần phương pháp phòng bệnh truyền thống, phương pháp phòng và trị
bệnh bằng liệu pháp sinh học ngày càng được ưa chuộng như vaccine, các chất tăng
cường hệ miễn dịch (immunostimulants), chế phẩm sinh học (probiotic). Nghiên
cứu về vaccine ứng dụng trên cá tra vẫn đang được nhiều nhà khoa học quan tâm.
Mở đầu Luận văn Thac sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh 2
Vaccine được cho là phương pháp hiệu quả nhất trong phòng ngừa một số bệnh gây
ra bởi vi khuẩn và virus, nhưng chưa được sử dụng phổ biến có thể là do giá thành
quá cao, thời gian nghiên cứu lâu và thường gây sốc cho cá. Những thành công
đáng chú ý là việc sử dụng các chất tăng cường hệ miễn dịch vừa có phổ phòng
ngừa bệnh rộng vừa thân thiện với môi trường. Hơn thế nữa, phương pháp trị liệ
u
sinh học bằng vi sinh vật có lợi (probiotic) được mong đợi và trở thành công cụ
phòng ngừa, điều trị nhiều bệnh hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản thông qua khả
năng cải thiện môi trường nước và ức chế vi sinh vật gây bệnh. Đặc biệt là các vi
sinh vật có lợi có khả năng phân hủy phân tử tín hiệu “Quorum sensing” của các vi
khuẩn gây bệnh và có khả năng làm giảm độc lực của chúng.
Trong nghiên c
ứu này, cách tiếp cận của đề tài là phân lập, tuyển chọn những
chủng vi khuẩn từ hệ tiêu hóa cá tra thịt và giống, từ nước và bùn đáy ao nuôi cá tra,
có khả năng đối kháng và phân hủy phân tử tín hiệu “Quorum sensing” của vi
khuẩn Edwardsiella ictaluri. Đây là cách tiếp cận mới hiện nay về nghiên cứu và
ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản nhằm kiểm soát dịch bệnh
do vi khuẩn gây nên. Đề tài thành công là kế
t quả bước đầu chọn ra các dòng vi
khuẩn có những đặc tính ưu việt, làm nguồn nguyên liệu cho nghiên cứu tạo chế
phẩm sinh học ứng dụng cho các ao nuôi cá tra nhằm giảm thiểu dịch bệnh gây rủi
ro cho người nuôi.
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “ PHÂN LẬP, TUYỂN
Chương 1: Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
người nuôi, những biện pháp thay thế đang được tìm kiếm. Trong đó có việc sử
dụng vaccine, các chất kích thích miễn dịch, các peptide kháng khuẩn, hợp chất tiền
sinh học (prebiotic), chế phẩm vi sinh (probiotic). Đặc biệt, việc sử dụng chế phẩm
vi sinh đang ngày càng được quan tâm và ứng dụng rộng rãi.
Dựa trên kết quả một số nghiên cứu về các vi khuẩn probiotic có đặc tính đối
kháng v
ới vi khuẩn gây bệnh trong nuôi trồng thủy sản (Bảng 1.1). Sàng lọc những
Chương 1: Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh 5
vi khuẩn có đặc tính đối kháng với vi khuẩn gây bệnh dựa vào phương pháp xác
định hoạt tính ức chế in vitro [40], [79], [133] là cách tiếp cận được sử dụng chủ
yếu trong việc phân lập vi khuẩn probiotic. Hiện nay, có bốn phương pháp thường
được sử dụng để sàng lọc các chủng vi khuẩn tiết ra các hợp chất ức chế in vitro:
Phương pháp đường vuông góc, phương pháp thạch khuếch tán, phương pháp đĩa
giấy khuếch tán và phươ
ng pháp BLIS (Bacteriocin-like inhibitory substance). Tất
cả các phương pháp trên đều dựa trên một nguyên tắc là khi một chủng vi khuẩn tiết
ra một hợp chất ngoại bào có đặc tính ức chế một chủng vi khuẩn khác, hoạt tính
này sẽ được thể hiện thông qua việc ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn khác trong
môi trường agar.
Trong một số trường hợp, những vi khuẩn ứng cử viên sau khi sàng lọc in vitro
sẽ đượ
c kiểm tra in vivo ở qui mô nhỏ về đặc tính an toàn đối với vật chủ [40], [79]
và khả năng bảo vệ vật chủ khi gây cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh [81], [89].
Một số nghiên cứu khác, những vi khuẩn ứng cử viên sau khi sàng lọc sẽ tiếp tục
được kiểm tra những đặc tính khác như khả năng chịu đựng muối mật [37], khả
năng kích thích hệ miễn dịch [82], sự hình thành quần th
ể [36], khả năng cạnh tranh
chất dinh dưỡng [73]. Trong thực tế, những nghiên cứu này là cần thiết để kiểm tra
các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu tạo những chế phẩm vi sinh được
phân lập trong nước sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, có hiệu quả tương đương
nhưng giá thành rẻ hơn nhiều so với các chế phẩm vi sinh có nguồn gốc nhập ngoại.
Tiến sĩ Võ Thị Hạnh (Viện Sinh học Nhiệt đới, 2003) [5] đã tạo ra chế phẩm
BIO II bằng cách phối trộ
n các chế phẩm vi sinh vật sống và enzyme tiêu hóa tự sản
xuất. Chế phẩm BIO II có tác dụng phân hủy thức ăn thừa và các khí thải ở đáy ao,
ổn định pH và màu nước ao, kìm hãm sự tăng trưởng của các vi sinh vật gây bệnh
cho tôm cá và tăng năng suất nuôi trồng.
Chế phẩm EM có nguồn gốc từ Nhật, gồm năm nhóm loài vi sinh có ích (vi
khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn, nấm sợi) với khoảng 80 loài
vi sinh vật sống cộng sinh trong một môi trường. Chế phẩmEM đã được Việt Nam
hóa dưới cái tên VEM (Vietnamese effective microorganisms) và được ứng dụng
rộng rãi trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản [15].
PGS.TS. Lê Dụ (2005) [2] đã xây dựng được bảy qui trình kỹ thuật ứng dụng
các loại chế phẩm EM tương ứng với bảy đối tượng nông nghiệp. Sử dụng chế
phẩm EM trong nuôi tôm sú tại Bình Định bước đầu cho thấ
y những kết quả khả
quan trong việc hạn chế ô nhiễm môi trường ao nuôi. Những ao sử dụng chế phẩm
này có màu nước trong, độ kiềm và pH dao động không đáng kể, tôm không bị nhớt
và phát triển ổn định.
Đề tài “Nghiên cứu công nghệ xử lý cặn bùn ao nuôi tôm công nghiệp góp
phần làm sạch nền đáy và sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh” của nhóm nghiên cứu
Viện Công Nghệ Sinh Học và Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Th
ủy Sản I, đã tạo
được chế phẩm từ tổ hợp năm chủng vi sinh vật (trong đó có hai chủng vi khuẩn,
Chương 1: Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh 7
một chủng xạ khuẩn, hai chủng nấm sợi, một chủng nấm men) [14]. Chế phẩm
đã xác định Edwardsiella ictaluri gây bệnh nhiễm khuẩn đường ruột cấp tính trên cá
da trơn, hội chứng này được gọi tắt là ESC và có thể dẫn đến tỉ lệ chết cao ở cá
nheo Mỹ.
Ở Việt Nam bệnh gan thận mủ trên cá tra xuất hiện lần đầu tiên vào cuối năm
1998, tác nhân gây bệnh lúc đầu
được xác định bởi nhóm nghiên cứu của trường
Đại học Stirling phối hợp với trường Đại học Cần Thơ là Bacillus sp.[62]. Đến năm
2002 nhóm nghiên cứu này đã đính chính lại tác nhân gây bệnh gan thận mủ trên cá
tra là vi khuẩn Edwardsiella ictaluri [42].
Chương 1: Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh 8
1.2.1.2 Đặc điểm vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
Vi khuẩn Edwardsiella ictaluri thuộc họ Enterbacteriaceae là vi khuẩn gram
âm, hình que, kích thước 1 x 2 - 3μm, không sinh bào tử, là vi khuẩn yếm khí tùy ý,
phản ứng catalase dương tính, oxidase âm tính, không oxy hoá, lên men trong môi
trường glucose. Có 1-3 Plasmid liên kết với Edw. ictaluri [104], [134] . Những
plasmid có thể đóng vai trò quan trọng trong việc đề kháng với kháng sinh.
Edwarsiella ictaluri là một trong những loài khó tính nhất của chủng Edwarsiella.
Edwarsiella ictaluri tăng trưởng chậm trên môi trường thạch BHIA khoảng từ 36 –
48 giờ ở 28 – 30
o
C, phát triển thành khuẩn lạc nhỏ và tăng trưởng rất chậm hoặc
không tăng trưởng khi ủ ở 37
o
C. Vi khuẩn có thể phân lập từ mẫu cá bệnh (gan,
thận, tỳ tạng) trên môi trường TSA, EMB sau 48 giờ ở 28
o
C tạo thành khuẩn lạc
trung ương như quay tròn, nhào lộn. Bệnh xuất hiện sau 30 ngày kể từ khi dịch bệnh
cấp tính bùng phát và tỉ lệ chết b
ắt đầu giảm. Biểu hiện lâm sàng cơ bản là khối u
nhỏ hay vết lở loét xuất hiện trên đầu.
Hình 1.2. Cá bệnh ESC cấp tính nhưng không có biểu hiện lâm sàng (A), Cá bệnh
ESC cấp tính với những đốm xuất huyết màu đỏ ở phần đầu và bụng (B) và Cá bị
bệnh ESC mãn tính (C).
Đối với cá tra
Hình 1.3. Cá tra khỏe mạnh với nội tạng bình thường (A), cá tra bị bệnh mủ ở gan
thận với nội tạng sưng to và nhiều đốm mủ trắng trên thận, lá lách và gan (B).
A
B
C
B
Chương 1: Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh 10
Cá nhiễm bệnh, tỉ lệ chết cao (10-90%), có thể lên đến 100% đồng thời trên
gan, thận và tụy tạng xuất hiện nhiều đốm trắng đường kính 1-3mm bên trong chứa
dịch màu trắng đục [10]. Bệnh thường xảy ra nhiều vào mùa mưa lũ khi nhiệt độ
nước nằm trong khoảng 20 – 29
0
C [137].
1.2.1.4 Đường lây truyền [132]
Edw. ictaluri có thể nhiễm cho cá bằng hai đường khác nhau:
¾ Vi khuẩn trong nước có thể qua đường mũi của cá vào cơ quan khứu giác di
chuyển vào dây thần kinh khứu giác, sau đó vào não và bệnh lan rộng từ màng não
đến sọ và da.
được ngay từ khi cá được gây miễn dịch ở giai đoạn 7 ngày tuổi và 10 ngày tuổi. Tỉ
lệ sống của cá 7 ngày tuổ
i được gây miễn dịch dao động trong khoảng 58,4 –
77,5%, đối với cá 10 ngày tuổi thì dao động trong khoảng 64,1 – 78,9%. Ba năm
sau đó, nhóm tác giả này cũng đã nghiên cứu phương pháp in ovo đối với việc sử
dụng các loại vaccine sống cải tiến này, khi gây miễn dịch từ giai đoạn trứng của cá
nheo Mỹ, bằng phương pháp ngâm trong thời gian 10 phút. Kết quả cho thấy
phương pháp gây miễn dịch này là khá hiệu quả, với tỉ
lệ bảo hộ khoảng 59,7%
[131].
Shelby và ctv. (2007a,b) bổ sung hai loại chế phẩm sinh học probiotic có chứa
Pediococcus sp. và Enterococcus sp. (riêng lẻ hoặc phối hợp với nhau) vào thức ăn
của cá nheo Mỹ giống và cho ăn trong vòng 5 – 8 tuần. Sau đó tiến hành đo các chỉ
tiêu: tăng trọng, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và các thông số miễn dịch như
protein huyết thanh, immunoglobulin, lysozyme, complement. Các số liệu về vi
sinh cho thấy hai chủ
ng vi khuẩn probiotic vẫn tồn tại được trong thức ăn sau khi bổ
sung trong thời gian bốn tuần. Tuy nhiên, các tác giả không tìm thấy sự khác biệt
nào về tăng trọng, đáp ứng miễn dịch cũng như tính kháng bệnh của cá sau thời gian
cho ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm sinh học.
Aboagye và ctv. (2008) thử nghiệm ảnh hưởng của chế phẩm sinh học,
Lymnozyme đến tỉ lệ sống củ
a cá nheo Mỹ sau khi được gây nhiễm thực nghiệm
với Edwardsiella ictaluri. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở nghiệm thức có bổ sung
Lymnozyme vào nước hàng ngày liên tục trong hai tuần, tỉ lệ chết của cá sau khi
gây nhiễm Edwardsiella ictaluri (45%) giảm có ý nghĩa thống kê (p = 0,002) so với
nghiệm thức đối chứng (80%). Chương 1: Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ
nhiều nhất cho người nuôi.
1.2.3.2 Các nghiên cứu phòng bệnh do Edwardsiella ictaluri gây ra trên cá tra
Để giải quyết vấn đề vi khuẩn gây bệnh Edwardsiella ictaluri kháng sinh,
chúng ta phải tìm các giải pháp thay thế cho việc chữa trị bằng kháng sinh và thuốc
hóa học. Hiện nay biện pháp sử dụng vaccine để phòng bệnh đang được đánh giá là
Chương 1: Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ
HVCH: Phạm Thị Kim Anh 13
có hiệu quả và kinh tế. Từ năm 2005, Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II đã
phối hợp với Công ty Thuốc Thú Y Trung ương II (Navetco) thực hiện đề tài cấp
Bộ “Nghiên cứu vaccine phòng bệnh nhiễm khuẩn cho cá tra, cá basa, cá mú, cá
giò, cá hồng Mỹ nuôi công nghiệp” [12], trong đó đối tượng được quan tâm đặc biệt
là cá tra. Sau ba năm tiến hành nghiên cứu vaccine phòng bệnh gan thận mủ cho cá
tra đã đạt được một số kết quả khả
quan.
Tuy nhiên, các loại vaccine nói trên là vaccine bất hoạt (sử dụng kháng
nguyên là tế bào vi khuẩn giết bằng formalin 0,4%), có một số nhược điểm là tỉ lệ
bảo hộ chưa cao, thời gian bảo hộ khá ngắn (hai tháng, trong khi một vụ nuôi cá tra
kéo dài tới 5 – 6 tháng), đòi hỏi phải bổ sung một số chất bổ trợ để làm tăng hiệu
quả của vaccine. Biện pháp phòng bệnh tổng hợp luôn đòi hỏi sự kế
t hợp của nhiều
cách tiếp cận khác nhau: Quản lý môi trường nuôi, quản lý chất lượng con giống,
tăng cường sức khỏe vật nuôi, sử dụng các hợp chất kích thích miễn dịch, vaccine
bất hoạt, vaccine sống nhược độc, các chế phẩm sinh học có nguồn gốc thảo dược,
các chế phẩm vi sinh vật . . .
Hiện nay, một số chế phẩm vi sinh đã được ứng dụng trong sản xuấ
t cá tra
giống và nuôi thương phẩm nhằm thay thế cho việc sử dụng kháng sinh. Các chế
phẩm này được bổ sung vào trong thức ăn dưới dạng men vi sinh, đồng thời được
bổ sung vào nước để xử lý môi trường. Gần đây, chế phẩm probiotic Bokashi được
ngày nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi.
Những nghiên cứu đầu tiên về vi khuẩn probiotic từ môi trường nuôi trồng
thủy sản đã được báo cáo vào nhữ
ng năm 1980 [54].Trong hệ thống nuôi trồng thủy
sản “mối tương tác giữa vi sinh vật và vật chủ không chỉ có giới hạn trong đường
ruột của vật chủ mà vi khuẩn probiotic cũng có thể hoạt động trên mang, da và cả
trong môi trường sống xung quanh của vật chủ”. Liên quan đến điều này,
Verschuere và ctv. (2000) đề nghị một định nghĩa mới cho phép mở rộng ứng dụng
của thuật ngữ
“probiotic” trong nuôi trồng thủy sản. Probiotic được định nghĩa như
là “vi sinh vật sống được bổ sung vào thức ăn để mang lại những ảnh hưởng có lợi
cho vật chủ bởi khả năng tăng cường mối quan hệ đối với vật chủ hoặc mối quan hệ
giữa vật chủ với quần thể vi sinh vật xung quanh, làm tăng giá trị của dinh dưỡng,
tăng khả n
ăng đề kháng của vật chủ đối với bệnh tật, hoặc cải thiện môi trường sống
xung quanh vật chủ”. Việc sử dụng probiotic trong công nghiệp nuôi trồng thủy sản
để thay thế liệu pháp dùng kháng sinh, một liệu pháp mà sau đó gây ra sự đề kháng
ở quần thể vi sinh vật đang làm gia tăng mối quan tâm rất lớn từ các nhà nghiên cứu