Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài “ Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng hải quan điện tử
trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Ban cải cách hiện đại hóa,
Tổng cục hải quan” là do chính em thực hiện. Các thông tin và số liệu trong bài
là hoàn toàn chính xác, trung thực từ thu thập và nghiên cứu trong quá trình thực
tập tại Ban cải cách hiện đại hóa, Tổng cục hải quan, không sao chép từ bất cứ
đề tài nào khác.
Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Toản
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
1
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
2
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
DANH MỤC VIẾT TẮT
HQĐT : Hải quan điện tử
XK : Xuất khẩu
NK : Nhập khẩu
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
WCO : Tổ chức hải quan thế giới
TCHQ : Tổng cục hải quan
BTC : Bộ tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức gia nhập thành viên thứ 150 của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đó là ngày đánh dấu mốc quan trọng trong
việc hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước được thể hiện thông qua các hiệp
định song phương và đa phương về thương mại quốc tế mà Chính phủ Việt Nam
đã kí kết với các nước trên thế giới và tổ chức hải quan thế giới (WCO). Trong
bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và sự phát triển nhanh của nền kinh tế thì
nhiệm vụ của ngành Hải quan Việt Nam càng ngày càng trở nên phức tạp như
các vấn đề liên quan đến hàng rào kĩ thuật, buôn lậu, gian lận thương mại ,…
Đứng trước nhiệm vụ khó khăn và thách thức đó, yêu cầu cải cách thủ tục hành
chính, hiện đại hóa hải quan trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Và thực tế, qua
nhiều năm nay cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa hải quan luôn là
nhiệm vụ hàng đầu của ngành hải quan Việt Nam.
Triển khai ứng dụng hải quan điện tử là một trong những chiến lược cải
cách và hiện đại hóa hải quan. Sau 06 năm thực hiện triển khai, kể từ khi thực
hiện thí điểm theo quyết định số 149/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về việc thực hiện thí điểm ứng dụng thủ tục hải quan điện tử, sau đó là quyết
định 103/2009/QĐ-TTg về việc sửa đổi bổ sung quyết định 149/2005/QĐ-TTg,
đến nay đã thu được rất nhiều thành công và đã được hầu hết các doanh nghiệp
ủng hộ và tham gia. Hiện nay ngành đang đang phấn đấu mở rộng ứng dụng hải
quan điện tử đối với tất cả các Cục, Chi cục hải quan trên cả nước và áp dụng
đối với tất cả các loại hình hàng hóa nhằm hiện đại hóa ngành hải quan đáp ứng
yêu cầu hội nhập kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Chính vì
thế, ngành đang đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức và cần có những
chính sách giải pháp tích cực nhằm đẩy mạnh ứng dụng thủ tục hải quan điện tử.
Được sự đồng ý của Ban cải cách Hiện đại hóa, Tổng cục hải quan và sự
hướng dẫn nhiệt tình của thầy PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, em chọn đề tài “
Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu của Ban Cải cách hiện đại hóa, Tổng cục hải quan”
Ngoài ra, đề tài còn có phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục.
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
6
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ỨNG DỤNG HẢI QUAN
ĐIỆN TỬ TRONG THÔNG QUAN HÀNG HÓA XUẤT
KHẨU, NHẬP KHẨU
1.1 KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ỨNG DỤNG HẢI QUAN ĐIỆN TỬ
TRONG THÔNG QUAN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
1.1.1 Khái niệm
Để có thể hiểu tổng quát về thủ tục hải quan điện tử, trước hết chúng ta
cần hiểu về thủ tục hải quan.
Theo công ước Kyoto sửa đổi và bổ sung một số điều về đơn giản và hài
hòa hóa thủ tục hải quan thì thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động mà cơ quan
hải quan và những người có liên quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ
pháp luật trong lĩnh vực hải quan.
Theo quy định tại điều 4 và điều 16 Luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Luật hải quan năm 2005 thì chỉ ra khái niệm rõ ràng hơn và quy định công
việc của những người có liên quan cụ thể hơn: Thủ tục hải quan là các công việc
mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của
Luật này đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và phương tiện vận tải, cụ thể:
- Các công việc đối với người khai hải quan như sau:
+ Người khai hải quan phải tiến hành khai, nộp tờ khai hải quan và xuất
trình chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan, trong trường hợp thực hiện thủ tục hải
quan điện tử thì người khai hải quan được khai và gửi hồ sơ hải quan thông qua
hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan mà không cần phải gặp trực tiếp cán
Như vậy khái niệm về thủ tục hải quan đã được làm rõ, trên cơ sở đó
chúng ta có thể hiểu về khái niệm hải quan điện tử như sau: Hải quan điện tử là
thủ tục hải quan mà trong đó các công việc mà người khai hải quan và công
chức hải quan phải thực hiện đối với hàng hóa và phương tiện vận tải đều được
thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan.
Xét về vị trí, vai trò thì hải quan điện tử là một bộ phận của Chínhphủ
điện tử, với chức năng thực hiện việc tự động hóa tất cả các loại hình thủ tục và
các chế độ về hải quan như kiểm soát hàng hóa, các quy trình xử lý thủ tục hải
quan và giám sát hàng quá cảnh,…với những chức năng của cơ quan hải quan
thông qua việc áp dụng kỹ thuật quản lý hải quan hiện đại vào tất cả các khâu
nghiệp vụ hải quan. Hệ thống hải quan điện tử được kết nối với các bộ phận
khác của Chính phủ điện tử, mà thực tế chính là một cổng điện tử của hải quan
đã được kết nối với các cổng điện tử của cơ quan Nhà nước khác. Hệ thống thủ
tục hải quan điện tử được xây dựng và thực hiện dựa trên các quy định của Luật
giao dịch điện tử, Luật công nghệ thông tin, các chính sách phát triển công nghệ
thông tin, lộ trình thực hiện ứng dụng của Chính phủ điện tử và kết hợp theo quy
trình nghiệp vụ đơn giản, hài hòa và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ
quốc tế trong lĩnh vực hải quan.
Hiện nay các nước trên thế giới thường không đề cập đến khái niệm thủ
tục hải quan điện tử mà đề cập đến khái niệm Hệ thống thông quan tự động hóa
hải quan ( Customs Automation System). Đây là hệ thống gồm nhiều chương
trình ứng dụng công nghệ thông tin để xử lý các nghiệp vụ hải quan và các
chương trình hỗ trợ cho công tác nghiệp vụ hải quan như chương trình ứng dụng
để quản lý hàng hóa đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ hải quan,…
Như vậy với việc kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin và các chuẩn mực,
thông lệ quốc tế trong lĩnh vực hải quan thì thủ tục hải quan điện tử sẽ có những
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
8
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
32,1%, chiếm 50,60% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Trong khi đó, khối doanh nghiệp trong nước xuất khẩu đạt 49,03 tỷ USD trong
năm 2011, tăng 28,7% và nhập khẩu là 57,91 tỷ USD, tăng 21%. (Nguồn Tổng
cục hải quan)
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
9
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá
và cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001-2011
( Nguồn Tổng cục hải quan)
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong tháng 1/2012 vẫn tăng mạnh với
26,90%. Trong đó xuất khẩu tăng 43,90% và nhập khẩu tăng 13,30%. Tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu của khu vực FDI trong tháng 1/2012 đạt 7,61 tỷ USD và
tăng 11,8% so với tháng 1/2011. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,99 tỷ
USD và tăng 14,4%, kim ngạch nhập khẩu là 3,63 tỷ USD, tăng 9%. Khối các
doanh nghiệp trong nước có kim ngạch xuất nhập khẩu là 6,41 tỷ USD. Trong
đó, xuất khẩu đạt 3,11 tỷ USD và nhập khẩu gần 3,3 tỷ USD. (Nguồn Tổng cục
hải quan)
Theo số liệu thống kê trên, thì lượng hàng hóa xuất nhập khẩu càng ngày
càng tăng mạnh. Như thế khối lượng công việc công việc trong ngành hải quan
trở nên rất lớn, nếu thực hiện theo phương thức hải quan thủ công truyền thống
tức là thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục hải quan bằng giấy có khung
mẫu sẵn thì khó có thể hoàn thành công việc của ngành. Trước áp lực đó, việc
ứng dụng hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là
cấp thiết hơn bao giờ hết.
Thứ hai, xuất phát từ việc cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải
quan thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế.
lực của ngành hải quan. Trên cơ sở đóthành công đó, ngành đang phấn đấu triển
khai ứng dụng trên tất cả các Chi cục hải quan trên cả nước với quyết tâm thay
thế hoàn toàn phương thức hải quan truyền thống.
Thứ tư, xuất phát từ việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, giúp cho doanh
nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa nói riêng và trên thị
trường quốc tế nói chung.
Theo phương thức hải quan thủ công truyền thống thì thủ tục hải quan rất
phức tạp và cồng kềnh, doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian và chi phí để thực
hiện thủ tục hải quan. Để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp cụ thể như thủ tục
hải quan đơn giản hài hòa, công khai minh bạch, tiết kiệm thời gian và chi phí.
Ngoài ra doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận được với các chuẩn mực và thông
lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi khi tham gia trên thị trường tế. Với những lợi
ích to lớn trên thì doanh nghiệp sẽ ứng dụng hải quan điện tử khi làm thủ tục hải
quan là điều tất yếu.
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
11
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
1.2 NỘI DUNG ỨNG DỤNG HẢI QUAN ĐIỆN TỬ TRONG THÔNG QUAN HÀNG
HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
Kể từ khi thực hiện ứng dụng hải quan điện tử năm 2005 đến nay, ngành
hải quan đã có chủ trương thực hiện ứng dụng hải quan điện tử trong thông quan
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu với 06 nội dung chính sau:
Một là, thực hiện ứng dụng hải quan điện tử bằng các phương tiện điện
tử thông qua hệ thống dữ liệu điện tử của hải quan:
Hệ thống dữ liệu điện tử của hải quan là hệ thống thông tin do Tổng cục
hải quan quản lý tập trung, thống nhất và được sử dụng để tiếp nhận, lưu trữ, xử
lý và phản hồi các thông điệp dữ liệu điện tử trong lĩnh vực hải quan để thực
hiện thủ tục hải quan điện tử.
Hồ sơ hải quan điện tử bao gồm có tờ khai hải quan điện tử và các chứng
từ đi kèm với tờ khai theo quy định, các chứng từ đi kèm tờ khai hải quan điện
tử có thể ở dạng điện tử hoặc ở dạng văn bản bằng giấy và chứng từ hải quan
điện tử có giá trị để làm thủ tục hải quan điện tử như chứng từ bằng văn bản
giấy được sử dụng theo phương thức hải quan truyền thống trước đây.
Khi lập chứng từ hải quan điện tử cần lưu ý đảm bảo phản ánh nguyên
vẹn nội dung của chừng từ. Đây là điều chú ý đối với các doanh nghiệp, khi thực
hiện khai báo hải quan điện tử cần phải khai báo chính xác, phù hợp với khung
mẫu sẵn của Tổng cục hải quan, tránh gây ra tình trạng khai báo sai xót, thiếu
chính xác.
Để đảm bảo quá trình quản lý rủi ro, các chứng từ đi kèm tờ khai hải quan
điện tử có thể không phải nộp hoặc phải xuất trình, phải nộp cho cán bộ công
chức hải quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan trong các trường hợp cần thiết.
Ba là, thực hiện các quy định đối với người khai hải quan trong việc tự kê
khai và tự nộp thuế, các khoản lệ phí khác theo quy định của pháp luật hải quan:
Người khai hải quan điện tử là những người trực tiếp khai hải quan điện
tử, có thể là chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu kể cả thương nhân nước ngoài
không hiện diện tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận đăng kí quyền xuất
khẩu, quyền nhập khẩu hàng hóa theo quy định của pháp luật hoặc người được
chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ủy quyền theo quy định của Luật doanh
nghiệp hoặc có thể là tổ chức được chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ủy thác.
Người khai hải quan có trách nhiệm thực hiện khai hải quan trên hệ thống
máy tính được kết nối với hệ thống dữ liệu của hải quan. Đồng thời với việc hệ
thống dữ liệu điện tử của hải quan được kết nối với với các hệ thống của ngân
hàng, kho bạc nhà nước thì người khai hải quan có thể thực hiện việc thanh toán
các khoản tiền thuế xuất nhập khẩu cũng như các khoản lệ phí khác theo quy
định dưới hình thức điện tử bất kể thời gian nào. Khi người khai hải quan làm
thủ tục thanh toán tại bất kỳ ngân hàng nào đã được kết nối mạng với cơ quan
hải quan thì hệ thống sẽ tự động chuyển tiền từ tài khoản của họ sang tài khoản
của hải quan hoặc chuyển trực tiếp đến kho bạc nhà nước.
THÔNG QUAN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
1.3.1 Đối với doanh nghiệp
Một là, quy trình thủ tục hải quan điện tử đơn giản hài hòa và thống nhất,
phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế sẽ góp phần làm giảm thời gian
thông quan hàng hóa cụ thể hiện nay thời gian chỉ còn từ 3 đến 5 phút, giảm chi
phí và tiết kiệm thời gian và nhân lực cho doanh nghiệp do doanh nghiệp. Đặc
biệt, doanh nghiệp không phải đến trụ sở của cơ quan hải quan như theo phương
thức hải quan truyền thống trước đây mà có thể tự khai tại bất cứ địa điểm nào
có máy tính kết nối mạng và được thông quan ngay đối với lô hàng được xếp
vào trường hợp được miễn kiểm tra hồ sơ giấy và miễn kiểm tra thực tế hàng
hóa, đối với trường hợp này doanh nghiệp chỉ cần đến gặp cán bộ hải quan để
đóng dấu hoàn thành thủ tục hải quan và thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu.
Trường hợp đối với những hàng hóa thuộc luồng vàng và đỏ thì thủ tục hải quan
cũng không phức tạp. Doanh nghiệp có thể tải mẫu đơn đăng kí trên các website
của Tổng cục hải quan và sau ba ngày sẽ được cấp giấy xác nhận kèm theo tài
khoản và mã truy cập của hệ thống khai báo hải quan điện tử. Khi đến nộp hồ sơ
thì các dữ liệu thông tin về lô hàng đã được xác định trước, vì thế doanh nghiệp
sẽ mất ít thời gian chờ đợi để làm thủ tục thông quan lô hàng. Việc này giúp
doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và thời gian đi lại làm thủ tục hải quan, thông qua
đó tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo được niềm tin của
doanh nghiệp tới các chính sách, giải pháp của ngành hải quan nói riêng và của
Nhà nước nói chung. Được sự ủng hộ của doanh nghiệp cũng chính là thành
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
14
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
công của cơ quan hải quan trong việc đẩy nhanh tiến độ ứng dụng hải quan điện
tử, hiện đại hóa ngành hải quan.
Hai là, với hệ thống máy tính được kết nối với hệ thống dữ liệu điện tử
phong của hải quan Việt Nam văn minh, lịch sự, có kỷ cương, kỷ luật và trung
thực. Trong năm 2011 vừa qua, Tổng cục hải quan đã đưa ra tuyên ngôn phục
vụ khách hàng nhằm hiện đại hóa hải quan với phương châm “ Hải quan Việt
Nam chính xác- minh bạch- hiệu quả” thể hiện sự cam kết của ngành hải quan
đối với xã hội để đảm bảo thuận lợi, đáp ứng các yêu cầu quản lý nhà nước
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
15
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
trong lĩnh vực hải quan đối với các hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư, du
lịch quốc tế,… cụ thể:
- Hải quan Việt Nam chuyên nghiệp: Được thể hiện qua sự nhiệt tình, tận
tụy với công việc, thông thạo nghiệp vụ và xử lý công việc tuân thủ đúng quy
trình, thủ tục quy định, văn minh lịch sự trong hoạt động công tác và ứng xử.
- Hải quan Việt Nam minh bạch: Xây dựng hệ thống thủ tục hải quan tuân
thủ chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Đồng thời ngành bố trí tiếp nhận đầy đủ,
phản hồi nhanh chóng và giải quyết khẩn trương các ý kiến đóng góp, khiếu nại
của doanh nghiệp, các nhân, các tổ chức trên cả nước và thực hiện cơ chế đảm
bảo sự giám sát của khách hàng đối với hoạt động nghiệp vụ hải quan.
- Hải quan Việt Nam hiệu quả: Cụ thể ngành hải quan phấn đấu đạt chỉ
tiêu giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa, giảm thiểu chi phí hành chính và thời
gian thông quan, đảm bảo yêu cầu quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hải quan và
quản lý sự tuân thủ pháp luật hải quan một cách hiệu quả đến các đơn vị hải
quan, các cá nhân và tổ chức tham gia hoạt động trong lĩnh vực hải quan.
Hai là, ứng dụng hải quan điện tử trong ngành hải quan là việc đưa
phương thức quản lý tiên tiến, hiện đại, từ xử lý thủ tục hành chính chủ yếu là
thủ công trên giấy tờ sang xử lý trên hệ thống thông tin của hải quan giúp thay
đổi nhận thức của cán bộ công chức hải quan và khẳng định việc cải cách hiện
đại hóa là xu thế tất yếu để phát triển, hiện đại hoá cơ quan hải quan nói riêng,
trợ cải cách, hiện đại hóa hải quan vào Ban cải cách, hiện đại hóa hải quan
- Ngày 12 tháng 08 năm 2010, căn cứ quyết định số 178/2007/NĐ-CP
ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Nghị định số
118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính, Quyết định số
02/2010/QĐ-TTg ngày 15 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực
thuộc Bộ Tài chính.Xét đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Vụ
trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ tài chính đã bãi bõ các Quyết đinh 3129/QĐ-
BTC , 1479/QĐ-BTC, 3369/QĐ-BTC và ban hành quyết định 2056/QĐ-
BTCquy định nhiệm vụ và tổ chức hoạt động của Ban cải cách, hiện đại hóa Hải
quan, Quyết định chỉ rõ:
+ Thành lập Ban Cải cách, hiện đại hoá hải quan trên cơ sở tổ chức lại
Ban Chỉ đạo và Ban Cải cách, hiện đại hoá hải quan.
+ Ban Cải cách, hiện đại hóa hải quan được sử dụng con dấu của Tổng
cục Hải quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao.
2.1.1.2 Về cơ cấu tổ chức
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
17
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
* Hiện nay, Ban cải cách hiện đại hóa, Tổng cục hải quan có:
- Trụ sở tại tầng số 3 và số 5 của tòa nhà 137A, Nguyễn Văn Cừ, quận
Long Biên, TP. Hà Nội
- Lực lượng cán bộ công chức: 55 cán bộ và 4 lãnh đạo, trong đó có 1
trưởng ban và 3 lãnh đạo. Trong đó:
+ Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc làm Trưởng ban.
+ Giúp việc Trưởng ban 3 Phó Trưởng ban, trong đó có một Phó Trưởng
động của Ban Cải cách, hiện đại hóa hải quan.
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
18
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
-Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan có trách nhiệm huy động, phân
công, bố trí và sắp xếp công chức của Tổng cục để triển khai thực hiện nhiệm vụ
của Ban Cải cách hiện đại hóa, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời
kỳ.
( Cơ cấu, tổ chức và phương thức hoạt động được quy định rõ tại quyết
định 2056/QĐ-BTC của Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ và tổ chức hoạt động
của Ban cải cách hiện đại hóa Hải quan ngày 12 tháng 08 năm 2010 và quyết
định sửa đổi bổ sung số 30/QĐ-BTC của Bộ Tài chính)
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Ban cải cách hiện đại hóa, Tổng cục
hải quan
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm về cải
cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa hải quan trình Tổng cục trưởng Tổng
cục Hải quan để báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định.
- Chủ trì điều phối việc triển khai chiến lược, chương trình, kế hoạch cải
cách và hiện đại hoá hải quan sau khi được phê duyệt.
- Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc tổ chức thực hiện cải cách,
hiện đại hóa hải quan đối với các tổ chức, đơn vị trong ngành Hải quan.
- Nghiên cứu ứng dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại; tổ chức
chỉ đạo triển khai thí điểm để nhân rộng trong toàn ngành hải quan. Cụ thể, trực
tiếp chỉ đạo triển khai thí điểm ứng dụng HQĐT trong ngành hải quan.
- Điều phối việc thực hiện các dự án tài trợ về cải cách và hiện đại hóa hải
quan.
- Phối hợp với các đơn vị liên quan của Bộ Tài chính và các Bộ, ngành
trong việc tổ chức triển khai thực hiện chiến lược cải cách và hiện đại hóa hải
điểm
Hai là, Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
12 tháng 8 năm 2009 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định
149/2005/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử với những
nội dung sau:
- Cho phép áp dụng thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại 10 Cục hải quan
tỉnh, thành phố cho tới năm 2011. Cuối quý III/2011 Bộ tài chính báo cáo tổng
kết, đánh giá việc thí điểm và kiến nghị cho giai đoạn tiếp theo trình Thủ tướng
Chính phủ
- Quy định nội dung thủ tục hải quan điện tử được thực hiện căn cứ trên
cơ sở Luật hải quan, các luật về thuế, các Nghị định của Chính phủ quy định chi
tiết các luật về thuế, luật giao dịch điện tử và các văn bản quy phạm hướng dẫn
thi hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết
- Quy định rõ ràng và cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp
tham gia thủ tục hải quan điện tử
* Về quy trình thủ tục hải quan điện tử:
Hiện nay ngành vẫn tiếp tục triển khai quy trình ứng dụng hải quan điện
tử theo Quyết định 2396/QĐ-TCHQ ngày 09 tháng 12 năm 2009 của Tổng cục
trưởng Tổng cục hải quan ban hành quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa
XK, NK thực hiện thủ tục HQĐT.Quy trình cơ bản bao gồm 06 bước sau:
- Bước 1: Thực hiện kiểm tra sơ bộ và đăng kí tờ khai điện tử
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
20
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
- Bước 2: Thực hiện kiểm tra hồ sơ hải quan điện tử
- Bước 3: Thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa
- Bước 4: Sau đó, xác nhận Đã thông quan điện tử, giải phóng hàng hóa,
đưa hàng về nơi cửa khẩu, hàng chuyển cửa khẩu, trao đổi thông tin với Chi cục
duy quản lí của Hải quan Nhật Bản và có điều chỉnh cho phù hợp với thực tế của
Việt Nam hiện nay. Khi triển khai Hệ thống VNACCS sẽ bao phủ 133 quy trình
nghiệp vụ hải quan bằng hình thức trực tuyến và 6 quy trình nghiệp vụ Batch
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
21
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
(thực hiện theo gói tin). Tuy nhiên, việc ứng dụng các phần mềm nghiệp vụ
trong VNACCS không có nghĩa là triệt tiêu các hệ thống công nghệ thông tin
hiện có của Hải quan Việt Nam, mà sẽ có cơ chế để kết nối, trao đổi, chia sẻ
thông tin giữa VNACCS và các hệ thống này. Ví dụ như cơ chế kết nối giữa
VNACCS với phần mềm thống kê hải quan, hệ thống thanh toán thuế KTT559,
trao đổi thông tin hóa đơn tự in trực tuyến, hệ thống thông tin tình bá. Đặc biệt
với mục tiêu thực hiện Cơ chế hải quan một cửa quốc gia nên VNACCS sẽ cho
phép kết nối với các đơn vị bên ngoài ngành Hải quan như DN xuất nhập khẩu,
đại lý hải quan, các công ty về logictics, các bộ ngành liên quan, các hãng vận
tải và hệ thống ngân hàng.
+ Hệ thống VCIS xây dựng nhằm phục vụ công tác quản lí của cơ quan
Hải quan trong công tác quản lí rủi ro và thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu.
VCIS có mục đích nhằm phục vụ thông quan hàng hóa, quản lí rủi ro hải quan.
VCIS gồm 15 quy trình nghiệp vụ trực tuyến và 09 quy trình nghiệp vụ Batch và
cũng có cơ chế kết nối với các hệ thống công nghệ thông tin hiện có của Hải
quan Việt Nam. Tuy nhiên, VCIS sẽ không thực hiện kết nối với các cơ quan
ngoài ngành Hải quan. Đây là điểm khác biệt so với VNACCS
Với mục tiêu phục vụ công tác quản lí và thông quan hàng hóa tự động nên
VNACCS/VCIS được thiết kế nhiều phần mềm để đáp ứng yêu cầu công tác
nghiệp vụ của Hải quan Việt Nam. Các quy trình quản lý và nghiệp vụ sẽ được
xây dựng phần mềm ứng dụng bao gồm có các phần mềm sau:
+ Phần mềm về khai báo điện tử (e-Declaration)
+ Cục hải quan Quảng Ngãi
- Có 03 Cục hải quan triển khai từ tháng 8/2010:
+ Cục hải quan Lào Cai
+ Cục hải quan Cần Thơ
+ Cục hải quan Hà Tĩnh
- Có 06 Cục hải quan triển khai từ tháng 7/2011:
+ Cục hải quan Long An
+ Cục hải quan Tây Ninh
+ Cục hải quan Đắc Lắc
+ Cục hải quan Bình Định
+ Cục hải quan Thừa Thiên Huế
+ Cục hải quan Nghệ An
* Tổng hợp theo số lượng các Chi cục đã triển khai thủ tục HQĐT:
Hiện nay ngành đã triển khai được 90 Chi cục, trong đó 10/19 Cục hải
quan đã triển khai tại 100% Chi cục trực thuộc, 13/19 Cục hải quan đạt tỷ lệ trên
75% số lượng Chi cục đã triển khai thủ tục hải quan điện tử. Như vậy số lượng
chi cục triển khai Thủ tục hải quan điện tử đến thời điểm hiện tại tăng gấp 1,29
lần so với năm 2010 và tăng gấp 6 lần so với 2009.
SV: Nguyễn Văn Toản Lớp: Hải
quan 50
23
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn
Tuấn
Bảng 2: Danh sách các Cục, Chi cục triển khai HQĐT (15/10/2011)
Cục Hải quan Chi cục
1 Hồ Chí Minh
(12/12 Chi cục)
1 Chi cục HQCK SBQT Tân Sơn Nhất
2 Chi cục HQCK CSG KV1
3 Chi cục HQCK CSG KV2
23 Chi cục Hải Quan Khu Chế Xuất Long Bình
24 Chi cục Hải quan Long Bình Tân
25 Chi cục Hải quan Long Thành
26 Chi cục Hải Quan NhơnTrạch
27 Chi cục Hải QuanThống Nhất
5 Bà Rịa - Vũng
Tàu
(4/5 Chi cục)
28 Chi cục HQCK Cảng Sân Bay Vũng Tàu
29 Chi cục HQ Cảng Cát Lở
30 Chi cục HQCK Cảng Phú Mỹ
31 Chi cục HQCK Cái Mép
6 Đà Nẵng
(5/5 Chi cục)
32 Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư - Gia công
33 Chi cục Hải quan CK Cảng Đà Nẵng
34 Chi cục Hải quan KCN Hòa Khánh Liên Chiểu
35 Chi cục Hải quan KCN Đà Nẵng
36 Chi cục HQCK Sân bay Quốc tế Đà Nẵng
7 Hà Nội
(13/13 Chi cục)
37 Chi cục Hải quan quản lý hàng Đầu tư - Gia công
38 Chi cục Hải quan Bắc Thăng Long
39 Chi cục Hải quan Bắc Ninh
40 Chi cục Hải quan Gia Thuỵ
41 Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội
42 Chi cục Hải quan Hà Tây
43 Chi cục Hải quan Vĩnh phúc
44 Chi cục HQ Phú Thọ
45 Chi cục Hải quan ICD Tiên Sơn