Mở Đầu
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua bán chứng
khoán cho khách hàng để hởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng khoán đại diện
cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc
thị trờng OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả của
mình.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến khách
hàng các sản phẩm dịch vụ t vấn đàu t kết nối giữa nhà đầu t bán và nhà đầu t mua
chứng khoán và trong những trờng hợp nhất định, hoạt động môi giới sẽ trở thành
bạn, ngời chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đa ra những lời động viên kịp thồich
nhà đầu t, giúp nhà đầu t có những quyết định tỉnh táo.
TTCKVN bắt đầu phôi thai từ những năm 90 của thập kỷ trớc, tuy nhiên thị
trờng chính thức đi vào hoạt động đánh dấu bằng việc đi vào hoạt động hai trung
tâm giao dịch chứng khoán đó là TTGDCK thành phố HCM (thang 7 năm 2005).
TTGDCK Hà Nội( tháng 3 năm2005). TTGDCK thành phố HCM đ vào hoạt động
đợc năm năm, năm năm là khoảng thời gian không dài đối với quá trình hình
thành và phát triển của một doanh nghiệp đặc biệt là đối với các công ty chứng
khoán. tuy nhiên năm năm cũng không là khoảng thời gian để nhìn nhận và đánh
giá lại vai trò của các công ty chứng khoán trên thị trờng việc nam. Trong những
kết quả đạt đợc thì một thành công lớn nhất trong 5 năm vừa qua đó là góp phần
đào tạo đợc qua thực tiễn một đội ngũcác nhà môi giới, phân tích t vấn có hiệu quả
vào quá trình ra quyết định của các nhà đầu t cũng nh quyết định ra nhập thị trờng
chứng khoán của một số doanh nghiệp.
Bên cạnh những vấn đề đạt đợc thì còn tồn tại nhều hạn chế mà trong đó lợi
nhuận của các công ty chứng khoán thu đựơc từ nghiệp vụ môi giới còn rất thấp,
cha xứng dáng là nghiệp vụ cơ bản hàng đầu của các công ty chứng khoán. có rất
nhiều nuyên nhân để giải thích cho vấn đề này, đó là do việc các công ty cha có
một đội ngũ nhân viên môi giới chuyên nghiệp nên cha thu hút đợc khách hàng
hay việc các công rơi vào cuộc chiến giảm mức phí môi giới để tạo sự cạnh tranh
và một nguyên nhân khác đó là thị trờng chứng khoán việt nam cha phát triển, hệ
1
3
2. Phân loại công ty chứng khoán
2.1 Theo hình thức tổ chức hoạt động của công ty chứng khoán
Chia theo hình thức tổ chức hoạt động của công ty chứng khoán thì hiện nay
công ty chứng khoán có 3 loại hình:
- Công ty cổ phần
- Công ty trách nhiệm hữa hạn
- Công ty hợp danh
2.2 Theo hình thức kinh doanh.
- Công ty môi giới
- Công ty đầu t ngân hàng
- Công tygiao dịch phi tập trung
- Cồng ty dịch vụ đa năng
- Công ty buôn bán chứng khoán
- Công ty buôn bán chứng khoán không nhận hoa hồng
Các công ty chứng khoán là đối tợng quản lý của nguyên tắc quy chế do uỷ
ban chứng khoán nhà nớc ban hành. Các quy chế này chi phối kinh doanh của các
công ty chứng khoán, kiểm soát họ trong mối quan hệ của các công ty chứng
khoán
2.3 Vai trò của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán vừa đóng vai trò là nhà đầu t trên thị trờng cho chính
mình, lai vừa là tổ chức trung gian kết nối giữa ngời mua và ngời bán, giữa tổ chức
phát hành và nhà đầu t và hơn nữa nó còn cung cấp các dịch vụ nhằm bôi trơn thị
trờng giúp cho thị trờng chứng khoán phát hoạt động hiệu quả hơn và trở thành
kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế.
2.3.1 Đối với tổ chức phát hành
Thông qua hình thức bảolãnh phát hành, công ty chứng khoán sẽ giúp tổ
chức phát hành các công đoạn từ việc t vấn cho doanh nghiệp lựa chọn phơng thức
xác định giá trị doanh nghiệp, xác đinh phơng án cổ phần hoá, t vấn phát hành.
Không những thế công ty chứng khoán còn giúp doanh nghiệp bình ổn giá chứng
2.4..1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
5
Môi giới chứng khoánlà hoạt động kinh doanh trong đó một công ty chứng
khoán là đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch chứng khoán thông qua cơ
chế giao dịch chứng khoán hay thị trờng OTC mà chính khách hàng phảI chịu
trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó của chính mình.
Thông qua hoạt động môi giới, các công ty chứng khoán thể hiện rõ chức
năng là nhà tài chính trung gian cung cấp dịch vụ môi giới, công ty chứng khoán
tạo ra sự kết hợp giữa ngời bán và ngời mua. Đem đến cho khách hàng các loại sản
phẩm và dịch vụ tài chính.
2.4.2 Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua bán
các chứng khoán cho chính mình. ở nghiệp vụ này các công ty chứng khoán đóng
vai trò là nhà đầu t trên thị trờng chứng khoán nhằm mục đích thu lợi cho chính
công ty và tự gánh chịu mọi rủi ro từ việc đầu t của chính mình. hoạt động tự
doanh của công ty chứng khoán thể đợc thực hiện trên thị trờng tập trung hoặc trên
thị trờng giao dịch phi tập trung.
Trong hoat động môi giới,công ty chỉ thực hiện mua bán hộ khách hàng để
đợc hởng phí hoa hồng còn trong nghiệp vụ tự doanh chứng khoán, các công ty
chứng khoán bằng chính nguồn vốn của chính mình. Điềunày đòi hỏi các công ty
chứng khoán phải có nguồn vốn lớn, có đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn
có khả năng phân tích và nhận định thị trờng, có khả năng tự quyết cao và nhất là
tính nhạy cảm trong công việc.
2.4.3 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo hành giúp tổ chức phát
hành thực hiện các thủ tục trớc khi chào bán chứng khoán nhận mua một phần hay
toàn bộ chứng khoấn của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán.
còn lại cha phân phối hết và giúp bình ổn gia chứng khoán. của giai đoạn đầu sau
khi phát hành. Nhờ nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cua CTY CK mà tổ chức phát
hành sẽ chắc chắn thu đợc vốn đầu t để phát hành ,ngời có kế hoạch sử dụng vốn
* Nghiệp vụ tín dụng
Đây là một hoạt động thông dụng tại các TTCK phát triển, các nghiệp vụ
này bao gồm cho vay ký quỹ, cầm cố chứng khoán, cho vay ứng truớc tiền, bán
7
chứng khoán, ứng trớc tiền cổ tức. Nghiệp vụ này thờng đi kèm với nghiệp vụ môi
giới trong một CTCK.
*Lu ký chứng khoán
Là việc lu trữ bảo quản chứng khoán hộ khách hàng thông qua các tài khoản
lu ký chứng khoán mà khách hàng mở tại công ty. đây là quy định bắt buộc trong
GDCK. Khi thực hiện lu khi chng khoán công ty sẽ thu phí lu ký,phí gửi, phí rút
và chuyển nhợng chứng khoán. việc lu ký chứng khoán là hình thức bắt buộc đầu
tiên trớc khi công ty thực hiện niêm yết trêm sán giao dịch tập chung hay thi trờng
OTC, sau khi thực hiện lu ký chứng khoán hộ khách hàng công ty lai tiến hành tái
lu ký tại chung tâm lu ký quốc gia.
*quản lý cổ tức thay khác hàng .
Thông qua nghiệp vụ la ký chứng khoán, CTCK cũng hiện luôn việc nhận
cổ tức, tráI tức hộ khách hàng từ tổ chức phát hành. Khi thực hiện la ký hộ chứng
khoán cho khách hàng, CTCK phải tổ chức theo dõi tình hình thu lãI chứng khoán
khi đến hạn để thu hộ rồi gửi báo cáo cho khách hàng.
Ngoài các nghiệp vụ kể trên, CTCK con có thể thực hiện một số hoạt động
khác nh cho vay chứng khoán, quản lý quỹ đầu t, kinh doanh bảo hiểm ..
3. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
3.1 khái niệm môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một
công ty đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch
tqại sở giao dịch chứng khoán hay thị trờng OTC mà chính khách hàng phảI chịu
trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Ngời môi giới chứng khoán là những chuyên gia tài chính, họ có khả
năng phân tích tình hình kinh tế- tài chính, phân tích đánh giá thị trờng hiện tại và
nhận định xu hớng tơng lai, họ am hiểu và nắm vững pháp luật. Ngời môi giới là
ợng hàng hoá chứng khoán, các nhà đầu t có thể thông qua các lời t vấn của các
nhà môi giới có thể tìm cho mình và đối với các nhà phát hành, họ không phảI mất
quá nhiều chi phí để tìm kiếm các nhà đầu t mua lại chứng khoán mà chính mình
đã phát ra.nh vậy vai trò của nhà môi giới chứng khoán là tiết kiệm chi phí giao
9
dịch xét theo từng khâu và trên tổng thể thị trờng, giúp nâng cao tính thanh khoản
cho thị trờng.
*cung cấp các thông tin và t vấn cho khách hàng trên TTCK.
Trên TTCK thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nó góp phần ảnh h-
ởng tới giá cả của chứng khoán. các nhân viên môi giới thay mặt công ty cung cấp
cho khách hàng các thông tin liên quan đến thị trờng, các thông tin liên quan đến
chứng khoán niêm yết và các thông tin liên quan khác có liên quan đến chứng
khoán. Dựa trên các thông tin này, các nhà đầu tiến hành phân tích và đa ra các
quyết định về việc mua bán chứng khoán cũng nh giá cả sao cho hợp lý. Ngời môi
giới luôn là ngời năm bắt đợc các thông tin cập nhật về chứng khoán. bởi vì nhà
môi giới có các mối quan hệ rộng rãi, hơn nữa họ lại là ngời biết cách tiếp cận các
thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và tiến hành sàng lọc trớc khi cung cấp cho
khác hàng. Do vậy, thông tin mà nhà đầu t có đợc do nhà môi giới cung cấp có giá
trị bằng vàng.
* Cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tài chính giúp khách hàng thực hiện
các giao dịch theo yêu cầu vì mục đích của họ.
Nhà môi giới nhận lệnh của khách hàng và tiến hành giao dịch cho họ. Quy
trình đó bao gồm các công việc: nhận lênh của khách hàng, thực hiện giao dịch,
xác định kết quả giao dịch và chuyển kết quả giao dịch đó tới khách hàng cũng
nh thông báo về số d tài khoản tiền mặt, số s chứng khoán đợc phép giao dịch cà
thông báo thờng xuyên tới khách hàng. để từ đó đa ra các khuyến cáo và cung cấp
thông tin. Hơn thế, nhà môi giới cần nắm bắt đợc sự thay đổi trong nhu cầu tài
chính của khách hàng cũng nh mức độ chập nhận rủi ro để từ đó đa ra các khuyến
nghị và các chiến lợc phù hợp.
3.3.2 Đối với công ty chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một nghiệp vụ cơ bản của các CTCK. Nghiệp vụ
môi giới có nghĩa quan trọng đối với việc thu hút khách hàng và tạo dựng hình ảnh
công ty. Môi giới chứng khoán là một nghề đặc biệt với những nét đặc trng sau:
- nghề môi giới là một nghề đòi hỏi lao động cật lực và phải đợc trả thù lao
xứng đáng.
11