Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
ít có thiết chế kinh tế nào tác động đến đời sống con ngời và xã hội
mạnh mẽ bằng ngân hàng và hoạt động của nó. Ra đời từ rất sớm và không
ngừng phát triển cả về qui mô, số lợng, chất lợng các dịch vụ, cho đến nay
ngành ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng - là huyết mạch của
nền kinh tế, với sự hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp: ngân hàng trung
ơng và ngân hàng thơng mại. Bên cạnh đó nền kinh tế thị trờng phát triển đã
thúc đẩy quá trình xâm nhập và phát triển của t tởng và tác phong kinh
doanh mới trong các ngân hàng, đợc thể hiện bằng sự có mặt của các chi
nhánh ngân hàng nớc ngoài và ngân hàng liên doanh.
Trong các hoạt động của ngân hàng, tín dụng là hoạt động quan
trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi
lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro cao nhất. Vì vậy, đảm
bảo và nâng cao chất lợng tín dụng luôn là nhiệm vụ, mục tiêu hàng đầu
của các ngân hàng thơng mại. Để đa ra đợc một quyết định tài trợ, các
ngân hàng phải cân nhắc kỹ lỡng, ớc lợng khẳ năng rủi ro và sinh lời dựa
trên qui trình phân tích tín dụng. Phân tích tài chính của khách hàng là một
trong những nội dung đó.
Phân tích tài chính của khách hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc đánh giá sức mạnh tài chính, khả năng tự chủ tài chính trong
kinh doanh, nhu cầu tài trợ và khẳ năng hoàn trả nợ của khách hàng. Nhng
hoạt động này trong các ngân hàng thơng mại vẫn còn nhiều bất cập dẫn
đến hiệu quả cho vay cha cao. Chính vì lẽ đó mà việc nghiên cứu tìm ra
các giải pháp nhằm nâng cao chất lợng công tác này góp phần quyết định
tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Qua quá trình thực tập tại Sở giao
dịch I- Ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam, tôi đã chọn đề tài: Hoàn
thiện phơng pháp phân tích tài chính của khách hàng tại Sở giao dịch
1
các tổ chức kinh doanh tiền tệ phát triển nhanh và mở rộng thêm nhiều
nghiệp vụ mới. Ngân hàng ra đời sớm nhất ở Venise của ý năm 1580. Đầu
thế kỉ XVII xuất hiện một số tổ chức kinh doanh tiền tệ lớn, sở hữu t nhân
đợc coi là thời điểm của kỷ nguyên ngân hàng hiện đại nh ngân hàng
Amsterdam( Hà Lan), Ngân hàng Hamburg( Đức). Từ thế kỉ XVIII đến
thế kỉ XIX đã có sự phân công thành ngân hàng phát hành và ngân hàng
chuyên doanh. Từ thế kỉ XIX cho đến nay hệ thống ngân hàng đã phát
triển mạnh mẽ với sự hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp: ngân hàng
trung ơng và ngân hàng thơng mại. Ngày nay, hệ thống NHTM đã phát
triển mạnh mẽ cùng với việc đa dạng hoá các nghiệp vụ của mình, các
NHTM ngày càng xâm nhập sâu sắc vào mọi hoạt động của nền kinh tế.
Ngày 6/5/1951 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh 15/SL thành lập Ngân
hàng quốc gia Việt Nam và sau đổi tên thành ngân hàng nhà nớc Việt Nam
đợc tổ chức từ trung ơng đến quận, huyện.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hệ thống ngân hàng một cấp đợc duy trì cho đến ngày 26/3/1988, quyết
định số 53- QĐ - HĐBT đã đánh dấu sự hình thành hệ thống ngân hàng
hai cấp với ngân hàng trung ơng thực hiện chức năng quản lý nhà nớc về
tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các ngân hàng chuyên doanh là: ngân hàng
Nông Nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Công Thơng Việt Nam, ngân hàng
Ngoại Thơng Việt Nam, ngân hàng Đầu T và Xây Dựng Cơ Bản Việt Nam.
Ngày 23/5/1990, ban hành hai pháp lệnh ngân hàng : pháp lệnh
ngân hàng nhà nớc và pháp lệnh pháp lệnh về tổ chức tín dụng có tổ chức
nội dung và pháp lý gần giống với hệ thống ngân hàng ở các nớc có nền
kinh tế thụ trờng. Ngân hàng nhà nớc Việt Nam có vai trò và nhiệm vụ nh
ngân hàng trung ơng, các tổ chức tín dụng bao gồm NHTM, Ngân hành
Đầu T và Phát Triển, công ty tài chính và hợp tác xã tín dụng có vai trò nh
Trớc đây, các ngân hàng thợ vàng tạo phơng tiện thanh toán khi phát
hành giấy nhận nợ với khách hàng. Với nhiều u thế, dần dần giấy nhận nợ
của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phơng tiện lu thông và phơng
tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy.
Với nhu cầu có đồng tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc nhà nớc
tập trung quyền lực phát hành tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ tài chính
hoặc là Ngân hàng trung ơng. Từ đó chấm dứt các ngân hàng thơng mại tạo
ra các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có đợc số d trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể
chi trả để có đợc hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm
hiện đại, đại lợng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong
lu thông(Mo), thứ hai là số d trên tài khoản tiền gửi giao dịch của khách
hàng tại ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và
tiền gửi có kì hạn Khi ngân hàng cho vay, số d trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng
và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay các ngân hàng đã tạo ra phơng tiện
thanh toán.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phơng tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi đợc mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ
sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để
chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu( tức làm tăng số d tiền gửi) của một khách
hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới.
Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ
d thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lợng tiền gửi( tạo ph-
ơng tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay(tạo tín dụng).
nớc dới nhiều hình thức khác nhau: vay theo hợp đồng mua lại, vay theo
hình thức bảo lãnh,..
Theo quy định tại Điều 30 của luật NHNN Việt Nam, NHTM đợc
vay vốn của NHNN dới hình thức tái cấp vốn, theo các loại sau: Cho vay
theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu và tái chiết khấu các thơng phiếu, cho vay
có đảm bảo bằng cầm cố thơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác,
trong trờng hợp đặc biệt khi đợc thủ tớng chính phủ chấp thuận, NHNN cho
vay đối với các NHTM, Tổ chức tín dụng tạm thời mất khả năng chi trả, có
nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các Tổ chức tín dụng hoặc trong tr-
ờng hợp có sự chỉ định của thủ tớng chính phủ, NHNH thực hiện bảo lãnh
cho tổ chức tín dụng vay vốn nớc ngoài.
Hoạt động sử dụng vốn.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế đều muốn
tìm kiếm lợi nhuận. Ngân hàng không ngoại lệ, hoạt động huy động vốn của
ngân hàng đã đem lại cho ngân hàng một khoản vốn với tính chất là vốn đi
vay. Điều đó có nghĩa là ngân hàng phải trả lãi suất cho các khoản đó đến
từng giờ. Vậy ngân hàng sẽ phải sử dụng nguồn vốn đó nh thế nào để có đ-
ợc lợi nhuận. Các ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động
cho vay, đầu t vào các dịch vụ sinh lãi. Hiện nay, các NHTM đợc thực hiện
các hoạt động sử dụng vốn sau: Cho vay; chiết khấu thơng phiếu và cầm cố
các chứng từ có giá; bảo lãnh ngân hàng; cho thuê tài chính và các hình
thức khác theo quy định của NHNN.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cho vay là hoạt động chính của ngân hàng để thu lợi nhuận. Nó
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM. Hình thức pháp lý của
hoạt động cho vay là hợp đồng tín dụng, có hai loại hợp đồng thông dụng:
Hợp đồng cho vay có đảm bảo( bằng tài sản, bằng tín chấp) và hợp đồng
Trên đây là những nghiên cứu sơ lợc về sự hình thành và phát triển
của các NHTM, chức năng và các hoạt động kinh doanh của NHTM. Để
làm rõ nội dung phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM trong quá
trình phân tích tín dụng, chúng ta sẽ nghiên cứu các nội dung sau:
1.1.2.Sự cần thiết phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM.
Vô số các rủi ro khác nhau khi cho vay: rủi ro tín dụng, rủi ro hối
đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác
nhau và có thể dẫn đến việc không hoàn trả nợ khi đến hạn. Các thiệt hại
đôi khi nảy sinh từ nguyên nhân thiên tai nh bão lụt, hạn hán, hoả hoạn,
động đất. Những thay đổi về nhu cầu ngời tiêu dùng hoặc về kỹ thuật của
một ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả sơ đồ của một hãng kinh
doanh và đặt ngời đi vay cụ thể nào đó đã có thời làm ăn có lãi lâm vào
cảnh thua lỗ. Một cuộc đình công kéo dài, việc giảm giá để cạnh tranh,
hoặc việc mất một ngời quản trị giỏi có thể làm giảm thiệt hại nghiêm trọng
đến khả năng hoàn trả tiền vay của ngời vay. Sự hng thịnh hay suy thoái của
chu kỳ kinh doanh ảnh hởng đến lợi nhuận của ngời vay và gây nên niềm
vui hay nỗi buồn của ngời kinh doanh, cũng nh ngời tiêu dùng. Một số rủi
ro nảy sinh từ các yếu tố riêng rẽ khó giải thích. Để quyết định có chấp
nhận cho vay hay không, nhà quản trị ngân hàng phải cố gắng ớc lợng rủi ro
không hoàn trả. Rủi ro này có thể dự đoán trong một quá trình kéo dài, bằng
những phân tích tỉ mỉ về các mặt tài chính, phi tài chính của khách hàng.
Trên thực tế, việc xác định các thông số phi tài chính nh uy tín, năng lực,
đạo đức, mục đích sử dụng vốn vay, là rất khó, mang tính chất định tính.
Vì vậy, những thông tin tài chính định lợng là rất quan trọng đối với ngân
hàng trong đánh giá, lựa chọn khách hàng. Phân tích tài chính của khách
hàng cho ngân hàng xác định đợc các yếu tố về lợng của nhu cầu vay vốn
tín dụng, xác định đợc thời hạn hợp lý của khoản vay, xác định kỳ hạn trả
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nguồn thông tin mà ngân hàng thu thập đợc bao gồm các thông tin nội bộ,
thông tin bên ngoài, thông tin do khách hàng cung cấp và do cán bộ tín
dụng tự điều tra, bao gồm:
- Phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn trực tiếp là rất quan trọng bao gồm
việc gặp gỡ trực tiếp giữa ngân hàng và ngời vay vốn: thăm quan nhà xởng,
văn phòng, nói chuyện với giám đốc, qua đó giúp cho cán bộ tín dụng có
một ý niệm nào đó về tính thật thà và khả năng của ngời vay.
- Mua hoặc tìm kiếm các thông tin qua các trung gian: nh các cơ
quan quản lý, các bạn hàng của khách hàng, các cơ quan kiểm toán, cơ
quan thuế, hải quan, trung tâm tín dụng của NHNN CIC, Qua các
trung gian, ngân hàng phân tích đợc ngời vay qua các mối liên hệ của họ,
cho thấy uy tín, trình trạng rủi ro, phát triển hay suy thoái.
- Thông qua hồ sơ vay vốn của khách hàng: Đó là điều kiện bắt buộc
đối với mọi khách hàng khi muốn vay vốn của ngân hàng. Với khách hàng
là những doanh nghiệp, hồ sơ sẽ bao gồm các báo cáo tài chính nh : Bảng
cân đối kế toán ( mẫu số B01-DN ), báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
( mẫu số B02- DN), báo cáo lu chuyển tiền tệ (mẫu số B03-DN), thuyết
minh báo cáo tài chính ( mẫu số B09-DN), và bảng kế hoạch tài chính trong
tơng lai. Các báo cáo này cho thấy số liệu trong nhiều năm đã qua, vì vậy
giúp ngân hàng có cơ sở để dự đoán về tình hình của khách hàng trong tơng
lai gần. Ngân hàng sử dụng các báo cáo này để ớc tính nhu cầu vốn, trong
đó có nhu cầu tài trợ, đánh giá khẳ năng sinh lời và khẳ năng trả nợ của
khách hàng, các thiệt hại có thể xảy ra nếu khách hanhg không trả, hoặc
không trả đầy đủ,
Với các khách hàng là hộ sản xuất kinh doanh, căn cứ trên các mẫu
biểu sổ sách theo qui định, ngân hàng hớng dẫn hộ lập báo cáo kết quả sản
xuất kinh doanh và bảng cân đối kế toán của hộ. Với khách hàng là cá nhân,
hồ sơ sẽ gồm những tài liệu chứng minh tài sản cá nhân, lơng và các thu
mực
của các tỷ lệ đại lợng tài chính. Sự biến đổi của các tỷ lệ phản ánh sự biến
đổi của các đại lợng tài chính. Vì vậy thông qua phân tích tỷ lệ để xác định
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và so sánh các đinh mức hoặc các ngỡng làm cơ sở đánh giá tình hình, so
sánh các tỷ lệ của khách hàng đã tính toán với các tỷ số tham chiếu. Nh vậy
phơng pháp so sánh luôn đợc phối hợp với phơng pháp tỷ lệ.
Các nhóm tỷ lệ chủ yếu đợc dùng trong phân tích tài chính của
khách hàng gồm 4 nhóm:
- Nhóm các tỷ số về khả năng thanh toán
- Nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn
- Nhóm tỷ số về khả năng hoạt động
- Nhóm tỷ số về khả năng sinh lãi
1.2.3.Quy trình phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM.
1.2.3.1. Phân tích trớc khi cho vay.
Phân tích trớc khi cho vay là bớc quan trọng nhất, quyết định đến
chất lợng của phân tích tín dụng. Nội dung chủ yếu là thu thập thông tin và
xử lý thông tin liên quan đến khách hàng. Việc phân tích trong giai đoạn
này tập trung vào phân tích khả năng sinh lợi, phân tích rủi ro từ đó xác
định khả năng trả nợ của khách hàng.
Khả năng sinh lợi của khách hàng cao thì khă năng trả nợ là cao và
ngợc lại vì khả năng sinh lợi của doanh nghiệp cho biết quy mô và tính chất
lợi nhuận tạo ra. Để phân tích khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, Ngân
hàng dựa vào các chỉ tiêu thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh và các tỷ lệ, chỉ tiêu thể hiện khả năng sinh lợi của của doanh
nghiệp nh: hệ số sinh lợi doanh thu, hệ số sinh lợi tài sản,
Rủi ro là khả năng mà một sự kiện không thuận lợi nào đó sẽ xuất
1.2.4.Nội dung phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM.
1.2.4.1.Phân tích các báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính là những báo cáo đợc lập dựa vào phơng pháp kế
toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát
sinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định. Các báo cáo tài chính phản
ánh một cách có hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại những thời điểm,
kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong những thời kỳ
nhất định.
Các báo cáo tài chính đợc sử dụng để phân tích tại NHTM gồm Bảng cân
đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lu chuyển tiền tệ.
Bảng cân đối kế toán: Là 1 báo cáo tổng hợp, phản ánh tổng
quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản của doanh
nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Nh vậy bảng cân đối kế toán nhằm mô tả
sức mạnh tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm. Ngời ta coi bảng
cân đối kế toán nh bức ảnh chụp nhanh, bởi nó đợc lập vào thời điểm cuối
kỳ kế toán. Đây cũng chính là nhợc điểm của bảng cân đối kế toán khi
chúng ta sử dụng số liệu của nó để phân tích.
Khi nhìn vào tổng tài sản và tổng nguồn vốn của doanh nghiệp trên
bảng cân đối kế toán, ta có thể xác định đợc quy mô của doanh nghiệp; nhìn
vào vốn chủ sở hữu ta xác định đợc khả năng tài chính và mức độ tự chủ của
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
doanh nghiệp trên cơ sở đó xác định đợc khả năng vay nợ của doanh
nghiệp vì yêu cầu về số lợng vốn chủ sở hữu là yêu cầu đầu tiên trong quá
trình thẩm định tín dụng tại ngân hàng. Nhìn vào TSLĐ và TSCĐ sẽ xác
định đợc lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp chẳng hạn nh doanh nghiệp
thuộc lĩnh vực thơng mại thì phần TSLĐ phải chiếm tỷ trọng lớn hơn. Nhìn
vào vốn trung và dài hạn( bao gồm vốn vay và vốn chủ sở hữu) có thể khái
TSCĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu( TSLĐ không phải là tiền
có thể chuyển đổi nhanh để thanh toán).
Nhu cầu vốn lu động thờng xuyên= Tồn kho và các khoản phải thu-
nợ ngắn hạn.
Nhu cầu vốn lu động thờng xuyên < 0, tức là các nguồn vốn ngắn hạn
từ bên ngoài đã thừa để tài trợ cho TSLĐ, doanh nghiệp không cần nhận
thêm nguồn vốn ngắn hạn nữa. Tuy nhiên nếu vốn lu động thờng xuyên <
0 và nhỏ hơn cả nhu cầu vốn lu động thờng xuyên thì vốn bằng tiền âm,
xảy ra tình trạng mất cân đối trong nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn( vốn
ngắn hạn nhiều, vốn dài hạn ít) hoặc mất cân đối trong đầu t dài hạn( đầu
t dài hạn quá nhiều).
Cuối cùng, ngân hàng phải kiểm tra xem liệu bảng cân đối kế toán đã
đợc kiểm toán hay cha, nếu chứ đợc kiểm toán thì ngân hàng sẽ không thể
xác định đợc liệu nợ phải trả đã quá hạn hay cha? các tài sản đã cầm cố,
thế chấp cha?. ngoài ra, không thể xác định đợc bảng cân đối kế toán đợc
lập vào thời điểm nào trong chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng hợp nhất, phản
ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một
thời kỳ, chi tiết theo các hoạt động, tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh
nghiệp đối với nhà nớc về thuế và các khoản phải nộp khác và tình hình về
thuế giá trị gia tăng. Báo cáo này đợc trình bày theo mẫu số B02- DN.
Mục tiêu của phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh là xác định, phân tích mối quan hệ và đặc điểm của các chỉ tiêu trong
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
báo cáo kết quả kinh doanh, so sánh chúng qua một số niên độ kế toán liên
đó ngân hàng lên kế hoạch thu nợ phù hợp
- Đánh giá đợc sự thịnh vợng hay khó khăn của doanh nghiệp
trong từng thời kỳ và nguyên nhân do đâu.
Bằng cách nghiên cứu các luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp,
ngân hàng có thể xác định đợc khi nào thì doanh nghiệp có thặng d tiền mặt
để trả nợ và khi nào bội chi tiền mặt cần phải vay bù đắp. Đồng thời qua
nghiên cứu luồng tiền và các khoản dễ dàng chuyển đổi thành tiền, ngân
hàng sẽ xác định đợc khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh
nghiệp.
1.2.4.2.Phân tích các chỉ tiêu tài chính.
Trong phân tích tài chính, các tỷ số tài chính chủ yếu thờng đợc phân
thành 4 nhóm:
Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu đợc sử
dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp.
-
hạnngắnNợ
TSLĐ
hànhhiệntoánthanhnăngKhả =
TSLĐ bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu t tài chính ngắn hạn,
các khoản phải thu, hàng tồn kho và TSLĐ khác.
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn
hạn, vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác.
Các TSLĐ và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định-tới một năm. Tỷ
số khả năng thanh toán hiện hành là thớc đo khả năng thanh toán ngắn hạn
của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngân
hàng đợc trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai
đoạn tơng đơng với thời hạn của các khoản nợ đó. Tỷ lệ này > 1 là tốt. Tuy
19
yếu. Trong khi đó doanh nghiệp nắm phần lợi rõ rệt, doanh nghiệp chỉ cần
bỏ ra một số vốn ít nhng đợc quyền sử dụng một lợng tài sản lớn để kinh
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
doanh mà không phải chia sẻ quyền kiểm soát. Đặc biệt khi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp đang phát triển, lãi thu đợc trên tiền vay lớn hơn lãi
suất tiền vay, lợi nhuận dành cho chủ doanh nghiệp tăng gấp bội. Ngợc lại
đối với ngời cho vay thì rủi ro tiềm ẩn là rất lớn, nếu hoạt động kinh doanh
thua lỗ thì họ sẽ là ngời gánh chịu tổn thất nặng nề nhất. Vì vậy khi cho vay
ngân hàng cần quan tâm đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp xem vốn chủ sở
hữu chiếm bao nhiêu, khả năng thanh toán lãi vay đến mức nào.
Một số chỉ tiêu mà ngân hàng quan tâm.
- Tỷ số nợ trên tổng tài sản( hệ số nợ)=
nsảtàiTổng
trảiphảNợ
Thông thờng các chủ nợ thích tỷ số nợ trên tổng tài sản vừa phải vì tỷ
số này càng thấp thì khoản nợ càng đợc đảm bảo trong trờng hợp doanh
nghiệp bị phá sản. Nếu tỷ số nợ quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán.
Một tỷ số nợ quá hạn có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 0.5 đợc coi là lý t-
ởng vì nó cho thấy có ít nhất phân nửa tài sản của doanh nghiệp đợc hình
thành bằng vốn chủ sở hữu.
- Tác dụng phân tích tơng tự chỉ tiêu này là chỉ tiêu tỷ lệ tự tài trợ.
Tỷ lệ tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Tỷ số này cho biết tổng số vốn doanh nghiệp chiếm tỷ trọng bao
Doanh thu thuần
TSLĐ bình quân
Tỷ số này cho biết vòng quay của tiền trong năm tức là số lần tất cả
số vốn đầu t đợc chuyển thành thanh toán tiền mặt. Chỉ số này thấp thì vốn
đầu t không đợc sử dụng một cách có hiệu quả, và có khả năng khách hàng
dự trữ hàng hoá quá nhiều hay tài sản không đợc sử dụng hoặc đang vay m-
ợn quá mức.
- Vòng quay dự trữ( tồn kho) =
khotồnHàng
thuầnthuDoanh
Số vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn đánh giá công ty sử
dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả nh thế nào. Hệ số này cao hay thấp
còn phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhng
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nói chung nếu vòng quay hàng tồn kho cao thì việc kinh doanh thờng đợc
đánh giá là tốt. Nếu hệ số này thấp, có nghĩa là hàng tồn kho nhiều, nguyên
nhân có thể là chất lợng hàng hoá thấp, giá thành cao, mẫu mã không phù
hợp với thị hiếu ngời tiêu dùng.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Kỳ thu tiền bình quân.
Kỳ thu tiền bình quân =
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân theo ngày
Các khoản phải thu là những hoá đơn bán hàng chứ thu tiền về do
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Doanh lợi vốn chủ sở hữu(ROE)
R
OE =
Thu nhập sau thuế
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và đợc các
nhà đầu t đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu t vào doanh
nghiệp
- Doanh lợi tài sản (ROA)
ROA=
nsảtàiTổng
lãivàthuếtrướcnhậpThu
hoặc ROA=
nsảtàiTổng
thuếsaunhậpThu
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất đợc dùng để đánh giá khả năng sinh lợi
của một đồng vốn đầu t.
Trên đây là những chỉ tiêu và nhóm chỉ tiêu đợc ngân hàng sử dụng
trong phân tích tài chính của khách hàng. Tuỳ thuộc loại cho vay: ngắn hạn
hay trung và dài hạn mà ngân hàng có thể có tập trung phân tích vào chỉ
tiêu, nhóm chỉ tiêu nào.
+Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn: Mục đích sử dụng các
khoản vay ngắn hạn của doanh nghiệp là để tài trợ cho nhu cầu TSLĐ thời
vụ, chủ yếu là hàng tồn kho và các khoản phải thu. Sau khi các khoản này
đợc giải phóng thành tiền thì khoản vay cũng đợc hoàn trả. Nh vậy nguồn
trả nợ chính cho các khoản vay ngắn hạn là từ doanh thu bán hàng. Vì vậy,
khi phân tích tài chính của khách hàng, ngân hàng phải đánh giá các chỉ
tiêu về khả năng thanh toán, sau đó là các chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho,