Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính của khách hàng tại Sở giao dịch I- NHĐT&PT Việt Nam - Pdf 29


Lời mở đầu
ít có thiết chế kinh tế nào tác động đến đời sống con ngời và xã hội
mạnh mẽ bằng ngân hàng và hoạt động của nó. Ra đời từ rất sớm và không
ngừng phát triển cả về qui mô, số lợng, chất lợng các dịch vụ, cho đến nay
ngành ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng - là huyết mạch của
nền kinh tế, với sự hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp: ngân hàng trung
ơng và ngân hàng thơng mại. Bên cạnh đó nền kinh tế thị trờng phát triển đã
thúc đẩy quá trình xâm nhập và phát triển của t tởng và tác phong kinh
doanh mới trong các ngân hàng, đợc thể hiện bằng sự có mặt của các chi
nhánh ngân hàng nớc ngoài và ngân hàng liên doanh.
Trong các hoạt động của ngân hàng, tín dụng là hoạt động quan
trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi
lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro cao nhất. Vì vậy, đảm
bảo và nâng cao chất lợng tín dụng luôn là nhiệm vụ, mục tiêu hàng đầu
của các ngân hàng thơng mại. Để đa ra đợc một quyết định tài trợ, các
ngân hàng phải cân nhắc kỹ lỡng, ớc lợng khẳ năng rủi ro và sinh lời dựa
trên qui trình phân tích tín dụng. Phân tích tài chính của khách hàng là một
trong những nội dung đó.
Phân tích tài chính của khách hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc đánh giá sức mạnh tài chính, khả năng tự chủ tài chính trong
kinh doanh, nhu cầu tài trợ và khẳ năng hoàn trả nợ của khách hàng. Nhng
hoạt động này trong các ngân hàng thơng mại vẫn còn nhiều bất cập dẫn
đến hiệu quả cho vay cha cao. Chính vì lẽ đó mà việc nghiên cứu tìm ra
các giải pháp nhằm nâng cao chất lợng công tác này góp phần quyết định
tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Qua quá trình thực tập tại Sở giao
dịch I- Ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam, tôi đã chọn đề tài: Hoàn
thiện phơng pháp phân tích tài chính của khách hàng tại Sở giao dịch

1


đợc coi là thời điểm của kỷ nguyên ngân hàng hiện đại nh ngân hàng
Amsterdam( Hà Lan), Ngân hàng Hamburg( Đức). Từ thế kỉ XVIII đến
thế kỉ XIX đã có sự phân công thành ngân hàng phát hành và ngân hàng
chuyên doanh. Từ thế kỉ XIX cho đến nay hệ thống ngân hàng đã phát
triển mạnh mẽ với sự hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp: ngân hàng
trung ơng và ngân hàng thơng mại. Ngày nay, hệ thống NHTM đã phát
triển mạnh mẽ cùng với việc đa dạng hoá các nghiệp vụ của mình, các
NHTM ngày càng xâm nhập sâu sắc vào mọi hoạt động của nền kinh tế.
Ngày 6/5/1951 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh 15/SL thành lập Ngân
hàng quốc gia Việt Nam và sau đổi tên thành ngân hàng nhà nớc Việt Nam
đợc tổ chức từ trung ơng đến quận, huyện.

3

Hệ thống ngân hàng một cấp đợc duy trì cho đến ngày 26/3/1988, quyết
định số 53- QĐ - HĐBT đã đánh dấu sự hình thành hệ thống ngân hàng
hai cấp với ngân hàng trung ơng thực hiện chức năng quản lý nhà nớc về
tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các ngân hàng chuyên doanh là: ngân hàng
Nông Nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Công Thơng Việt Nam, ngân hàng
Ngoại Thơng Việt Nam, ngân hàng Đầu T và Xây Dựng Cơ Bản Việt Nam.
Ngày 23/5/1990, ban hành hai pháp lệnh ngân hàng : pháp lệnh
ngân hàng nhà nớc và pháp lệnh pháp lệnh về tổ chức tín dụng có tổ chức
nội dung và pháp lý gần giống với hệ thống ngân hàng ở các nớc có nền
kinh tế thụ trờng. Ngân hàng nhà nớc Việt Nam có vai trò và nhiệm vụ nh
ngân hàng trung ơng, các tổ chức tín dụng bao gồm NHTM, Ngân hành
Đầu T và Phát Triển, công ty tài chính và hợp tác xã tín dụng có vai trò nh
ngân hàng trung gian.
Ngày 12/12/1997, luật ngân hàng nhà nớc Việt Nam và luật các tổ
chức tín dụng đợc quốc hội thông qua đã tiếp tục củng cố, xây dựng và cải
tiến hệ thống ngân hàng hai cấp. Ngân hàng thơng mại đợc định nghĩa: là

tập trung quyền lực phát hành tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ tài chính
hoặc là Ngân hàng trung ơng. Từ đó chấm dứt các ngân hàng thơng mại tạo
ra các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có đợc số d trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể
chi trả để có đợc hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm
hiện đại, đại lợng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong
lu thông(Mo), thứ hai là số d trên tài khoản tiền gửi giao dịch của khách
hàng tại ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và
tiền gửi có kì hạnKhi ngân hàng cho vay, số d trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng
và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay các ngân hàng đã tạo ra phơng tiện
thanh toán.

5

Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phơng tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi đợc mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ
sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để
chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu( tức làm tăng số d tiền gửi) của một khách
hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới.
Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ
d thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lợng tiền gửi( tạo ph-
ơng tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay(tạo tín dụng).
Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị
hàng hoá và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết
kiệm chi phí, ngân hàng đa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán
nh thanh toán bằng sec, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp

vay đối với các NHTM, Tổ chức tín dụng tạm thời mất khả năng chi trả, có
nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các Tổ chức tín dụng hoặc trong tr-
ờng hợp có sự chỉ định của thủ tớng chính phủ, NHNH thực hiện bảo lãnh
cho tổ chức tín dụng vay vốn nớc ngoài.
Hoạt động sử dụng vốn.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế đều muốn
tìm kiếm lợi nhuận. Ngân hàng không ngoại lệ, hoạt động huy động vốn của
ngân hàng đã đem lại cho ngân hàng một khoản vốn với tính chất là vốn đi
vay. Điều đó có nghĩa là ngân hàng phải trả lãi suất cho các khoản đó đến
từng giờ. Vậy ngân hàng sẽ phải sử dụng nguồn vốn đó nh thế nào để có đ-
ợc lợi nhuận. Các ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động
cho vay, đầu t vào các dịch vụ sinh lãi. Hiện nay, các NHTM đợc thực hiện
các hoạt động sử dụng vốn sau: Cho vay; chiết khấu thơng phiếu và cầm cố
các chứng từ có giá; bảo lãnh ngân hàng; cho thuê tài chính và các hình
thức khác theo quy định của NHNN.

7

Cho vay là hoạt động chính của ngân hàng để thu lợi nhuận. Nó
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM. Hình thức pháp lý của
hoạt động cho vay là hợp đồng tín dụng, có hai loại hợp đồng thông dụng:
Hợp đồng cho vay có đảm bảo( bằng tài sản, bằng tín chấp) và hợp đồng
cho vay không có đảm bảo.
Chiết khấu chứng tờ có giá ngắn hạn là nhiệm vụ mà ngân hàng sẽ
giao cho khách hàng một lợng tiền bằng mệnh giá chứng từ chiết khấu trừ
đi lệ phí chiết khấu trong thời hạn của hiệu lực chứng từ chiết khấu.
Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dới hình thức th
bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân
hàng khi không thực hiện đúng nghĩa vụ nh cam kết.
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua

động đất. Những thay đổi về nhu cầu ngời tiêu dùng hoặc về kỹ thuật của
một ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả sơ đồ của một hãng kinh
doanh và đặt ngời đi vay cụ thể nào đó đã có thời làm ăn có lãi lâm vào
cảnh thua lỗ. Một cuộc đình công kéo dài, việc giảm giá để cạnh tranh,
hoặc việc mất một ngời quản trị giỏi có thể làm giảm thiệt hại nghiêm trọng
đến khả năng hoàn trả tiền vay của ngời vay. Sự hng thịnh hay suy thoái của
chu kỳ kinh doanh ảnh hởng đến lợi nhuận của ngời vay và gây nên niềm
vui hay nỗi buồn của ngời kinh doanh, cũng nh ngời tiêu dùng. Một số rủi
ro nảy sinh từ các yếu tố riêng rẽ khó giải thích. Để quyết định có chấp
nhận cho vay hay không, nhà quản trị ngân hàng phải cố gắng ớc lợng rủi ro
không hoàn trả. Rủi ro này có thể dự đoán trong một quá trình kéo dài, bằng
những phân tích tỉ mỉ về các mặt tài chính, phi tài chính của khách hàng.
Trên thực tế, việc xác định các thông số phi tài chính nh uy tín, năng lực,
đạo đức, mục đích sử dụng vốn vay, là rất khó, mang tính chất định tính.
Vì vậy, những thông tin tài chính định lợng là rất quan trọng đối với ngân
hàng trong đánh giá, lựa chọn khách hàng. Phân tích tài chính của khách
hàng cho ngân hàng xác định đợc các yếu tố về lợng của nhu cầu vay vốn
tín dụng, xác định đợc thời hạn hợp lý của khoản vay, xác định kỳ hạn trả

9

nợ đối với từng khách hàng. Nh vậy, phân tích tài chính của khách hàng
không chỉ là nhu cầu thiết thực mà còn là đòi hỏi bắt buộc đối với mỗi
NHTM.
Có thể hiểu phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM là một
tập hợp các khái niệm, phơng pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các
thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm đánh giá tình hình tài chính,
khẳ năng và tiềm lực của khách hàng giúp ngân hàng đa ra các quyết định
tài trợ.
Phân tích tài chính của khách hàng tại các NHTM nhằm đạt đợc

quan thuế, hải quan, trung tâm tín dụng của NHNN CIC,Qua các trung
gian, ngân hàng phân tích đợc ngời vay qua các mối liên hệ của họ, cho
thấy uy tín, trình trạng rủi ro, phát triển hay suy thoái.
- Thông qua hồ sơ vay vốn của khách hàng: Đó là điều kiện bắt buộc
đối với mọi khách hàng khi muốn vay vốn của ngân hàng. Với khách hàng
là những doanh nghiệp, hồ sơ sẽ bao gồm các báo cáo tài chính nh : Bảng
cân đối kế toán ( mẫu số B01-DN ), báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
( mẫu số B02- DN), báo cáo lu chuyển tiền tệ (mẫu số B03-DN), thuyết
minh báo cáo tài chính ( mẫu số B09-DN), và bảng kế hoạch tài chính trong
tơng lai. Các báo cáo này cho thấy số liệu trong nhiều năm đã qua, vì vậy
giúp ngân hàng có cơ sở để dự đoán về tình hình của khách hàng trong tơng
lai gần. Ngân hàng sử dụng các báo cáo này để ớc tính nhu cầu vốn, trong
đó có nhu cầu tài trợ, đánh giá khẳ năng sinh lời và khẳ năng trả nợ của
khách hàng, các thiệt hại có thể xảy ra nếu khách hanhg không trả, hoặc
không trả đầy đủ,
Với các khách hàng là hộ sản xuất kinh doanh, căn cứ trên các mẫu
biểu sổ sách theo qui định, ngân hàng hớng dẫn hộ lập báo cáo kết quả sản
xuất kinh doanh và bảng cân đối kế toán của hộ. Với khách hàng là cá nhân,
hồ sơ sẽ gồm những tài liệu chứng minh tài sản cá nhân, lơng và các thu
nhập khác.

11

1.2.2.Các phơng pháp phân tích tài chính của khách hàng.
Phơng pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ
và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tợng, các mối liên
hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các
chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tài chính doanh nghiệp
Hiện nay các NHTM thờng sử dụng hai phơng pháp phân tích tài
chính đó là phơng pháp so sánh và phơng pháp phân tích tỷ lệ.

- Nhóm các tỷ số về khả năng thanh toán
- Nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn
- Nhóm tỷ số về khả năng hoạt động
- Nhóm tỷ số về khả năng sinh lãi
1.2.3.Quy trình phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM.
1.2.3.1. Phân tích trớc khi cho vay.
Phân tích trớc khi cho vay là bớc quan trọng nhất, quyết định đến
chất lợng của phân tích tín dụng. Nội dung chủ yếu là thu thập thông tin và
xử lý thông tin liên quan đến khách hàng. Việc phân tích trong giai đoạn
này tập trung vào phân tích khả năng sinh lợi, phân tích rủi ro từ đó xác
định khả năng trả nợ của khách hàng.
Khả năng sinh lợi của khách hàng cao thì khă năng trả nợ là cao và
ngợc lại vì khả năng sinh lợi của doanh nghiệp cho biết quy mô và tính chất
lợi nhuận tạo ra. Để phân tích khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, Ngân
hàng dựa vào các chỉ tiêu thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh và các tỷ lệ, chỉ tiêu thể hiện khả năng sinh lợi của của doanh
nghiệp nh: hệ số sinh lợi doanh thu, hệ số sinh lợi tài sản,
Rủi ro là khả năng mà một sự kiện không thuận lợi nào đó sẽ xuất
hiện, rủi ro xảy ra cho doanh nghiệp cũng chính là rủi ro cho ngân hàng. Vì
vậy trớc khi đa ra quyết định tài trợ nhất thiết ngân hàng phải phân tích rủi

13

ro cho khoản vay đó. Để phân tích rủi ro, ngân hàng dựa vào các chỉ tiêu thể
hiện trên bảng cân đối kế toán và các tỷ lệ thể hiện mức độ rủi ro trong hoạt
động sản xuất kinh doanh nh: tỷ lệ về khả năng thanh toán, tỷ lệ về năng lực
hoạt động,
1.2.3.2.Phân tích trong khi cho vay.
Trong khi cho vay, quyền sử dụng vốn của ngân hàng đã đợc chuyển
sang cho doanh nghiệp nhng vẫn có quyền và nghĩa vụ kiểm tra, theo dõi

cân đối kế toán nh bức ảnh chụp nhanh, bởi nó đợc lập vào thời điểm cuối
kỳ kế toán. Đây cũng chính là nhợc điểm của bảng cân đối kế toán khi
chúng ta sử dụng số liệu của nó để phân tích.
Khi nhìn vào tổng tài sản và tổng nguồn vốn của doanh nghiệp trên
bảng cân đối kế toán, ta có thể xác định đợc quy mô của doanh nghiệp; nhìn
vào vốn chủ sở hữu ta xác định đợc khả năng tài chính và mức độ tự chủ của

15

doanh nghiệp trên cơ sở đó xác định đợc khả năng vay nợ của doanh
nghiệp vì yêu cầu về số lợng vốn chủ sở hữu là yêu cầu đầu tiên trong quá
trình thẩm định tín dụng tại ngân hàng. Nhìn vào TSLĐ và TSCĐ sẽ xác
định đợc lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp chẳng hạn nh doanh nghiệp
thuộc lĩnh vực thơng mại thì phần TSLĐ phải chiếm tỷ trọng lớn hơn. Nhìn
vào vốn trung và dài hạn( bao gồm vốn vay và vốn chủ sở hữu) có thể khái
quát cơ cấu vốn, cơ cấu tài trợ của doanh nghiệp; nợ ngắn hạn ảnh hởng tới
vốn lu động thờng xuyên của doanh nghiệp nên cũng ảnh hởng tới quyết
định của doanh nghiệp.
Thông qua phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh
nghiệp, ngân hàng sẽ xác định khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn
của doanh nghiệp thông qua khả năng chuyển đổi vật t, hàng hoá và tài sản
thành tiền mặt trong kỳ.
Tiếp theo, phân tích vốn lu động thờng xuyên là một nội dung quan
trọng nhằm đánh giá xem doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn hay không? và TSCĐ của doanh nghiệp có đợc tài trợ
một cách vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn không?
Vốn lu động thờng xuyên= nguồn vốn dài hạn TSCĐ =TSLĐ -
nguồn vốn ngắn hạn
Khi vốn lu động thờng xuyên < 0 tức là nguồn vốn dài hạn không đủ
đầu t cho TSCĐ, doanh nghiệp phải dùng một phần vốn ngắn hạn để đầu t

Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng hợp nhất, phản
ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một
thời kỳ, chi tiết theo các hoạt động, tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh
nghiệp đối với nhà nớc về thuế và các khoản phải nộp khác và tình hình về
thuế giá trị gia tăng. Báo cáo này đợc trình bày theo mẫu số B02- DN.
Mục tiêu của phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh là xác định, phân tích mối quan hệ và đặc điểm của các chỉ tiêu trong

17

báo cáo kết quả kinh doanh, so sánh chúng qua một số niên độ kế toán liên
tiếp và số liệu trung bình của ngành để đánh giá kết quả kinh doanh và xu
hớng biến động của các chỉ tiêu đó theo thời gian.
Về phơng pháp phân tích, sử dụng mẫu biểu đã đợc chuẩn hoá trong
báo cáo kết quả kinh doanh, xác định tỷ trọng và tốc độ biến động theo thời
gian để đánh giá về kết cấu và biến động, rút ra nhận xét và tìm nguyên
nhân chủ yếu ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với cán bộ tín dụng cần phân tích doanh thu thuần, lãi từ sản xuất
kinh doanh, lãi sau thuế năm báo cáo so với năm trớc hay trong 3 năm liên
tục thì kết quả đánh giá khách quan hơn.
Phân tích báo cáo lu chuyển tiền tệ(BCLCTT).
BCLCTT là một báo cáo tìa chính phản ánh khoản thu và chi tiền
trong kỳ của doanh nghiệp theo từng hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu
t và hoạt động tài chính.
Quản lý tiền đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài chính. Nhiệm
vụ chính của quản lý tiền là đảm bảo đủ tiền để thanh toán cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp khi đến hạn thanh toán. Trên góc độ ngân
hàng, khi xem xét hiệu quả quản lý tiền của doanh nghiệp, ngân hàng cần

hànhhiệntoánthanhnăngKhả
=
TSLĐ bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu t tài chính ngắn hạn,
các khoản phải thu, hàng tồn kho và TSLĐ khác.
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn
hạn, vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác.
Các TSLĐ và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định-tới một năm. Tỷ
số khả năng thanh toán hiện hành là thớc đo khả năng thanh toán ngắn hạn
của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngân
hàng đợc trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai
đoạn tơng đơng với thời hạn của các khoản nợ đó. Tỷ lệ này > 1 là tốt. Tuy

19

nhiên khi đánh giá chỉ tiêu này cần loại trừ các khoản nợ khó đòi trong
TSLĐ.
Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn,
các nhà phân tích còn quan tâm đến chỉ tiêu vốn lu động dòng hay vốn lu
động thờng xuyên của doanh nghiệp. Nó đợc xác định là phần chênh lệch
giữa tổng tài sản và tổng nợ ngắn hạn, hoặc là phần chêch lệch giữa vốn th-
ờng xuyên ổn định với tài sản cố định dòng. Khả năng đáp ứng nghĩa vụ
thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và khả năng nắm bắt thời
cơ thuận lợi của doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào vốn lu động dòng.
Khả năng thanh toán nhanh =
TSLĐ - Dự trữ
Nợ ngắn hạn
Hệ số này đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp,
thể hiện khả năng về tiền mặt và các loại tài sản có thể chuyển ngay thành
tiền để thanh toán cho các khoản nợ đến hạn. Tỷ lệ này cho biết một (đồng)
nợ ngân hàng đợc đảm bảo bằng bao nhiêu đồng TSLĐ dòng cho nên tỷ lệ

số này càng thấp thì khoản nợ càng đợc đảm bảo trong trờng hợp doanh
nghiệp bị phá sản. Nếu tỷ số nợ quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán.
Một tỷ số nợ quá hạn có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 0.5 đợc coi là lý t-
ởng vì nó cho thấy có ít nhất phân nửa tài sản của doanh nghiệp đợc hình
thành bằng vốn chủ sở hữu.
- Tác dụng phân tích tơng tự chỉ tiêu này là chỉ tiêu tỷ lệ tự tài trợ.
Tỷ lệ tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Tỷ số này cho biết tổng số vốn doanh nghiệp chiếm tỷ trọng bao
nhiêu trong tổng số vốn mà doanh nghiệp đa vào sản xuất kinh doanh. Tỷ số
này càng lớn càng có sự đảm bảo cao cho các khoản nợ vay.
-Khả năng thanh toán lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay=
vayLãi
vayLãithuếtrướcnhuậnLợi
+
Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định và chúng ta muốn biết
công ty sẵn sàng trả lãi đến mức nào. Cụ thể hơn chúng ta muốn biết rằng

21

liệu số vốn đi vay có thể sử dụng tốt đến mức nào, có thể đem lại lợi nhuận
bao nhiêu và đủ bù đắp lãi vay hay không.
Tỷ lệ này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo bằng khả năng trả lãi
hàng năm nh thế nào. Số tiền thu nhập trớc khi trả thuế thu nhập doanh
nghiệp và các khoản tiền lãi vay là số tiền sẵn sàng để thanh toán tiền lãi
cho các khoản nợ vay. Tỷ lệ này càng lớn càng tốt. Ngoài ra có thể xem xét
khả năng trả nợ bằng cách so sánh lãi vay với doanh thu thuần. Theo kinh

hợp với thị hiếu ngời tiêu dùng.

23

-Kỳ thu tiền bình quân.
Kỳ thu tiền bình quân =
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân theo ngày
Các khoản phải thu là những hoá đơn bán hàng chứ thu tiền về do
công ty thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng cha thanh toán,
khoản trả trớc cho ngời bán.
Kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán
chịu của công ty. Nếu kỳ thu tiền bình quân thấp thì hiệu quả sử dụng vốn
kém do vốn bị chiếm dụng nhiều. Nhng nếu kỳ thu tiền bình quân quá cao
thì sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu.
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSCĐ tạo
ra đợc bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm.
Hiệu suất sử dụng TSCĐ=
TSCĐ
thuDoanh
TSCĐ ở đây đợc xác định theo giá trị còn lại đến thời điểm lập báo
cáo. Tỷ lệ này thấp thể hiện hoạt động cha hết khả năng, tỷ lệ này nếu quá
cao cho thấy doanh nghiệp đầu t quá ít cho TSCĐ
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản.
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản=
nsảtàiTổng
thuầnthuDoanh

Chỉ tiêu này còn gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó cho biết một
đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.

tiêu, nhóm chỉ tiêu nào.
+Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn: Mục đích sử dụng các
khoản vay ngắn hạn của doanh nghiệp là để tài trợ cho nhu cầu TSLĐ thời
vụ, chủ yếu là hàng tồn kho và các khoản phải thu. Sau khi các khoản này
đợc giải phóng thành tiền thì khoản vay cũng đợc hoàn trả. Nh vậy nguồn
trả nợ chính cho các khoản vay ngắn hạn là từ doanh thu bán hàng. Vì vậy,
khi phân tích tài chính của khách hàng, ngân hàng phải đánh giá các chỉ
tiêu về khả năng thanh toán, sau đó là các chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho,
kỳ thu tiền bình quân.
+Nếu là những khoản cho vay trung và dài hạn: Các khoản vay này
dùng chủ yếu cho nhu cầu TSCĐ và TSLĐ thờng xuyên, nguồn trả nợ chính
cho các khoản vay này thờng là phần tăng thêm trong vốn chủ sử hữu của
doanh nghiệp, đợc tạo thành từ lợi nhuận sau thuế và nguồn khấu hao. Khi

25

Trích đoạn Giải pháp về nguồn nhân lực Kiến nghị với Ngân hàng Đầu t và phát triển Việt Nam.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status