ĐẶT VẤN ĐỀ
Sâu răng là một trong những bệnh răng miệng phổ biến nhất với tỷ lệ người
mắc rất cao, có nơi trên 90% dân số có sâu răng. Ở Việt Nam theo kết quả điều tra
trên phạm vi toàn quốc của Trần Văn Trường, Trịnh Đình Hải, Lâm Ngọc Ấn năm
2001 về tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở trẻ lứa tuổi 9 - 11 tuổi là 54,6% [1].
Trong đó tỷ lệ sâu răng số 6 của lứa tuổi 6 - 10 theo điều tra của Vũ Mạnh
Tuấn và Trần Văn Trường tại Trường Tiểu học Đông Ngạc A - Từ Liêm - Hà Nội
là 56,8% (khám bằng mắt thường) và 78,1% (khám bằng Laser) [2], theo Phan Thị
Kim Tuyết tại Bệnh viện đa khoa khu vực huyện Cai Lậy - Tiền Giang tỷ lệ sâu
răng số 6 lứa tuổi 7 - 15 là 47,2% và 0,97% mất răng 6 do sâu răng và không có
răng nào được trám [3].
Để điều trị bệnh sâu răng và khắc phục hậu quả của nó cần chi phí rất cao,
theo Tổ chức Y tế Thế giới “Chi phí chữa răng rất lớn, vượt quá khả năng của mọi
Chính phủ kể cả những nước phát triển”. Do vậy, dự phòng sâu răng là biện pháp
hữu hiệu nhất nhằm giảm tỷ lệ sâu răng và gián tiếp làm giảm chi phí cho vấn đề
chăm sóc sức khỏe răng miệng cộng đồng.
Tình hình sâu răng trên các mặt răng khác nhau trong những năm gần đây có
thay đổi về tỷ lệ. Mặc dù mặt nhai chỉ chiếm 12,5 % diện tích các mặt răng nhưng
đây lại là nơi nhạy cảm với sâu răng nhất. Sâu răng thường bắt nguồn từ hố rãnh
trên mặt nhai, tỷ lệ sâu răng luôn chiếm trên 50% tổng số xoang sâu theo mặt răng,
ở cả răng sữa và răng vĩnh viễn trên trẻ em trong độ tuổi đi học.
Trẻ em ở lứa tuổi 6 - 12 đã mọc răng 6 và răng 7, đây là những răng chủ chốt
và quan trọng của bộ răng vĩnh viễn, theo giải phẫu răng 6 và răng 7 có nhiều hố rãnh,
thực tế cho thấy hơn 50% các trường các trường hợp sâu răng xuất phát từ hố rãnh.
Do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, việc bảo vệ mặt nhai các răng hàm
vĩnh viễn ở giai đoạn sớm, trong những thời gian đầu khi răng vừa mới mọc có ý
nghĩa rất quan trọng và thiết thực trong việc giảm tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở lứa
tuổi học đường.
1
Che phủ bề mặt răng hàm lớn vĩnh viễn đang mọc bằng Fuji VII là một kỹ
thuật để dự phòng sâu răng sớm. Kỹ thuật này có nhiều tính ưu việt: kỹ thuật đơn
số SMTR và tỷ lệ sâu răng có nhiều biến động nhưng nhìn chung là tiếp tục giảm
xuống nhờ có sự phối hợp của các chương trình dự phòng sâu răng như: chương
trình Fluor hóa nước uống, Fluor dùng tại chỗ, chương trình nha học đường [6].
- Ở các nước đang phát triển và trong khu vực:
Trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến năm 1982 tại các nước đang phát
triển tỷ lệ sâu răng ngày càng tăng cao. Ở những nước trong khu vực theo báo cáo
của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1994, 1997 hầu hết trên 90% dân số bị sâu
răng và chỉ số SMTR tuổi 12 ở nhiều nước còn cao hơn. Bên cạnh đó, ở một số
nước như Malaysia và Singapo tình trạng sâu răng trẻ em có xu hướng giảm xuống
do đã làm tốt công tác dự phòng sâu răng.
Từ năm 1983 đến nay có nhiều tác giả công bố tình trạng sâu răng ở trẻ em.
Tại nhiều nước đang phát triển thì tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMTR ở các nước có
khác nhau nhưng nhìn chung có xu hướng gia tăng. Hầu hết các tác giả đều cho
rằng tỷ lệ sâu răng tăng ở các nước này là do mức sống ngày càng được cải thiện,
lượng đường tăng trong các chế độ ăn [7], [8], [9], [10].
3
Về tỷ lệ sâu rãnh răng và nhu cầu điều trị đã có nhiều nghiên cứu đề cập.
Theo báo cáo, ở Malaysia tỷ lệ sâu rãnh răng là 37,4%, ở Nam Phi là 52,3% và ở
Braxin tỷ lệ sâu rãnh răng ở trẻ 5 tuổi là 57,8% trong khi đó ở trẻ 12 tuổi là 61,1%.
Điều này cho thấy mức độ cần thiết trong dự phòng sâu rãnh răng ở trẻ em.
1.1.2. Tình hình sâu răng trẻ em ở Việt Nam:
Trong những năm của thập niên 70 đã có nhiều công trình điều tra về tình
hình sâu răng ở nhiều địa phương khác nhau nhưng đa số các công trình chỉ là
thống kê tỷ lệ sâu răng đơn thuần ở học sinh:
Các nghiên cứu của bộ môn RHM trường Đại Học Y Hà Nội năm 1978 cho
biết 39% học sinh 6 tuổi sâu răng vĩnh viễn [11].
Hoàng Tử Hùng (1980-1981) điều tra một số tỉnh ở Miền Nam đã nêu lên tỷ
lệ sâu răng là 70,49% trong đó Thuận Hải có tỷ lệ là 72,14% [12].
Từ các điều tra cơ bản sức khỏe răng miệng tại Việt Nam năm 1983, 1991
và các điều tra tại thành phố Hồ Chí Minh các năm 1981, 1984, 1989, 1995 [13]
- Là những răng có 2 múi lớn phía trong có kích thước gần tương đương nhau.
- Các múi gần ngoài và xa ngoài cũng có kích thước gần tương đương nhau.
Răng 6 trên và dưới là các răng vĩnh viễn đầu tiên mọc lên trong miệng
khoảng 6 tuổi, ngay phía xa răng hàm sữa thứ hai, đánh dấu sự khởi đầu của giai
đoạn bộ răng hỗn hợp, với sự có mặt đồng thời của cả răng sữa lẫn răng vĩnh viễn
trên cung răng. Răng 6 dưới được xem là răng neo chặn của bộ răng dưới và mang
đặc điểm cơ bản đặc trưng cho các răng hàm lớn dưới [14].
* Kích thước và tuổi mọc.
Bảng 1.2. Kích thước và tuổi mọc răng hàm lớn dưới [14].
Kích thước(mm) Răng 6 (răng lớn dưới)
Cao thân răng 7.5
Gần xa thân răng 11.0
Ngoài trong thân răng 10.5
Cao toàn bộ 21.5
Gần xa cổ răng 9
Ngoài trong cổ răng 9
Tuổi mọc 6
* Nhìn mặt nhai:
Thân răng có hình ngũ giác. Đường viền mặt ngoài nằm trên hai cạnh và dài
hơn đường viền phía trong. Đường viền phía gần lớn hơn phía xa [14]
Đường viền phía ngoài được chia thành ba phần lồi bởi hai chỗ lõm hình
chữ V, tương ứng với vị trí của hai rãnh (gần ngoài và xa ngoài). Đường viền ngoài
lồi nhất ở vị trí của múi xa ngoài, kích thước ngoài trong tối đa ở ngay phía xa của
rãnh gần ngoài (nghĩa là phần xa lớn hơn phần gần). Đường viền phía ngoài và
phái gần hợp thành một góc khá rõ: góc gần ngoài. Góc xa ngoài trông tròn hơn.
Hai đường viền gần và xa tương đối thẳng, hội tụ về phía trong. Đường viền trong
khá thẳng, gián đoạn bởi rãnh trong.
6
Có thể thấy hai phần ba mặt ngoài. Các gờ ngoài lố, chạy từ đỉnh múi về
phía cổ.
nhau. Để đơn giản có thể chia hố rãnh làm 2 dạng chính:
- Dạng nông, rộng: rãnh thường có dạng hình chữ V.
- Dạng sâu, hẹp: thường các rãnh có dạng hình chữ I, chữ V, hình giọt nước,
hình chùy hay hình chữ U
Trên mỗi răng thường có nhiều loại hình dạng rãnh khác nhau, thường rãnh
chữ V chiếm nhiều nhất (40%), rãnh I (20%), rãnh dạng chùy (15%), dạng chữ U
(15%), và dạng giọt nước (10%).
8
Hình 1.4: Rãnh chữ I Hình 1.5: Rãnh chữ V
Sự hình thành của các rãnh trong quá trình hình thành chân răng là do hoạt
động chế tiết của nguyên bào men ở đáy rãnh dừng lại, trong khi các nguyên bào
men ở thành rãnh vẫn tiếp tục quá trình hình thành men. Độ nông sâu của rãnh phụ
thuộc vào khoảng cách của các trung tâm phát triển và độ dày của lớp men do sự
chồm lên nhau của các nguyên bào men trên bề mặt men ở đáy rãnh.
Trong cấu trúc mô học của men răng, trụ men là đơn vị cấu trúc có thể quan
sát được dưới kính hiển vi quang học và kính hiển vi điện tử. Mỗi trụ men gồm các
tinh thể được bao bọc bởi bao trụ. Trụ men chạy liên tục từ đường nối men ngà đến
mặt ngoài của răng. Trên các răng chưa mọc hay sắp mọc, các trụ men thường
không kết thúc trên bề mặt men răng mà ở khoảng cách từ 5-100µm dưới bề mặt.
Lớp ngoài cùng là lớp men không trụ. Lớp men này xuất hiện trong pha tạo men
cuối cùng, ngay khi các nguyên bào men tiêu biến, các nhú Tomes và cực xa trở
nên tù. Chúng bao gồm hầu như là các tiểu tinh thể được nén chặt, với toàn bộ trục
dài chạy theo hướng vuông góc với bề mặt men răng. Theo nghiên cứu của nhiều
tác giả dưới kính hiển vi điện tử quét thì lớp men không trụ này thấy ở tất cả các
răng sữa và 70% răng vĩnh viễn. Một dãy men không trụ có độ dày từ 20-30 µm
dài từ 100-300µm được tìm thấy trong men ở rãnh và cổ răng. Theo các tác giả thì
lớp men không trụ là yếu tố bất lợi cho việc lưu giữ cơ học của vật liệu dán
composite lên bề mặt răng do không tạo được vi ngàm lưu của nhựa đi vào lớp men.
9
Ở lối vào các rãnh có một nút chặn hữu cơ gồm biểu mô men còn sót, vi
Sâu răng xảy ra khi sự hủy khoáng chiếm ưu thế hơn sự tái khoáng. Bản chất
của quá trình hủy khoáng và tái khoáng của men, ngà, cement là như nhau. Tuy
nhiên do cấu trúc, thành phần muối khoáng và chất tựa hữu cơ của chúng khác
nhau nên tiến triển tổn thương sâu răng có sự khác nhau.
Hình 1.7: Hiện tượng hủy khoáng và tái khoáng
11
* Vai trò của Fluor
Fluor được phát hiện và sử dụng trong nha khoa dự phòng từ rất sớm. Việc
phát hiện ra vai trò của Fluor được coi là bước đột phá trong chương trình dự
phòng sâu răng. Fluor giúp kiểm soát sâu răng sớm theo nhiều cách.
Trong quá trình phát triển răng, Fluor kết hợp với tinh thể hydroxyapatite,
chất chủ yếu cấu tạo nên tổ chức cứng của răng, tạo thành hợp chất Fluorapatite
cứng hơn nhiều lần và cũng ít bị hòa tan trong môi trường acid.
Fluor ở men răng và mảng bám kích thích quá trình sửa chữa các tổn
thương sâu mới hình thành. Quá trình này gọi là sự tái khoáng hóa men răng.
Fluor có tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây sâu răng do ức chế
quá trình chuyển hóa của chúng thông qua đó làm giảm sinh acid và làm giảm sự
phát triển của mảng bám.
Do vậy Fluor có vai trò kiện toàn tổ chức cứng của răng, ức chế quá trình
sâu răng, ngăn cản sự hình thành các tổn thương mới và có vai trò ổn định các tổn
thương mới hình thành. Sự tiếp xúc với Fluor hàng ngày với nồng độ thấp sẽ ức
chế quá trình hủy khoáng, làm tăng quá trình tái khoáng hóa men răng.
1.2.3. Bệnh căn sâu răng
Từ nhiều thập kỷ nay, đã có nhiều giả thuyết về bệnh căn bệnh sâu răng
được đưa ra trong đó giả thuyết sinh acid của Miller đề xuất năm 1889 được nhiều
người chấp nhận hơn cả. Vi khuẩn trong hốc miệng mà thủ phạm chính là
Streptococus Mutans lên men các chất bột, đường còn dính lại trên răng sinh ra
acid phá hủy tổ chức cứng của răng hình thành lỗ sâu.
Sự phối hợp của các yếu tố gây sâu răng được thể hiện qua sơ đồ Keyes sau đây:
12
tổn thương sâu răng xuất hiện ở miệng rãnh thường dưới dạng tổn thương kép, độc
lập nhau ở hai bên sườn nghiêng. Sau đó các tổn thương này sẽ lan rộng theo chiều
sâu của rãnh, to dần và hợp lại thành một tổn thương khi chúng gặp nhau ở đáy
rãnh. Bề dày men ở đáy rãnh giảm đáng kể so với những nơi khác làm cho sâu
răng dễ lấn sâu vào ngà do vậy trên lâm sàng tổn thương sâu vào đến ngà nhưng
vẫn thấy men răng mặt nhai còn nguyên vẹn [17], [18]. Mặt khác do ngà mềm hơn
men nên khi tổn thương đã lan tới ngà thường tiến triển nhanh hơn. Do vậy sâu
răng ở giai đoạn đầu thường khó phát hiện bằng thám trâm [17].
Theo một số tác giả, sự hình thành sâu răng trên bề mặt các rãnh phụ thuộc
chủ yếu vào độ hẹp của rãnh, ngoài ra các nút chặn hữu cơ trong rãnh giữ vai trò
làm vùng đệm chống lại các sản phẩm acid của mảng bám, do đó sự tấn công của
acid sẽ giảm đi ở đáy rãnh trong suốt giai đoạn khởi đầu của sâu răng.
Các nghiên cứu cho thấy có sự giảm đột ngột đáng kể số lượng vi khuẩn
trong các tổn thương sâu răng ở hố rãnh được bít kín hoàn toàn. Tiến trình sâu răng
cũng bị ngừng lại do vi khuẩn bị cách ly với nguồn dinh dưỡng bên ngoài. Tuy
nhiên khi đặt chất trám bít, ở giai đoạn xoi mòn men bằng acid thì 75% vi khuẩn
đã bị loại trừ. Một số báo cáo cho thấy, khi đặt chất trám bít hố rãnh lên hố rãnh
nguyên vẹn nhưng đã có tổn thương ngà trên phim X-quang thì sau 2 tuần chỉ còn
4,5% vi khuẩn sống sót và dưới 3% vi khuẩn có khả năng gây sâu răng [19], [18].
Sau khi đặt chất trám bít hố rãnh, tổn thương ở ngà sẽ dừng lại và cho thấy sự lành
thương lên tới 89%. Người ta thấy ngay cả khi tổn thương đã vào tới 640µm ở lớp
ngà, tổn thương cũng dừng lại [19].
14
Dù biện pháp dự phòng sâu răng bằng Fluor tại chỗ và toàn thân rất hiệu quả
với mặt láng thì ngược lại ở hố rãnh Fluor rất ít tác dụng. Điều này có thể liên quan
đến bề dày lớp men của các mặt khác (tối thiểu là 1mm) so với mặt hố rãnh (rất
mỏng, thậm chí nối hẳn với lớp ngà).
1.3. Các biện pháp dự phòng sâu răng.
1.3.1. Giáo dục vệ sinh răng miệng [8], [6], [22].
- Giáo dục vệ sinh răng miệng là biện pháp phòng chống sâu răng mang lại
biện pháp hiệu quả an toàn.
* Muối Fluor:
- Hàm lượng Fluor được TCYTTG khuyến cáo được đưa vào muối ăn với
độ tập trung là 250mgF/1 kg muối ăn. Hiệu quả dự phòng sâu răng như Fluor hóa
nước uống cáp công cộng [25].
- Biện pháp này phù hợp với các nước đang phát triển.
* Viên Fluor:
- Đối với các các cộng đồng thiếu Fluor trong thức ăn, thì cho trẻ em sử
dụng hàng ngày một lượng Fluor thích hợp từ lúc mới sinh cho đến khi mọc răng
hàm lớn thứ 2.
- Dùng viên Fluor có thể dạng viên nén hay viên nang được kê đơn, dùng
theo đường uống cho các cá thể có nguy cơ sâu răng cao [25].
* Fluor hóa nước cáp ở trường học:
- Những nơi không có nguồn nước cấp ở công cộng, thì có thể chọn biện
pháp này, song chi phí rất cao.
- Fluor hóa nguồn nước sinh hoạt ở trường học với độ tập trung Fluor cao
hơn mức độ tập trung Fluor tối ưu trong nước công cộng 4,5 lần.
* Nước súc miệng Fluor pha loãng:
- Là biện pháp dễ thực hiện và hiệu quả cao trong dự phòng sâu răng, có thể
giảm sâu răng từ 35 đến 50%.
16
- Súc miệng với dung dịch Fluor pha loãng: súc miệng hàng ngày bằng dung
dịch Fluor 0,05% và súc miệng tuần 1 lần bằng dung dịch Fluor 0,2%.
* Kem đánh răng có Fluor:
Theo Trần Văn Trường và một số tác giả nghiên cứu trên invitro (Trịnh
Đình Hải) cho biết kem Fluor có khả năng làm tăng thành phần Fluor của men răng
dẫn đến tác dụng phòng ngừa sâu răng [26].
Tuy nhiên hiệu quả phụ thuộc vào các loại kem Fluor khác nhau, dao động
từ 20-30% [27].
1.3.3. Trám bít hố rãnh mặt nhai [20], 17], [2], [28].
hóa men răng. Xylitol cũng có tác dụng giảm lây nhiễm Steptococus mutans từ mẹ
sang con, giảm tỷ lệ sâu răng 40 - 90% ở tất cả các lứa tuổi, giảm hôi miệng, cung
cấp can xi và các cation cho quá trình tái khoáng men răng. Mặt khác Xylitol làm
giảm đau cho bệnh nhân hôi miệng, gỉam dần số nhiễm nấm trên bệnh nhân đái
tháo đường, phòng chống loãng xương và bảo vệ Protein nước bọt. Ngoài Xylitol
còn có một số chất làm chậm kên men như Sorbotol, Manitol và Maltitol.
Để dự phòng sâu răng trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam cần phải có
những quy định cụ thể việc kiểm soát đường trong ăn uống như: sản xuất, nhập
khẩu, quảng cáo, tiếp thị thực phẩm.v.v
Kiểm soát thức ăn và đồ uống có đường bằng cách:
- Giảm số lần ăn thực phẩm có đường trong ngày.
- Giảm mức độ tiêu thụ đường ở tầm quốc gia như dùng các chất tạo ngọt
thay thế đường trong sản xuất bánh kẹo, nước ngọt.
- Kiểm soát các thực phẩm có đường trong trường học.
Đồng thời phải tăng cường giáo dục vệ sinh răng miệng sau khi ăn, uống các
loại thực phẩm có đường. Phòng bệnh sâu răng không phải chỉ ăn uống hạn chế
đường mà ngay sau khi ăn uống thức ăn có đường cần phải súc miệng và chải răng
kỹ với kem có Fluor.
1.4. Dự phòng sâu răng bằng trám bít hố rãnh
1.4.1. Sâu răng vùng hố rãnh
Trước đây, người ta cho rằng sâu răng bắt nguồn từ đáy hố rãnh, nơi sâu
nhất trước khi lan rộng ra thành bên và sườn múi. Nhưng các nghiên cứu gần đây
18
cho thấy các thành bên của hố rãnh mới là nơi bắt đầu tiến trình sâu răng. Đầu tiên
tổn thương sâu răng xuất hiện ở miệng rãnh thường dưới dạng tổn thương kép, độc
lập nhau ở hai bên sườn nghiêng. Sau đó các tổn thương này sẽ lan rộng theo chiều
sâu của rãnh, to dần và hợp lại thành một tổn thương khi chúng gặp nhau ở đáy
rãnh. Bề dày men ở đáy rãnh giảm đáng kể so với những nơi khác làm cho sâu
răng dễ lấn sâu vào ngà do vậy trên lâm sàng tổn thương sâu vào đến ngà nhưng
vẫn thấy men răng mặt nhai còn nguyên vẹn [18]. Mặt khác do ngà mềm hơn men
lệ hạt độn tương đối ít hơn. Hiện nay người ta cũng cố gắng cải thiện thêm vào đến
60% hạt độn để chất trám bít hố rãnh có khả năng chịu mài mòn cao hơn. Quá trình
đông cứng có thể là quang trùng hợp hay hóa trùng hợp.
Đây là loại vật liệu được dán dính vào men bằng cách sử dụng acid etching
tạo ra các vi ngầm. Do đó ở giai đoạn xoi mòn men răng, sau khi đã thổi khô mặt
men đảm bảo không cho nước bọt thâm nhiễm lên vùng răng đã xoi mòn, nếu có
phải tiến hành xoi mòn lại. Vì vậy loại vật liệu này được chỉ định dùng trên răng đã
mọc lên hết và có khả năng cách ly được.
Độ nhớt thấp giúp chất hàn chảy dễ dàng vào đáy những hố rãnh nhỏ và sâu,
làm giảm vi kẽ.
Sự giải phóng Fluor ổn định trong một thời gian dài giúp men răng đề kháng
tốt với sâu răng.
Tính bám dính tốt vào bề mặt men giúp chất hàn được lưu giữ lâu hơn, tăng
hiệu quả phòng chống sâu răng.
* Chất trám bít hố rãnh Glass ionomer
Cement gốc thủy tinh (G.I.C) cũng được dùng làm chất trám bít hố rãnh.
Chúng dính vào men ngà nhờ cơ chế hóa lý sau khi xử lý mô này với polyacrylic
acid. Ưu điểm là phóng thích Fluor, nó chứa khoảng 19% Fluor về trọng lượng.
Các G.I.C sẽ giải phóng Fluor cao nhất trong 24 giờ đầu và giảm nhanh
chóng trong 48 giờ tiếp theo để đạt mức vừa phải ổn định trong tuần thứ hai.
* Chất trám bít hố rãnh Glass ionomer bổ sung nhựa
20
Loại glass ionomer cement trám bít hố rãnh thông thường có nhiều ưu điểm
như phóng thích Fluor trong thời gian dài, hơn nữa vật liệu này cho phép có thể sử
dụng ở những răng mới mọc lên một phần không thể cô lập bằng đế cao su. Vật
liệu này được cải tiến về thành phần và kỹ thuật trám giúp vật liệu có độ chảy cao
hơn nên khả năng thâm nhập vào hố rãnh dễ dành hơn loại G.I.C thông thường.
* Chất trám bít có Fluor
Men răng được phủ chất trám bít hố rãnh có mức độ cao Fluor, với các chất
trám bít hố rãnh có trộn thêm Fluor, một lượng tương đối lớn Fluor được phóng
giảm dần và sau khoảng thời gian ba tháng sẽ có sự giải phóng ra đều đặn trong
suốt thời gian tồn tại của miếng hàn. Ngoài ra nó còn có khả năng hấp thu Fluor từ
các nguồn bên ngoài và sau đó phóng thích trở lại môi trường miệng.
- Tương hợp sinh học tốt với mô quanh răng, gần giống mô cứng của răng,
không độc với tủy răng.
- Có độ bền và sức chịu lực khá tốt khi trộn có tỷ lệ bột cao. Độ bền nén sau
24 giờ là 90 đến 230 Mpa, sau một năm tăng lên 160 đến 280 Mpa.
- GIC hóa trùng hợp dễ sử dụng, giá thành chấp nhận được.
* Glass iononer cemnet Fuji VII:
Hình 1.10: Vật liệu G.C Fuji VII - đóng gói Hộp.
22
Hình 1.11: Vật liệu G.C Fuji VII capsule và máy đánh chất hàn.
- Fuji VII là loại cement gốc thủy tinh, bám dính vào men ngà theo cơ chế
hóa học do đó khả năng bám dính vào răng thấp hơn so với composite và tính bám
dính của nó ít chịu ảnh hưởng của môi trường ẩm do cách ly nước bọt không tốt.
Do đó được lựa chọn thay thế trong trường hợp răng không thể cô lập hoàn toàn
hay mới chỉ mọc lên một phần. Giải phóng Fluor cao nhất trong các loại G.C có mặt
trên thị trường hiện nay. Có màu hồng giúp nha sỹ và cha mẹ dễ theo dõi miếng
trám. Đông cứng nhanh nếu dùng đèn quang trùng hợp (20 giây).
- Đặc tính của Fuji VII:
+ Bám dính hóa học với men và ngà.
+ Bám dính tốt với mô răng, ngay cả trường hợp không kiểm soát tốt
nước bọt nên có thể sử dụng tốt cho trẻ em, răng đang mọc.
+ Tương hợp sinh học tốt với mô răng nên ít gây kích thích tủy.
+ Độ chảy cao nên thích hợp để bít hố rãnh.
23
+ Phóng thích Fluor liều cao gấp 7 lần so với Fuji IX nên giảm sâu răng.
+ Có màu hồng dễ phân biệt giữa miếng hàn và mô răng.
+ Kỹ thuật sử dụng đơn giản.
- Tính chất vật lý:
- Đã có sâu rãnh ở các răng khác.
- Không sâu mặt bên.
- Có thể cô lập nước bọt.
- Răng mọc dưới 4 năm (tuy nhiên sâu hố rãnh cũng có thể có ở các răng đã
mọc nhiều năm).
* Chống chỉ định:
- Hố rãnh nông tự làm sạch được.
- Sâu răng mặt bên cần trám.
- Răng mọc chưa hết và không thể cô lập được.
Các chống chỉ định mang tính tương đối và trong trường hợp nghi ngờ, nên
đặt chất trám bít hố rãnh, không nên bỏ qua.
1.4.6. Hiệu quả dự phòng sâu răng của trám bít hố rãnh.
Năm 1983, viện nghiên cứu sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ đã có sự nhất trí giữa
các thành viên khi nhận xét về hiệu quả của TBHR và kết luận “việc sử dụng
TBHR một cách rộng rãi làm giảm quan trọng với sâu răng hiện hành trong cộng
đồng, vượt xa tất cả những thành tựu được thực hiện bởi chương trình Fluor và các
nguồn ngăn ngừa khác” [18].
Năm 1996, Simonsen đã báo cáo một nghiên cứu lâm sàng sử dụng chất
TBHR composite tự trùng hợp sau 15 năm theo dõi cho kết quả: tỷ lệ miếng trám
còn nguyên là 28%, miếng trám bong 1 phần 35%. Nhóm TBHR tỷ lệ sâu răng
chiếm 31%, nhóm không được TBHR có 83% răng bị sâu hay đã được phục hồi
[44].
Wendt và Koch nghiên cứu trên 758 mặt nhai được TBHR đánh giá lại sau
10 năm chỉ có 6% răng sâu hay đã được phục hồi [45].
25