Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng số 2 - Pdf 23

Luận văn cuối khoá
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh là một tất yếu khách quan.
Trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế đã và đang diễn ra ngày một
sâu và rộng, cạnh tranh lại càng trở nên khốc liệt hơn. Bất kì một doanh nghiệp
nào cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức để có thể tồn tại
và đứng vững trên thị trường. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp phải không
ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng kịp thời nhu cầu luôn biến đổi của
thị trường và quan trọng nhất là tìm ra những biện pháp quản lý, sử dụng tiết
kiệm chi phí sản xuất, nhằm hạ giá thành sản phẩm. Sản phẩm có chất lượng tốt,
giá thành hợp lý sẽ là lợi thế rất lớn, giúp doanh nghiệp có thể chiến thắng trong
cạnh tranh, mở rộng thị phần.
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, đã và đang giữ
vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho xã hội, là nhân tố
quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
triển nền kinh tế đất nước. Sản phẩm của ngành xây dựng chính là nền tảng để
đưa đất nước đi lên trở thành một nước công nghiệp. Xuất phát từ những đặc thù
riêng của ngành cũng như sản phẩm xây dựng, các doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh xây lắp luôn phải chịu tác động không nhỏ của các yếu tố rủi ro về giá cả,
lãi suất, các yếu tố tự nhiên, môi trường kinh tế, chính trị, xã hội. Trong khi đó,
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng ngành đã và đang diễn ra ngày một
mạnh mẽ, đó là sự cạnh tranh về giá, chất lượng công trình, quy mô hoạt động,
cũng như uy tín, thương hiệu. Do đó, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp
không những phải am hiểu thật sâu rộng về lĩnh vực này mà còn phải luôn nắm
bắt thông tin kinh tế - tài chính của doanh nghiệp mình cũng như thông tin kinh
tế chính trị, thông tin thị trường để có thể đưa ra quyết định đúng đắn, nhanh
chóng. Kế toán với vai trò là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống
công cụ quản lý kinh tế - tài chính, có nhiệm vụ thu thập, xử lí và cung cấp các
thông tin kịp thời cho việc ra quyết định phù hợp với từng giai đoạn và tình hình
hoạt động của công ty. Trong đó, thông tin về chi phí sản xuất và giá thành có vai
Sv. Hồ Phương Cúc - 1 - Lớp K44/21_14

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NGÀNH XÂY DỰNG VÀ SẢN PHẨM
XÂY LẮP
1.1.1. Đặc trưng cơ bản của ngành xây dựng
Thứ nhất, sản phẩm và nơi tiêu thụ sản phẩm đều cố định, nơi sản xuất và
địa điểm sản xuất thì lại luôn di động, làm cho sản xuất xây dựng có thể bị gián
đoạn, lại nảy sinh thêm nhiều chi phí khác cho khâu di chuyển lực lượng thi công
và chi phí để xây dựng các công trình tạm phục vụ thi công, hay chi phí thuê lao
động bên ngoài…
Thứ hai, chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài do
sản phẩm là các công trình xây dựng hoàn chỉnh mang tính chất là TSCĐ; quy
mô và mức độ phức tạp về kỹ thuật xây dựng của các công trình, dự án.
Thứ ba, sản xuất xây dựng mang tính đơn chiếc theo đơn đặt hàng, được
thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã kí kết với các đơn vị chủ đầu tư sau khi trúng
thầu hoặc được chỉ định thầu, tính chất hàng hoá của sản phẩm xây dựng không
được thể hiện rõ, việc “mua, bán” sản phẩm được xác định trước khi thi công. Tất
cả đều được thống nhất và thể hiện trên hợp đồng xây dựng như: giá cả, chất
lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, phương thức thanh toán…DN xây lắp hoàn toàn chịu
trách nhiệm về kỹ thuật, chất lượng công trình cũng như thời gian hoàn thành bàn
giao sản phẩm cho chủ đầu tư.
Thứ tư, cơ chế khoán hiện đang được áp dụng ngày càng rộng rãi trong
các doanh nghiệp xây lắp với các hình thức giao khoán khác nhau như: khoán
gọn công trình (khoán toàn bộ chi phí), khoán theo từng khoản mục chi phí, cho
nên phải hình thành bên giao khoán, bên nhận khoán và giá khoán.
Sv. Hồ Phương Cúc - 3 - Lớp K44/21_14
Luận văn cuối khoá
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của sản phẩm xây lắp:
Thứ nhất, sản phẩm xây lắp là những công trình, vật kiến trúc,…có quy

dụng. Theo tiêu thức này, CFSX bao gồm các khoản mục sau:
- Chi phí NVL trực tiếp: là toàn bộ chi phí NVL được sử dụng trực tiếp
cho hoạt động xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, thực hiện dịch vụ, lao vụ
của DN xây lắp.
- Chi phí nhân công trực tiếp: là toàn bộ chi phí lao động trực tiếp tham gia
vào quá trình hoạt động xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, cung cấp dịch
vụ, không phân biệt lao động thuê ngoài hay lao động thuộc DN quản lí như: tiền
lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả,…
- Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ các chi phí sử dụng xe, máy thi
công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây, lắp công trình. Bao gồm: Chi phí nhân
công, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao máy thi công,
chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
- Chi phí sản xuất chung: gồm toàn bộ chi phí liên quan đến việc tổ chức,
quản lí, và phục vụ thi công của các đội xây lắp ở các công trường xây dựng. Bao
gồm:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: phản ánh các khoản tiền lương, các khoản
phụ cấp phải trả cho nhân viên quản lý đội xây dựng, và các khoản trích theo
lương theo quy định phải trả cho nhân viên trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng
máy thi công và nhân viên quản lí đội (thuộc biên chế của DN).
+ Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí vật liệu dùng cho đội xây dựng, như:
vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, công cụ, dụng cụ thuộc đội xây
dựng quản lí và sử dụng…
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ xuất
dùng cho hoạt động quản lý của đội xây dựng.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung
cho hoạt động của đội xây dựng.
Sv. Hồ Phương Cúc - 5 - Lớp K44/21_14
Luận văn cuối khoá
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục
vụ cho hoạt động của đội xây dựng như: Chi phí sửa chữa, chi phí điện, nước,

- Căn cứ vào mối quan hệ giữa CFSX với khối lượng sản phẩm hoàn thành,
gồm ba loại: Chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp.
1.2.2. Giá thành và các loại giá thành
1.2.2.1. Khái niệm giá thành
Trong DN xây dựng, sản phẩm xây lắp bao gồm các CT, HMCT hay khối
lượng xây lắp hoàn thành đạt điểm dừng kỹ thuật theo tiêu chuẩn chất lượng
được xác định trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt. Do vậy:
Giá thành sản phẩm xây lắp là CFSX tính cho từng CT, HMCT hay khối
lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước, sẵn sàng đưa vào sử dụng,
chuẩn bị nghiệm thu bàn giao, và được chấp nhận thanh toán.
Mỗi một CT, HMCT hay khối lượng xây lắp khi đạt đến điểm dừng kỹ
thuật hợp lí, đến giai đoạn hoàn thành theo quy ước đều phải tính giá thành thực
tế. Thông qua chỉ tiêu giá thành của mỗi sản phẩm xây lắp cho ta biết mức độ của
từng khoản mục chi phí đã bỏ ra để hoàn thành sản phẩm đó là bao nhiêu, so với
dự toán chênh lệch là bao nhiêu, tỷ trọng từng loại chi phí, khả năng hạ thấp các
loại chi phí này để có thể hạ giá thành sản phẩm mà không ảnh hưởng đến tiến độ
và chất lượng thi công, sản xuất.
1.2.2.2. Các loại giá thành
Có nhiều cách phân loại giá thành, tuy nhiên trong lĩnh vực sản xuất xây
lắp, cần phân biệt các loại giá thành sau đây:
- Giá thành dự toán: Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành sản phẩm xây
lắp. Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật và
đơn giá chi phí do Nhà nước quy định. Giá thành này nhỏ hơn giá trị dự toán ở
phần thu nhập chịu thuế tính trước và thuế GTGT đầu ra:
Giá thành dự
toán CT, HMCT
=
Giá trị dự toán
của CT, HMCT
-

xuất. Như vậy, chi phí chính là nền tảng của giá thành, là cơ sở để đạt được
những kết quả nhất định trong sản xuất kinh doanh. Do đó, việc phản ánh đầy đủ
và đúng đắn CFSX sẽ quyết định tính chính xác của chỉ tiêu giá thành.
Xét về mặt bản chất, CFSX và giá thành sản phẩm giống nhau, vì chúng
đều cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá
mà doanh nghiệp đã bỏ ra.
Sv. Hồ Phương Cúc - 8 - Lớp K44/21_14
Luận văn cuối khoá
Xét về mặt lượng thì chúng lại khác nhau, khi nói đến CFSX là giới hạn
cho chúng một thời kỳ nhất định, không phân biệt đối tượng chịu chi phí, mức độ
hoàn thành của công việc. Còn khi nói đến giá thành sản phẩm là ta đã xác định
một lượng CFSX nhất định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định.
Ta có thể thấy rõ hơn mối quan hệ giữa CFSX và giá thành sản phẩm thông qua
đẳng thức kinh tế sau:
Giá thành
sản xuất
=
Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ
+
Chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ
-
CFSX dở dang
cuối kỳ
Như vậy, tại thời điểm tính giá thành, thì ngoài CFSX thực tế phát sinh
trong kỳ, giá thành sản xuất của sản phẩm còn có thể bao gồm cả CFSX của khối
lượng sản phẩm xây lắp dở dang đầu kỳ trong trường hợp có sự chuyển tiếp trong
quá trình sản xuất, thi công; nhưng loại trừ bộ phận CFSX nằm trong khối lượng
sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ. Khi không có sản phẩm dở dang ở đầu kỳ và

sản xuất được tập hợp theo đó.
Việc xác định đối tượng kế toán CFSX là khâu đầu tiên có vai trò quyết
định trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất. Bởi đó chính là cơ sở để tổ chức
kế toán CFSX, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi
chép trên tài khoản, sổ chi tiết CFSX…
Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp CFSX là xác định nơi phát
sinh chi phí là: phân xưởng, bộ phận sản xuất hay giai đoạn công nghệ nào…
hoặc đối tượng chịu chi phí là sản phẩm hay đơn đặt hàng nào…
Các căn cứ xác định:
- Đặc điểm, công dụng của chi phí trong sản xuất.
- Cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại
hình sản xuất sản phẩm, khả năng, trình độ của các nhà quản trị doanh nghiệp,
của cán bộ, nhân viên kế toán.
- Yêu cầu quản lí chi phí, yêu cầu tính giá thành của doanh nghiệp.
Do những đặc trưng của ngành và tính chất hoạt động riêng mà đối tượng
kế toán CFSX của các doanh nghiệp xây lắp có thể là:
Sv. Hồ Phương Cúc - 10 - Lớp K44/21_14
Luận văn cuối khoá
- CT, HMCT xây lắp, các giai đoạn quy ước của hạng mục công trình có
giá trị dự toán riêng.
- Nhóm công trình, các đơn vị thi công (như: xí nghiệp, đội thi công).
Các chi phí phát sinh, sau khi đã được tập hợp theo từng đối tượng tập hợp
CFSX sẽ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo đối tượng tính
giá thành đã xác định.
1.3.2. Đối tượng tính giá thành và căn cứ xác định
Đối tượng tính giá thành: là các loại sản phẩm xây lắp, công việc, lao vụ
mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá
thành đơn vị.
Để xác định đối tượng tính giá thành hợp lý cũng cần phải căn cứ vào đặc
điểm tổ chức sản xuất sản phẩm, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, chu kỳ

sản xuất đã xác định. Tuỳ theo từng loại chi phí và điều kiện cụ thể, kế toán có
thể vận dụng phương pháp tập hợp chi phí sản xuất cho thích hợp.
Có hai phương pháp tập hợp CFSX thường được sử dụng, đó là:
1.4.1.1. Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp CFSX phát sinh có liên quan
trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất riêng biệt. Theo
phương pháp này, CFSX phát sinh được tính trực tiếp cho từng đối tượng chịu
chi phí nên đảm bảo mức độ chính xác cao. Muốn vậy, ngay từ khâu hạch toán
ban đầu, CFSX phát sinh được phản ánh riêng cho từng đối tượng tập hợp CFSX
trên chứng từ ban đầu để căn cứ vào chứng từ thực hiện hạch toán trực tiếp CFSX
cho từng đối tượng riêng biệt.
1.4.1.2. Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp CFSX phát sinh liên quan đến
nhiều đối tượng tập hợp CFSX, không tổ chức ghi chép ban đầu CFSX phát sinh
riêng cho từng đối tượng được. Trong trường hợp này, phải tập hợp CFSX phát
sinh chung cho nhiều đối tượng theo từng nơi phát sinh chi phí. Sau đó lựa chọn
Sv. Hồ Phương Cúc - 12 - Lớp K44/21_14
Luận văn cuối khoá
tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng
chịu chi phí. Việc phân bổ được tiến hành theo trình tự:
- Xác định hệ số phân bổ:
Hệ số phân bổ = Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ
- Xác định mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng:
C
i
= T
i
x H
Trong đó: C

toán áp dụng phương pháp phân bổ để tính chi phí vật liệu trực tiếp cho từng đối
tượng hạng mục công trình theo tiêu thức hợp lý như: Theo định mức tiêu hao
hoặc chi phí vật liệu trực tiếp theo dự toán…
- Kế toán phải sử dụng triệt để hệ thống định mức tiêu hao vật liệu áp dụng
trong xây dựng cơ bản và phải tác động tích cực để không ngừng hoàn thiện hệ
thống định mức đó.
* Chứng từ sử dụng: Phiếu xuất kho, Hợp đồng kinh tế, Biên bản giao nhận
hàng hoá, Hoá đơn GTGT, Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ, Phiếu nhập kho,
Bảng phân bổ vật liệu…
* Tài khoản sử dụng: Để phản ánh chi phí NVL trực tiếp, kế toán sử dụng
TK 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, được mở chi tiết cho từng CT,
HMCT, từng khối lượng xây lắp, các giai đoạn quy ước đạt điểm dừng kỹ thuật
có dự toán riêng. Ngoài ra, kế toán còn sử dụng các tài khoản khác có liên quan
như: TK 111, 152, 154, 331…
* Trình tự kế toán: Các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu phát sinh được phản ánh
trên sơ đồ sau:
Sv. Hồ Phương Cúc - 14 - Lớp K44/21_14
TK 152
TK 111, 112, 331…
TK 621
TK 154
Giá trị NVL xuất
dùng cho thi công
TK 133
Thuế GTGT
(nếu có)
Giá trị NVL mua dùng trực
tiếp cho thi công
Kết chuyển CF NVLTT
cuối kỳ để tính giá thành

Sơ đồ 1.2: Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
TK 334
TK 335
TK 622 TK 154
Tiền lương phải trả cho công
nhân trực tiếp thi công
Trích trước tiền
lương nghỉ phép cho
công nhân xây lắp
Cuối kỳ, kết chuyển chi
phí nhân công trực tiếp
TK 632
Kết chuyển CF NCTT vượt
trên mức bình thường
Tiền lương nghỉ
phép phải trả
cho công nhân
Luận văn cuối khoá
1.4.2.3. Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công
* Nội dung: Máy thi công là các loại xe máy chạy bằng động lực (điện,
xăng dầu, khí nén…) được sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình
như: Máy trộn bê tông, cần cẩu, máy đào xúc đất, máy ủi, máy đóng cọc, ôtô vận
chuyển đất đá ở công trường… Các loại phương tiện thi công này doanh nghiệp
có thể tự trang bị hoặc thuê ngoài.
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công
và các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công và được chia thành hai
loại: chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời.
* Nguyên tắc hạch toán:
- Phải hạch toán phù hợp với hình thức quản lý sử dụng máy thi công của
DN xây lắp. Thông thường có 2 hình thức quản lý, sử dụng máy thi công là: Tổ

Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu:
Sv. Hồ Phương Cúc - 17 - Lớp K44/21_14
TK 623
TK 214
TK 152, 153, 111, 331
TK 334
111, 112, 331
TK 632
TK 154
TK 133
Tiền lương phải trả cho công
nhân sử dụng máy
Khấu hao xe, máy thi công sử
dụng ở đội máy thi công
Cuối kỳ, kết chuyển chi
phí sử dụng máy thi công
Xuất kho hoặc mua NVL, CCDC
sử dụng cho máy thi công
Chi phí dịch vụ mua ngoài hoặc
chi phí khác bằng tiền
Phần chi phí sử dụng
máy vượt trên mức
bình thường
Sơ đồ 1.3: Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công
Luận văn cuối khoá
1.4.2.4. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung
* Nội dung: Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp là những chi phí
có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ và quản lý thi công của các đội xây lắp ở
các công trường xây dựng.
Chi phí sản xuất chung là chi phí tổng hợp bao gồm nhiều khoản chi phí

+ TK 6274 – Chi phí khấu hao TSCĐ
+ TK 6277 – Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ TK 6278 – Chi phí bằng tiền khác
* Trình tự kế toán: Các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu phát sinh được phản ánh
qua sơ đồ sau:
Sv. Hồ Phương Cúc - 19 - Lớp K44/21_14
TK 627TK 334, 338
TK 214
TK 154
TK 111, 112, 331
TK 133
Chi phí tiền lương và các
khoản trích theo lương
Chi phí công cụ dụng cụ
(loại phân bổ 100%)
TK 153
TK 142, 242
TK 152
Chi phí vật liệu
Chi phí khấu hao TSCĐ
(loại phân bổ
nhiều lần)
Chi phí dịch vụ mua ngoài và
chi phí khác bằng tiền
Phân bổ
Cuối kỳ, phân bổ hoặc kết
chuyển chi phí sản xuất chung
Sơ đồ 1.4: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung
TK 632
Phần chi phí sản xuất chung

1.5. TỔ CHỨC CÔNG TÁC TÍNH GIÁ THÀNH TRONG DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP
1.5.1. Kỳ tính giá thành
Trong lĩnh vực hoạt động xây lắp, sản phẩm cuối cùng là các CT, HMCT
hoàn thành đạt giá trị sử dụng. Giá thành của các CT, HMCT đã hoàn thành được
xác định trên cơ sở tổng cộng các CFSX phát sinh từ khi khởi công đến khi hoàn
thành ở các thẻ tính giá thành sản phẩm.
Trường hợp đối tượng tập hợp CFSX là CT, HMCT nhưng phương thức
thanh toán giữa bên giao thầu và bên nhận thầu là theo khối lượng hay giai đoạn
xây, lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý hoàn thành thì ngoài việc tính giá
thành sản phẩm cuối cùng, kế toán còn phải tính giá thành của các giai đoạn xây
lắp đã hoàn thành và được chấp nhận thanh toán trong kỳ.
Như vậy, kỳ tính giá thành trong các DN xây lắp có thể là khoảng thời gian
CT, HMCT hoàn thành, hoặc khi có khối lượng xây lắp đạt đến điểm dừng kỹ
thuật hợp lý hoàn thành được nhà thầu xác định một cách đáng tin cậy, và được
chấp nhận thanh toán trong kỳ.
1.5.2. Đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm xây lắp dở dang là những CT, HMCT hay khối lượng xây lắp
còn đang trong quá trình thi công, sản xuất, chưa đạt đến điểm dừng kỹ thuật hay
chưa đạt giá trị sử dụng tại thời điểm tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành
bàn giao. Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán xác định phần CFSX mà sản
phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu.
Việc đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ tuỳ thuộc vào phương
thức thanh toán giữa bên giao thầu với bên nhận thầu và tuỳ thuộc vào đối tượng
tính giá thành mà DN xây lắp đã xác định, kế toán có thể xác định giá trị sản
phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ như sau:
- Nếu quy định thanh toán khi CT, HMCT hoàn thành toàn bộ và DN xây
lắp xác định đối tượng tính giá thành là CT, HMCT hoàn thành, thì CFSX tính
Sv. Hồ Phương Cúc - 21 - Lớp K44/21_14
Luận văn cuối khoá

pháp hệ số hoặc tỷ lệ và phương pháp tính giá thành theo định mức. Sau đây sẽ đi
Sv. Hồ Phương Cúc - 22 - Lớp K44/21_14
Luận văn cuối khoá
vào nghiên cứu cụ thể 3 phương pháp tính giá thành được áp dụng phổ biến nhất
trong các doanh nghiệp xây lắp.
* Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Đây là một trong những phương pháp tính giá thành phổ biến nhất, bởi đặc
trưng của sản xuất xây dựng là mang tính đơn chiếc, theo đơn đặt hàng.
Đối tượng tập hợp chi phí phù hợp với đối tượng tính giá thành và đều là
từng đơn đặt hàng.
Theo phương pháp này, mỗi đơn đặt hàng được mở riêng một phiếu tính
giá thành theo công việc để phản ánh CFSX của từng đơn đặt hàng từ khi bắt đầu
cho đến khi hoàn thành đơn đặt hàng. Cuối mỗi kỳ căn cứ vào các CFSX đã tập
hợp được theo từng tổ, đội thi công, từng đơn đặt hàng trong sổ kế toán chi phí
sản xuất để chuyển sang các bảng tính giá thành… Khi nhận được các chứng từ
xác nhận đơn đặt hàng hoàn thành, kế toán tính toán, tổng hợp chi phí và tính giá
thành theo đơn đặt hàng. CFSX gắn với những đơn đặt hàng chưa hoàn thành đều
là CFSX dở dang.
* Phương pháp trực tiếp:
Phương pháp này được áp dụng khi đối tượng tính giá thành phù hợp với
đối tượng kế toán tập hợp CFSX, và kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo
(tháng, quý, năm). Đối tượng tính giá thành là CT, HMCT hay khối lượng xây
lắp hoàn thành bàn giao.
Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm hay các giai đoạn xây lắp đã
hoàn thành trong kỳ được tính toán trên cơ sở CFSX xây lắp đã tập hợp được
trong kỳ sau khi điều chỉnh chênh lệch CFSX tính cho các sản phẩm hay các giai
đoạn xây lắp dở dang đầu kỳ, cuối kỳ.
Công thức xác định:
Giá thành
sản xuất

- Khi có thay đổi định mức kinh tế kỹ thuật cần kịp thời tính toán lại giá
thành định mức và xác định số chênh lệch CFSX xây lắp do có thay đổi định mức
của số sản phẩm đang sản xuất dở dang cuối kỳ trước (nếu có).
Trên cơ sở giá thành định mức, số chi phí sản xuất xây lắp chệnh lệch thoát
li định mức đã được tập hợp riêng và số chênh lệch do thay đổi định mức để tính
giá thành thực tế sản phẩm xây lắp hoàn thành trong kỳ theo công thức:
Giá thành thực
tế sản phẩm
=
Giá thành
định mức
±
Chênh lệch do thay
đổi định mức
±
Chênh lệch do thoát
li với định mức
1.6. TỔ CHỨC SỔ KẾ TOÁN TRONG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ GIÁ THÀNH
Căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu
quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, cũng như điều kiện trang bị kỹ
thuật tính toán, để DN lựa chọn cho mình một hình thức kế toán phù hợp tuân thủ
theo đúng quy định của hình thức sổ kế toán đó, gồm: Các loại sổ và kết cấu các
loại sổ, quan hệ đối chiếu kiểm tra, trình tự, phương pháp ghi chép các loại sổ kế
toán.
Hình thức sổ kế toán trong các DN xây lắp cũng bao gồm 4 hình thức như
doanh nghiệp thông thường: Nhật ký chung, Nhật ký - Sổ cái, Nhật ký chứng từ,
Sv. Hồ Phương Cúc - 24 - Lớp K44/21_14
Luận văn cuối khoá
Chứng từ ghi sổ. Hiện nay, phần lớn các DN xây lắp thường sử dụng phổ biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status