Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
============== ðẶNG THỊ LAN ANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ðẶC ðIỂM SINH HỌC,
SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ RẦY
NÂU HẠI LÚA (NILAPARVATA LUGENS STAL)
CÓ
HIỆU QUẢ TẠI THỦ THỪA LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số :
LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành tốt luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn và
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn của tôi TS. Phạm Thị Vượng,
Phó Viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật, ðông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Người
ñã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi ngay từ những ngày ñầu tôi thực hiện luận
văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành ñến Ban giám ñốc cũng
như Phòng Côn trùng, Viện Bảo vệ thực vật ñã tạo ñiều kiện giúp ñỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn tới toàn thể bà con nông dân cùng ban lãnh ñạo
huyện Thủ Thừa tỉnh Long An nơi tôi thực hiện ñề tài ñã tận tình giúp ñỡ và
tạo ñiều kiện cho tôi làm thí nghiệm.
Xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Như Cường và TS. Phạm Hồng
Hiển cùng nhóm nghiên cứu Sâu hại lúa, phòng Côn trùng, Viện Bảo vệ thực
vật ñã tận tình giúp ñỡ và cung cấp nhiều thông tin quan trọng giúp tôi hoàn
thành luân văn này.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban ðào tạo sau ñại học, Viện KHNN
Việt Nam cùng toàn thể các thầy cô giáo và bạn bè ñã giúp ñỡ, ủng hộ tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gủi lời cảm ơn sâu sắc tới gia ñình và người thân, ñã
ñộng viên giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập. Thiếu sự quan tâm ñộng
viên và giúp ñỡ của mọi người tôi khó có thể hoàn thành tốt luận văn này.
Hà nội, ngày tháng năm 2009
Tác giả luận văn
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
3
4.2. Phạm vi nghiên cứu 13
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
14
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu 14
1.2. Một số kết quả nghiên cứu về rầy nâu Nilaparvata lugens
Stål ở nước ngoài 16
1.2.1. Vị trí phân loại, triệu chứng gây hại, ký chủ và phân bố của
rầy nâu Nilaparvata lugens Stål 16
1.2.2. ðặc ñiểm sinh học sinh thái của rầy nâu Nilaparvata
lugens Stål 17
1.3. Một số kết quả nghiên cứu về rầy nâu Nilaparvata lugens
Stål ở trong nước 29
1.3.1. Phân bố của rầy nâu Nilaparvata lugens Stål 29
1.3.2. Nghiên cứu về sinh học rầy nâu Nilaparvata lugens Stål 29
1.3.3. Nghiên cứu về sinh thái rầy nâu Nilaparvata lugens Stål 31
1.3.3. Phòng trừ rầy nâu Nilaparvata lugens Stål 33
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
38
2.1. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 38
2.1.1. Dụng cụ nghiên cứu 39
2.2. Nội dung nghiên cứu 39
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
52.3. Phương pháp nghiên cứu 40
2.3.2. Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh thái của rầy nâu hại lúa 42
2.3.3. Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ rầy nâu hiệu quả 45
Cách tính toán 49
2.4. ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 50
2. Tài liệu tiếng nước ngoài 91
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
6DANH MỤC BẢNG
Bảng
Tên bảng Trang2.1. Một số loại thuốc hóa học và sinh học sử dụng trong thí nghiệm phòng
trừ rầy nâu tại vùng nghiên cứu (Thủ Thừa, Long An năm 2009) 38
3.1. Thời gian phát dục pha sâu non của rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål)
trong ñiều kiện nhà lưới ( Thủ Thừa, Long An năm 2009) 52
3.2. Thời gian các pha phát dục của rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål)
trong ñiều kiện nhà lưới (Thủ Thừa, Long An năm 2009) 53
3.3. Khả năng ñẻ và tỷ lệ nở của trứng rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål)
trong ñiều kiện nhà lưới (Thủ Thừa, Long An năm 2009) 53
3.4. Thời ñiểm xâm nhập của rầy nâu vào ruộng lúa sau sạ 65
3.5. Diễn biến mật ñộ rầy trên giống Nếp 3 lá xanh ở các thời ñiểm sạ khác
nhau vụ Hè Thu (Thủ Thừa, Long An năm 2009) 67
3.6. Diễn biến mật ñộ rầy trên lúa giống VND 95-20 ở các thời ñiểm sạ
khác nhau vụ Hè Thu (Thủ Thừa, Long An năm 2009) 69
3.7. Diễn biến mật ñộ rầy nâu trên một số giống lúa khác nhau vụ Hè Thu
(Thủ Thừa, Long An năm 2009) 72
3.8. Hiệu lực phòng trừ rầy của một số loại thuốc dùng xử lý hạt giống vụ
ðông Xuân 2008-2009 (Thủ Thừa, Long An) 74
3.9. Hiệu lực phòng trừ rầy của một số loại thuốc dùng xử lý hạt giống vụ
2.2. Bẫy ñèn ñặt tại Ấp 4 xã Mỹ Phú huyện Thủ Thừa, Long An ñể theo
dõi diễn biến rầy vào ñèn từ 11.2008 ñến 11.2009 43
2.3. Bẫy vàng dùng ñể thu rầy nâu và thiên ñịch trên ñồng ruộng tại vùng
nghiên cứu Thủ Thừa, Long An năm 2009. 44
3.1. Rầy nâu trưởng thành, rầy non và trứng rầy nâu ñược chụp tại phòng
thí nghiệm Viện Bảo vệ thực vật năm 2009 55
3.2. Diễn biến số lượng rầy vào ñèn trong tháng 11 năm 2008 tại Thủ
Thừa Long An 58
3.3. Diễn biến số lượng rầy vào ñèn trong tháng 12 năm 2008 tại Thủ
Thừa Long An 58
3.4. Diễn biến số lượng rầy vào ñèn trong tháng 1 năm 2009 tại Thủ
Thừa Long An 59
3.5. Diễn biến số lượng rầy vào ñèn trong tháng 2 năm 2009 tại Thủ
Thừa Long An 59
3.6. Diễn biến số lượng rầy vào ñèn trong tháng 3 năm 2009 tại Thủ
Thừa Long An 60
3.7. Diễn biến số lượng rầy vào ñèn trong tháng 5 năm 2009 tại Thủ
Thừa Long An 62
3.8. Diễn biến số lượng rầy vào ñèn trong tháng 6 năm 2009 tại Thủ
Thừa Long An 62
10MỞ ðẦU
1. Tính cấp thiết của ñề tài
Kể từ khi thực hiện công cuộc ñổi mới ñến nay, nông nghiệp Việt Nam
ñã ñạt ñược nhiều thành tựu to lớn, nổi bật là sản xuất lương thực. Trong hơn
20 năm qua, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam ñã tăng gấp khoảng 2
lần, hiện nay năng suất bình quân ñạt 5,3 tấn/ha một vụ, sản lượng cả năm ñạt
gần 39 triệu tấn. Sản xuất lúa gạo phát triển ñã ñưa Việt Nam từ một nước
nhiều năm triền miên thiếu lương thực trở thành một nước không những có ñủ
lương thực cho nhân dân, mà còn xuất khẩu với số lượng trên 70 triệu tấn gạo
mang về cho ñất nước gần 20 tỷ USD, trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2
thế giới. Cây lúa ñã trở thành cây lương thực chủ lực, liên quan ñến việc làm
và thu nhập của khoảng 80% số hộ nông dân Việt Nam. Bên cạnh những
thành công thì còn không ít những bất cập yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh
doanh chưa cao, phải ñối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhất là thiên tai,
biến ñổi khí hậu ñặc biệt là dịch bệnh xảy ra thường xuyên ñã ảnh hưởng
nghiêm trọng ñến sản xuất lúa gạo. Một trong những loài dịch hại nghiêm
trọng nhất trên lúa trong những thập niên vừa qua là rầy nâu.
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål.) chỉ trở thành dịch hại quan trọng
của lúa khi bắt ñầu cuộc cách mạng xanh và tại những nơi ñã sử dụng rộng rãi
những thuốc trừ sâu có phổ tác ñộng rộng. Từ một loài dịch hại không thường
xuyên, rầy nâu trở thành dịch hại nguy hiểm và tàn phá thường xuyên hơn
trên lúa. Rầy nâu phá hại lúa làm giảm một phần năng suất, hoặc khi có mật
ñộ cao gây “cháy rầy” làm mất trắng (Bae và Pathak, 1970; Duck và Thomas,
1979; Mochida và Okada, 1979; Renganayaki và ctv., 2002) [29] [40] [75]
[79]. Ngoài tác hại trực tiếp, rầy nâu còn là môi giới truyền nhiều bệnh vi rút
vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
12Tình hình trên ñây ñã ñặt ra một yêu cầu cấp bách cho công tác nghiên
cứu bảo vệ thực vật: cần nhanh chóng nắm ñược ñặc ñiểm sinh học, sinh thái
của rầy nâu, tình hình phát sinh và diễn biến của chúng trên ñồng ruộng trong
giai ñoạn hiện nay, xác ñịnh ñược những biện pháp phòng trừ có hiệu quả.
Chính vì thế, chúng tôi ñã thực hiện ñề tài “Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh
học, sinh thái và biện pháp phòng trừ rầy nâu hại lúa (Nilaparvata lugens
Stål.) có hiệu quả tại Thủ Thừa - Long An”. Nhằm góp phần tìm ra các giải
pháp phòng trừ chúng có hiệu quả, tăng năng xuất lúa và hạn chế thiệt hại do
rầy nâu gây ra, ñáp ứng ñược ñòi hỏi cấp bách của sản xuất.
2. Mục ñích và yêu cầu của ñề tài
2.1. Mục ñích
- Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của rầy nâu hại lúa
làm cơ sở nghiên cứu và ñề xuất biện pháp phòng trừ tại vùng nghiên cứu.
- Nghiên cứu và ñề xuất một số biện pháp phòng trừ rầy nâu có hiệu
quả theo hướng phòng trừ tổng hợp phục vụ sản xuất.
2.2. Yêu cầu
- Có ñược thời gian các pha phát dục của rầy nâu, khả năng ñẻ trứng và
số lượng trứng nở ở một số ñiều kiện nhiệt ñộ và ẩm ñộ khác nhau.
-ðánh giá ñược diễn biến số lượng rầy vào ñèn, quy luật rầy vào ñèn ở
các tháng khác nhau trong vụ ðông Xuân và vụ Hè Thu tại vùng nghiên cứu.
-ðánh giá diễn biến mật ñộ rầy trên một số giống lúa và các thời ñiểm
gieo sạ khác nhau. Từ ñó ñề xuất thời ñiểm gieo sạ thích hợp và hạn chế ñược
sự gây hại của rầy cho vùng nghiên cứu.
-Xác ñịnh ñược một số thuốc hoá học và sinh học có hiệu quả trong
phòng trừ rầy nâu hại lúa và thân thiện với môi trường.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål) ñã ñược ghi nhận tại hầu hết các
nước có trồng lúa như Ấn ðộ, Sri Lanka, Cam Phu Chia, Thái Lan, Trung
Quốc, ðài Loan, Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippin, các
quốc ñảo vùng Thái Bình Dương và Việt Nam. Trước năm 1960 rầy nâu chỉ
là ñối tượng dịch hại thứ yếu, trong thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 khi cuộc
“cách mạng xanh” diễn ra thì rầy nâu ñã trở thành ñối tượng sâu hại quan
trọng bậc nhất ở hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới.
Ở Việt Nam, rầy nâu ñã ñược ghi nhận như một loài sâu hại lúa quan
trọng từ những năm 1931-1932 (Chiu, 1979) [37]. Nhưng cũng chỉ trong
khoảng 30 năm trở lại ñây chúng mới trở thành ñối tượng dịch hại chủ yếu và
thường xuyên ở nhiều vùng. Theo tài liệu ñã ghi nhận ñược ở phía Nam thì
năm 1969, rầy nâu ñã phá hại mạnh ở Phan Rang và một số tỉnh Trung bộ.
Những năm sau ñó (1971-1974) rầy nâu ñã phát triển ở nhiều vùng thuộc
duyên hải Trung bộ và ñồng bằng Nam bộ. Diện tích bị rầy nâu gây hại năm
1974 lên tới 97.860 ha. Trong những năm 1976-1978, các ñợt dịch rầy nâu ñã
liên tiếp xẩy ra ở các tỉnh Nam bộ và ven biển miền Trung. Trong hai năm
1977-1978 rầy nâu ñã phá hại trên diện tích khoảng một triệu ha ở các tỉnh
phía Nam, làm giảm năng suất 30-50%, nhiều nơi bị mất trắng, thiệt hại lên
tới khoảng một triệu tấn thóc. Tiếp theo sau sự phá hại của rầy nâu, bệnh lúa
lùn xoắn lá do rầy nâu truyền ñã xuất hiện ở nhiều vùng, từ ñồng bằng Nam
bộ ñến ven biển Trung bộ. Diện tích bị hại chỉ tính riêng ở ñồng bằng sông
Cửu Long ñã lên tới 40.000 ha.
Từ năm 2006 ñến nay (2009) rầy nâu ñã trở thành dịch hại quan trọng
nhất ở các vùng trồng lúa trong cả nước, nhất là các tỉnh ñồng bằng sông Cửu
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
15Long, bởi chúng xuất hiện ở mật ñộ cao có mức gây hại lớn và là véc tơ của 2
loại bệnh vi rút hại lúa nguy hiểm và bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá. Chỉ tính
nâu Nilaparvata lugens Stål
Rầy nâu ñược coi là một trong những ñối tượng nguy hiểm gây hại trên
lúa có tên khoa học là Nilaparvata lugens Stål, thuộc giống Nilaparvata, họ
rầy Delphacidae, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrhyncha, bộ cánh
ñều Homoptera.
Nilaparvata lugens ñược ñặt tên ñầu tiên vào năm 1854 là Delphax
lugens Stål. Sau ñó ñược ñổi tên thành Nilaparvata lugens bởi Muir và
Giffard vào năm 1924. Tại Sri Lanka, Nilaparvata lugens ñược biết ñầu tiên
với tên Nilaparvata greeni Distant (Fernando và ctv., 1979) [44]. Tại ðài
Loan, rầy nâu ñược biết ñến với cái tên ñầu tiên là Liburnia oryzae (Fukuda,
1934) [49], sau ñó là Nilaparvata oryzae Matsumra (Anonymous, 1944;
Wang, 1957) [27] [102] và trở thành Nilaparvata lugens Stål vào các năm sau
ñó (Lin, 1970; Tao 1966; Chiu, 1979) [67] [100] [37].
Phân bố của rầy nâu rộng khắp các nước trồng lúa ở Châu Á, Australia
và một số ñảo ở Thái Bình Dương. Trên thế giới phạm vi phân bố của rầy nâu
rất rộng. Theo Mochida (1970) [71], rầy nâu phân bố ở hầu hết các nước
trồng lúa nước ở Châu Á như Ấn ðộ, Thái Lan, Campuchia, Lào, Bangladesh,
Indonesia, Srilanca, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, ðài Loan, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Việt Nam… Lúa nước là ký chủ chính của rầy nâu do ñó thời gian
không trồng lúa hoặc ñể ruộng nghỉ không có lúa chét có thể làm giảm số
lượng rầy cho vụ tiếp theo. Cây dại thuộc họ hoà thảo và lúa chét là ký chủ
phụ thích hợp cho rầy sinh sống và ñẻ trứng. Thí nghiệm của Viện Nghiên
Cứu Lúa Quốc Tế (IRRI, 1979) [56] cho biết: cỏ dại ở ruộng lúa có thể góp
phần làm tăng số lượng rầy khi lúa gần chín, là do ñã tạo ñược môi trường có
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
17thảm cây rậm rạp. Tuy nhiên, có một số tác giả khác cho rằng, các ký chủ
khác ngoài cây lúa chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của rầy nâu (Hinekly, 1963)
cao nhất của rầy nâu vào nửa cuối năm, trong lứa thứ hai (Choi, 1975; Karim,
1977) [38][59]. Tuy nhiên một số trường hợp thấy ñỉnh cao nhất lại nằm vào
nửa ñầu năm hoặc trong vụ lúa thứ nhất (Alam, 1971) [25].
Sự phát triển của trứng rầy nâu: Sự thay ñổi ñiều kiện thời tiết không
những ảnh hưởng tới sự phát triển của sâu non và trưởng thành nó còn có
quan hệ mật thiết tới sự phát triển của trứng. Trứng sẽ không phát triển trong
ñiều kiện nhiệt ñộ dưới 10
o
C (Hirano, 1942; Kisimoto, 1977) [52] [63],
10,5
o
C (Kuwahara và ctv, 1956) [66] và 10,8
o
C (Suenga, 1963) [99].
Sự phát dục của trứng ngừng khi nhiệt ñộ xuống thấp khoảng 10-
10,8ºC. Quá trình hình thành trứng ngừng lại khi nhiệt ñộ xuống thấp dưới
17ºC hoặc 18ºC (Mochida và Okada, 1979) [75]. Nhiệt ñộ thấp hơn 20
o
C hoặc
cao hơn 30
o
C ñều làm cho tỷ lệ nở của trứng giảm (Visarto, 2005) [101].
Theo Otake (1978) [92], thời gian trứng của rầy nâu khoảng từ 7-13
ngày ở ñiều kiện 25
o
C và từ 7-13,7 ngày ở ñiều kiện nhiệt ñộ 30
o
C. Thời gian
dài nhất của trứng là 26,7 ngày ở ñiều kiện 15
o
C thì thời gian phát dục
của rầy non là 13,1 ngày (Suenage, 1963) [99], 14,0 ngày (Lin, 1970) [67] và
12,7 ngày (Bae và ctv, 1987) [03]. Theo Phạm Hồng Hiển (2009) [86] nhiệt
ñộ cao từ 25-30
o
C, trứng và sâu non của rầy nâu hoàn thành sớm hơn ở nhiệt
ñộ thấp 10
o
C, và các tác giả cũng cho thấy rằng tỷ lệ sống sót của rầy non
giảm khi ở nhiệt ñộ lên quá cao trên 30
o
C. Giới hạn dưới cho sự phát triển
của rầy non tuổi 1 ñến tuổi 3 là 12.2
o
C và cho tuổi 4, tuổi 5 là 11,3
o
C.
Sự phát triển và một số ñặc ñiểm của trưởng thành rầy nâu: Rầy nâu có
2 dạng cánh: một dạng cánh dài và một dạng cánh ngắn. Khi rầy nâu ñược
nuôi ở các kiện khác nhau như nhiệt ñộ, ánh sáng, mật ñộ, thức ăn ảnh hưởng
lớn ñến sự hình thành dạng cánh. Những con trưởng thành cái cánh dài thu
vào năm 1992 từ Nhật Bản và những khu vực cận nhiệt ñới như ở phía Bắc
Việt Nam thời gian sống kéo dài hơn khi chúng ñược thu ở khu vực nhiệt ñới
như Indonesia. Quần thể rầy nâu thu vào năm 1993, 1994 ở Nhật Bản, miền
Trung và miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam có thời gian trước ñẻ
trứng cũng dài hơn ở Malaysia (Visator, 2005) [101].
Trưởng thành thường vũ hoá vào buổi sáng, những hoạt ñộng của
chúng bắt ñầu sau khi cánh hình thành (Kisimoto, 1969) [61]. Những con cái
cánh ngắn bắt ñầu giao phối với con ñực sau khi vũ hoá từ 2-4 ngày, và 3-7
ngày ñối với những con cái cánh dài ở ñiều kiện nhiệt ñộ 25
nhất tới sự phát dục, biến ñộng quần thể và phát dịch của rầy nâu. Nhiệt ñộ
trong phạm vi 25-30ºC là thích hợp nhất ñối với sự phát dục của trứng và rầy
non, nếu nhiệt ñộ cao hơn 33-35ºC thì không thích hợp với rầy (Bae and
Pathak, 1970) [29]. Theo Ho and Liu (1969) [54] cho rằng nhiệt ñộ thấp trong
khoảng từ 15-18ºC là không thích hợp cho sự phát triển của rầy. Các tác giả
như Fukuda (1934), Alam (1971) [25] cho hay nhiệt ñộ cao góp phần tăng số
lượng rầy.
Ẩm ñộ và lượng mưa: Về vai trò của ẩm ñộ với phát sinh, phát triển của
rầy nâu, nhìn chung các tác giả ñều cho rằng môi trường ẩm có liên quan chặt
với rầy nâu, ñiều kiện này góp phần làm tăng số lượng quần thể của chúng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
21Theo Kulshresthan (1974) [64] ñộ ẩm trong phạm vi từ 70-80% là thích hợp
cho sự phát dục của rầy nâu. Một số tác giả lại nhận thấy các trận dịch rầy xảy
ra chủ yếu trong mùa mưa (Grist và Lever, 1969) [43]. Tác giả Fukuda (1934)
[46] và Pathak (1968) [83] có nhận xét các trận dịch rầy nâu xảy ra trong ñiều
kiện khô hạn. Nhiều tác giả cho rằng tưới nước và giữ nước trong ruộng ñã
dẫn ñến làm tăng mật ñộ rầy nâu và từ ñó làm tăng thiệt hại cho lúa
(Hinckley, 1963; Mochida và Suryana, 1975) [53] [72].
Cây chủ: Lúa là cây chủ thích hợp nhất với rầy nâu (Nasu, 1964;
Kisimoto, 1977; Okada, 1976) [76] [63] [90]. Trên các ký chủ phụ như cỏ, rầy
nâu có thể sống nhưng phát triển không thuận lợi (Mochida và ctv., 1977)
[74].
Giống lúa: Quan niệm chung ñều cho rằng việc gieo cấy các giống lúa
mới ñã làm tác hại của rầy nâu tăng lên (Smith, 1972; Nickel,1973) [95] [78].
Tác giả nhận xét các trận dịch rầy nâu gần ñây liên quan ñến nhập nội những
giống lúa có năng suất cao (Oka, 1976) [89]. Mochida và ctv, (1977) [74] cho
biết ở Indonesia sự phá hại của rầy nâu có tương quan chặt chẽ với diện tích
Pathak (1968) [83] cho rằng quần thể rầy nâu biến ñổi phụ thuộc vào thiên
ñịch cũng như phụ thuộc vào các nhân tố khác của môi trường. Tuy nhiên,
Otake (1978) [92] lại cho rằng thiên ñịch không có vai trò ñáng kể trong
phòng trừ rầy nâu, ñặc biệt trong các ñợt dịch. Còn Kenmore và ctv (1984)
[60], Preap và ctv (2001) [87] cho rằng nhóm bắt mồi ñóng góp vai trò rất
quan trọng trong việc duy trì quần thể rầy nâu ở mức thấp. Các loài nhện săn
mồi như loài Lycosidae và Tetragnathidae, Linyphiidae là nhóm săn mồi quan
trọng của rầy nâu hại lúa (Preap và ctv, 2001) [87]. Về nhóm ký sinh trên rầy
hại lúa phân ra thành nhóm ký sinh trứng và rầy non, trưởng thành thuộc bộ
Hymenoptera, Strepsiptera và Diptera (Henrichs và Mochida, 1984) [51] tỷ lệ
ký sinh của các loài thuộc 3 bộ trên trứng rầy từ 0-50% và 1-65% ấu trùng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
23Bệnh ký sinh trên rầy ñược nhiều tác giả nghiên cứu, có nhóm Zycomycetes
và Hyphomecetes là hai nhóm quan trọng tấn công rầy, các loài nấm thuộc
Hyphomecetes gồm có Beauveria bassiana, Hisutella sp. và Metarhizium,
ngoài ra trong 150 loài nấm thuộc nhóm Zycomycetes có 6 loài là:
Conidiobolus coronatus, Entomophaga sp. và apiculta, Entomophthora
plachoniana, Erynia delphacis, Erinia radicans và Neozygites fumora gây
bệnh trên rầy có vai trò ñiều khiển quần thể rầy hại cây trồng.
1.2.2.3 Kết quả nghiên cứu các biện pháp phòng trừ rầy nâu Nilaparvata
lugens Stål
Theo tổng kết của IRRI (1979) [56] hai biện pháp phòng trừ rầy nâu áp
dụng trong thực tế sản xuất ñã ñược ñánh giá cao hơn cả là (1) gieo cấy các
giống lúa kháng rầy nâu và (2) sử dụng một số thuốc hóa học chon lọc và
ñúng phương pháp. Tuy nhiên, nhiều tác giả nhận xét rằng nếu chỉ dùng ñơn
ñộc hai biện pháp trên cũng không ñầy ñủ (Oka, 1978) [88]. Gieo cấy rộng rãi
các giống kháng rầy sau một thời gian sẽ xuất hiện những biotype rầy mới có
nhóm thuốc lân hữu cơ và Carbamate (Heindrichs, 1979) [49]. Mặt khác hiện
tượng tái phát của rầy nâu ñã ñược ñề cập trong các báo cáo hàng năm của
IRRI (IRRI, 1977) [31]. Cùng một hoạt chất nhưng các dạng thuốc khác nhau
cũng gây sự tái phát khác nhau, thuốc Carbofuran khi phun lên cây gây ra
hiện tượng tái phát mạnh hơn dạng hạt bón vào ñất (Heinrichs, 1979) [49].
Tốc ñộ phát triển của quần thể rầy nâu gắn liền với sự sử dụng thuốc
hoá học cũng như cách sử dụng thuốc hoá học (Riley, 1988) [81]. Sự phục hồi
nhanh chóng của quần thể dịch hại thường do bởi sự lạm dụng thuốc trừ sâu,
dẫn ñến giết hại các loài thiên ñịch trên cánh ñồng, làm mất cân bằng sinh thái
(Heong và ctv, 1993) [48]. Có nhiều trường hợp, khi sử dụng thuốc trừ sâu là
nguyên nhân dẫn ñến phục hồi quần thể dịch hại bao gồm có cả rầy nâu
(Chilliah và Heinrich, 1984; Gao và ctv, 1988; Phạm Hồng Hiển, 2009) [35]
[42] [86]. Sự phục hồi quần thể rầy nâu sau khi sử dụng thuốc hoá học là một
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp……………
25hiện tượng phổ biến trên lúa tại những nước phía Nam và ðông Nam Châu Á.
Sự phục hồi quần thể rầy nâu phụ thuộc vào phương pháp và thời gian xử lý
thuốc trên chân ñất trũng. Với những phương pháp xử lý thuốc carbofuran
khác nhau như bón vào gốc, rắc lên bề mặt ñất và phun lên lá, kết quả cho
thấy phun lên lá là phương pháp có tác ñộng lớn nhất ñến sự phục hồi quần
thể rầy nâu sau khi phun. Xu hướng của sự phục hồi quần thể phụ thuộc nhiều
vào số lần sử dụng thuốc hoá học (Heinrichs và ctv, 1982) [50].
Song và ctv (1984) [96] cho biết trong số những loại thuốc sử dụng trừ
rầy nâu, chỉ có decamethrin là nguyên nhân dẫn ñến sự tái phát quần thể rầy.
Decamethrin ñã kích thích sự mắn ñẻ của rầy nâu và là nguyên nhân dẫn ñến
gia tăng quần thể. Hơn nữa, tỷ lệ thiên ñịch ñã giảm mạnh sau khi áp dụng
decamethrin cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn ñến phụ hồi
quần thể rầy nâu trên ñồng ruộng nhanh chóng.