Thái độ của sinh viên trường ĐHSPĐHTN đối với hành vi vi phạm quy chế thi - Pdf 23

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của các thầy cô và các bạn.
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo – Thạc sỹ
Trịnh Thị Thuận, người đã tận tình chu đáo hướng dẫn, động viên em trong
suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoa Tâm lý -
Giáo dục đã giúp đỡ em khi em tiến hành nghiên cứu đề tài này. Cảm ơn các
bạn trong lớp và các bạn sinh viên trong khoa đã giúp đỡ cổ vũ tôi khi thực
hiện đề tài.
Cảm ơn các bạn sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN đã tạo điều kiện cho
tôi trong quá trình điều tra để thu thập thông tin phục vụ cho đề tài.
Do hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu
khoa học, đề tài này không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 03 năm 2014
NGƯỜI THỰC HIỆN
Trần Thị Oanh
Tâm lý Giáo dục K46
i
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4. Giả thuyết khoa học 2
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1 5

Trong thời kỳ hội nhập và thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở
Việt Nam, con người luôn phải hướng tới tiếp thu những kho tàng văn hóa,
kinh nghiệm xã hội - lịch sử, những thành tựu khoa học tiên tiến… để phát
triển và hoàn thiện nhân cách của bản thân. Học tập là hoạt động nhận thức
tích cực và sáng tạo, là con đường cơ bản nhằm chiếm lĩnh những tri thức
khoa học, hình thành những năng lực mới. Đó là hoạt động trí óc căng thẳng,
nghiêm túc, có tổ chức, nền nếp rõ ràng. Để cho học tập đạt kết quả cao,
người học cần phải tích cực, tự giác học tập. Đặc biệt phải nắm vững và có
thái độ đúng đắn đối với quy chế học tập, quy chế thi cử. Thi cử là khâu quan
trọng và không thể thiếu trong quá trình học tập. Quy chế thi tạo cơ sở cho sự
phối hợp, sự đ•ng thuận, thống nhất giữa các khâu trong quá trình thi, kiểm
tra, đánh giá kết quả học tập của người học. Mặt khác nó được coi như công
cụ tạo lề lối làm việc, học tập, thi cử một cách khoa học, hợp lý, là công cụ
để quản lý người học, đ•ng thời giúp cho việc kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập và rèn luyện của sinh viên một cách thuận lợi, dễ dàng.
Trong dạy học, ở mỗi trường đều có quy chế học tập, thi cử riêng quy
định cụ thể các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của người học. Quy chế thi
giữ vai trò quan trọng góp phần duy trì trật tự, k„ cương trong suốt quá trình
học tập, thi cử. Từ đó, người học cần tuân thủ đúng quy chế học tập và có thái
độ đúng đắn cũng như phê phán các hành vi vi phạm quy chế học tập, thi cử.
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên là trung tâm Giáo
dục - Đào tạo giáo viên cho các bậc học. Trường có chế học tập, quy chế thi
cử khoa học, hoàn ch„nh, chặt chẽ đòi hỏi sinh viên phải tuân thủ một cách
nghiêm túc. Tuy nhiên, thực tế qua mỗi kỳ thi ở trường ĐHSP – ĐHTN
thường xảy ra tình trạng sinh viên có hành vi vi phạm quy chế thi. Điều này
xuất phát từ sự nhận thức chưa đầy đủ và thái độ chưa đúng đắn của sinh viên
1
đối với quy chế thi cử, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập của sinh viên
cũng như nền nếp, trật tự, kỷ cương của nhà trường.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Thái độ của

với hành vi vi phạm quy chế thi.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất các giải pháp giáo dục sinh viên
để họ có thái độ nghiêm túc đối với những hành vi sai trái góp phần ngăn
ngừa tình trạng vi phạm quy chế thi.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Thái độ của sinh viên trường ĐH sư phạm - ĐH Thái Nguyên đối với
hành vi vi phạm quy chế thi là một vấn đề rất rộng. Do hạn chế về thời gian
và năng lực nghiên cứu, trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu khoa học của
sinh viên, chúng tôi ch„ tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Thái độ của sinh viên đối với hành vi vi phạm quy chế thi.
Những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên đối với hành vi vi
phạm quy chế thi.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương
pháp:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Chúng tôi tiến hành
phân tích lý thuyết thành từng bộ phận theo một trình tự. Trên cơ sở đó,
chúng tôi tiến hành tổng hợp những ý kiến, những vấn đề lý thuyết để có được
những tri thức lý luận tương đối đầy đủ, khái quát về vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp phân loại và hệ thống lý thuyết nhằm sắp xếp các tri
thức lý thuyết thành một hệ thống lôgíc chặt chẽ theo từng đơn vị kiến thức để
làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

3
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp quan sát: Quan sát các biểu hiện về hành vi vi phạm quy
chế thi cử của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN.
- Phương pháp điều tra bằng Anket: Chúng tôi xây dựng hệ thống câu
hỏi đóng, mở để tìm hiểu thực trạng thái độ của sinh viên trường ĐH sư phạm

tâm lý học phương tây, nhà tâm lý học người Nga P.M Shikhirev đã chia quá
trình này thành 3 thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất (Từ khi khái niệm thái độ được sử dụng lần đầu tiên
vào năm 1918 cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai): Đây là thời kỳ
phát triển mạnh mẽ, với nhiều công trình tập trung chủ yếu vào định nghĩa,
cấu trúc, chức năng thái độ và mối quan hệ giữa thái độ và hành vi. Tiêu
biểu là công trình nghiên cứu của W.I Thomas và F. Znaniecki (Mỹ). Nội
dung chủ yếu của các nghiên cứu tập trung vào định nghĩa, cấu trúc, chức
năng của thái độ, mối quan hệ giữa thái độ và hành vi. Đặc biệt trong thời
gian này đã có hai tác giả phát hiện ra sự không nhất quán giữa thái độ và
hành vi của con người.
5
Thời kỳ thứ hai (Từ chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối những năm
1950): Vì lí do chiến tranh diễn ra trên toàn thế giới, cùng với sự bế tắc trong
quá trình giải thích các nghịch lý nảy sinh khi nghiên cứu thái độ, nên trong
thời kỳ này, các công trình nghiên cứu về thái độ giảm sút cả về s• lượng và
chất lượng so với thời kỳ trước đó. Nội dung của thời kỳ này là sự hoài nghi
về vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi của con người.
Thời kỳ thứ 3 (Đầu năm 1960 cho đến nay): Các nước phương Tây
phục h•i và phát triển trở lại sau chiến tranh, cùng với sự phát triển đi lên
của đất nước, các công trình nghiên cứu thái độ cũng được tiếp tục với
nhiều ý tưởng và quan điểm mới. Ngoài việc kế thừa những nghiên cứu
trước đó, các nhà Tâm lý học thời kỳ này còn nghiên cứu nhiều khía cạnh
khác nhau của thái độ nhất là các vấn đề về vai trò, cấu trúc, chức năng
Chẳng hạn như các nghiên cứu của M.Rokeach (1968), T.M.Ostrom (1969)
và U.J.Mc.Guire (1969).
Như vậy có thể thấy rằng trong suốt thời kỳ đầu tiên của thế kỷ XX đến
nay, ở phương Tây có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái độ, và cùng với
các nghiên cứu đó là các phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ hiện tượng tâm
lý đặc biệt này. Bên cạnh những kết quả đạt được còn t•n tại những hạn chế

thực trạng gian lận trong thi cử của trường này. Kết quả nhóm điều tra của
trường Đại học Harvard ở Mỹ mới đây đã phát hiện dấu hiệu gian lận của
khoảng một nửa trong tổng số 250 bài thi được làm ở nhà của các sinh viên
theo học tại trường.
Ở Trung Quốc, bộ giáo dục nước này đã điều tra, khảo sát thực trạng vi
phạm quy chế thi và đã sửa đổi quy định phòng thi để ngăn chặn gian lận.
Trên trang web, bộ này đã thêm 15 khoản mới trong quy định và cho biết việc
sửa đổi lần đầu tiên này nhằm đối phó "các tình huống, vấn đề mới, nạn gian
lận tràn lan và sử dụng công nghệ cao". Cụ thể, các thiết bị bị cấm mang vào
phòng thi không ch„ g•m điện thoại mà là tất cả những gì "có thể gửi và nhận
tín hiệu", theo Tân Hoa xã. Không đăng ký thông tin hay gây rối khi thi sẽ bị
7
phạt nặng. Bị bắt quả tang gian lận sẽ bị cấm thi 1-3 năm. Hình phạt cũng
tăng đối với các giáo viên, công chức tiếp tay cho gian lận.
1.1.2  Việt Nam
1.1.2.1 Nghiên cứu về thái độ
Nghiên cứu về thái độ ở Việt Nam thường gắn với các hoạt động cụ thể
như: thái độ trong học tập, thái độ trong nghề nghiệp Những đề tài nghiên
cứu không còn mang tính chung chung, trừu tượng mà nó được cụ thể hóa,
thể hiện trên các mặt cụ thể, trên các khía cạnh khác nhau của thái độ như xúc
cảm, tình cảm, hứng thú và vai trò của nó đối với hoạt động thực tiễn. “Tình
cảm là ngu•n động lực mạnh mẽ giúp con người đạt được kết quả của nhận
thức” (nguyễn Quang Uẩn).
Khi nghiên cứu các thành tựu của tâm lý học thế giới và thực tiễn tâm
lý học nước nhà, các nhà Tâm lý học Việt Nam đã xác định một số khái
niệm cơ bản về vị trí, vai trò của thái độ trong quá trình thực hiện hoạt động
giảng dạy và hoạt động học tập. Mục tiêu giáo dục là hình thành ở người học
có đầy đủ tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo là một trong những động cơ
của hoạt động học tập. Thái độ là một bộ phận cấu thành đ•ng thời là một
thuộc tính trọn vẹn của ý thức tham gia hoạt động của chủ thể, là yếu tố quy

2004 có 3.186 trường hợp, năm 2005 có 1.546 trường hợp, năm 2006 có
1.166 trường hợp. Các vi phạm phổ biến là mang tài liệu vào phòng thi để sử
dụng, sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc cá nhân trong phòng thi.
Đặc biệt, trong mấy năm gần đây, do sự phát triển như vũ bão của công
nghệ thông tin, các phương tiện thông tin liên lạc cá nhân ngày càng tinh xảo,
nhỏ gọn, đã tạo điều kiện cho thí sinh dễ dàng mang vào phòng thi mà khó bị
phát hiện. Gần đây, nhờ kỹ thuật photo màu đã trở nên thông dụng, nhiều thí
sinh đã làm giả giấy chứng nhận kết quả thi tuyển sinh đại học, cao đẳng để
tham gia xét tuyển vào cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp…
9
Bộ giáo dục và đào tạo nước ta đã đưa ra nhiều quyết định, nhiều quy
chế liên quan đến vấn đề thi cử như: Quy chế Tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ
chính quy (Ban hành kèm theo Thông tư số 09/2012/TT-BGDĐT ngày 05
tháng 3 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo); “Quy định thi kết
thúc học phần đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín ch„”
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3693/QĐ-ĐHSP, ngày 09 tháng 12 năm
2013 của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm) hoặc “Quy chế thi tốt
nghiệp Trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 10/2012/TT-
BGDĐT ngày 6/3/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo”…
Trên cơ sở những thực trạng này, ở nước ta đã có một số đề tài nghiên
cứu về thi cử như:
Tác giả TS.Đỗ Hạnh Nga (Trường ĐH Sư phạm TP. HCM), ThS.Bùi
Thị Kim Dung (Trường ĐH Bách Khoa TP. HCM) “Kiểm tra và thi cử trong
nhà trường phổ thông”.
TS. Phạm Ngọc Trúc “ Khảo sát, đánh giá thực trạng tiêu cực trong thi
cử, làm luận văn thuộc hệ thống giáo dục quốc dân”.
Tóm lại, ở trên thế giới và Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thái
độ và vi phạm quy chế thi cử có nhiều tuy nhiên chưa có đề tài nào đi sâu
nghiên cứu về thái độ của sinh viên đối với hành vi vi phạm quy chế thi.
Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Thái độ của sinh viên trường ĐHSP –

Dựa vào các cách định nghĩa trên, chúng tôi khái quát: Quy chế là văn
bản được quy định bởi một cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đã được quy định
thành chế độ để mọi người theo đó mà thực hiện.
11
1.2.1.2 Quy chế thi
a. Định nghĩa
Dựa vào khái niệm “Quy chế” có thể hiểu: Quy chế thi là những quy
định trong thi cử mà người học bắt buộc phải tuân theo do nhà trường hoặc
các tổ chức Giáo dục – Đào tạo ban hành nhằm đảm bảo tính nghiêm túc,
khách quan, công bằng… của hoạt động thi cử.
b. Vai trò của quy chế thi
Kiểm tra và thi cử là một thành phần không thể tách rời của hoạt động
dạy - học và đang được sử dụng như một biện pháp quan trọng thúc đẩy và
cải tiến việc dạy-học. Trong mỗi kỳ thi, kiểm tra, đánh giá, quy chế thi là văn
bản không thể thiếu. Nó đóng vai trò như một yếu tố quan trọng để ổn định kỷ
cương, đảm bảo tính nghiêm túc, có nề nếp của học sinh, sinh viên trong toàn
trường nhằm thực hiện chủ trương Giáo dục - Đào tạo học sinh, sinh viên trở
thành những người có “đức”, có “tài”, có phẩm chất, năng lực và đạo đức
toàn diện.
Quy chế thi có vai trò vô cùng quan trọng trong dạy học, có thể kể đến
các vai trò cụ thể như sau:
Quy chế thi là yếu tố vô cùng quan trọng, nó tạo nên tính nghiêm túc
trong các kỳ thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học. Đ•ng thời
nó giúp cho việc duy trì, ổn định kỷ cương, nền nếp học tập của học sinh, sinh
viên trong nhà trường.
Quy chế thi quy định sinh viên phải nghiêm túc trong các kỳ thi từ đó
góp phần làm cho kết quả thi, kiểm tra, đánh giá khách quan, công bằng hơn.
Hay nói cách khác, quy chế thi giúp sinh viên hạn chế tình trạng tiêu cực
trong thi cử cũng như các hoạt động liên quan đến giáo dục và đào tạo từ đó
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình giáo dục .

b. Danh sách sinh viên đủ (hoặc không đủ) điều kiện dự thi kết thúc
học phần (được ghi trong bản Báo cáo điểm học tập của sinh viên) do giảng
13
viên đề nghị, Trưởng khoa/bộ môn quản lý nội dung đào tạo duyệt và giao
cho Trợ lý đào tạo của Khoa/Bộ môn (sau đây gọi tắt là Khoa). Trợ lý đào tạo
của Khoa chịu trách nhiệm gạch tên những sinh viên không đủ điều kiện dự
thi trong Danh sách thi và biên bản chấm thi trước buổi thi.
3. Sinh viên vắng mặt trong buổi thi kết thúc học phần, nếu không có lý
do chính đáng coi như bỏ thi và phải nhận điểm không (0).
4. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng (có đơn xin hoãn thi được
chấp nhận hoặc có quyết định ngh„ học trước thời gian thi) sẽ không bị đánh
giá điểm không (0), không phải học lại, được bảo lưu các điểm thành phần và
được đăng ký thi vào những kỳ thi tiếp sau.
Điều 9. Trách nhiệm của sinh viên dự thi
1. Phải có mặt tại địa điểm thi đúng thời gian quy định đã thông báo
trong lịch thi. Đối với môn thi tự luận, sinh viên đến chậm quá 15 phút sau
khi đã bóc đề thi thì không được dự thi. Đối với các môn thi theo hình thức
vấn đáp, thực hành, trắc nghiệm trên máy tính, trường hợp sinh viên vắng mặt
khi CBCT gọi tên vào phòng thi, trong thời gian tổ chức môn thi, nếu sinh
viên có lý do chính đáng thì CBCT có thể xem xét và quyết định cho sinh
viên được dự thi.
2. Phải đeo thẻ sinh viên khi dự thi. Trường hợp mất hoặc quên thẻ,
sinh viên phải viết giấy cam đoan có xác nhận của giảng viên hoặc sinh viên
cùng lớp học phần.
3. Chuẩn bị giấy thi (theo mẫu giấy thi tuyển sinh hiện hành), giấy nháp
chưa sử dụng để làm bài thi (trong trường hợp Trường và Khoa chưa có quy
định riêng). Giấy thi và giấy nháp của sinh viên chuẩn bị phải đảm bảo không
có bất cứ dấu hiệu nào liên quan đến việc có thể lợi dụng để làm bài thi.
4. Ch„ được mang vào phòng thi các vật dụng, g•m: bút viết; bút chì;
compa; tẩy; thước kẻ; thước tính; máy tính bỏ túi không có thẻ nhớ cắm thêm

2. Cảnh cáo tại phòng thi đối với các sinh viên vi phạm một trong các
lỗi sau đây:
15
a. Đã bị khiển trách một lần trong giờ thi môn đó nhưng vẫn tiếp tục
vi phạm;
b. Trao đổi bài làm hoặc giấy nháp cho bạn;
c. Chép bài của sinh viên khác;
d. Cố tình để cho sinh viên khác nhìn bài.
Hình thức kỷ luật cảnh cáo do cán bộ coi thi lập biên bản, thu tang vật
(nếu có) và ghi rõ hình thức kỷ luật đã đề nghị trong biên bản.
Sinh viên bị kỷ luật cảnh cáo trong khi thi môn nào sẽ bị trừ 50% số điểm
thi của môn đó.
3. Đình ch„ thi đối với các sinh viên vi phạm một trong các lỗi sau đây:
a. Đã bị cảnh cáo một lần nhưng trong giờ thi môn đó vẫn tiếp tục
vi phạm;
b. Khi vào phòng thi vẫn mang theo vật dụng không được phép: tài
liệu; điện thoại; máy tính bỏ túi có thẻ nhớ và có khả năng soạn thảo được văn
bản; các loại máy ghi âm và ghi hình có khả năng truyền, nhận được thông tin
để lợi dụng làm bài thi; vũ khí, chất gây nổ, gây cháy, các vật dụng gây nguy
hại khác;
c. Đưa đề thi ra ngoài khu vực thi hoặc nhận bài giải từ ngoài vào
phòng thi;
d. Viết vẽ những nội dung không liên quan đến bài thi;
đ. Có hành động gây gổ, đe dọa hoặc chống đối cán bộ có trách nhiệm
trong kỳ thi hay đe dọa sinh viên dự thi khác;
e. Nhờ người khác thi hộ, làm bài hộ dưới mọi hình thức.
Hình thức đình ch„ thi do cán bộ coi thi lập biên bản, thu tang vật. Việc xử
lý kỷ luật sinh viên tại phòng thi phải được công bố cho sinh viên biết. Nếu
sinh viên không chịu ký tên vào biên bản thì ch„ cần hai cán bộ coi thi ký vào
biên bản. Sinh viên bị kỷ luật đình ch„ thi trong khi thi môn nào sẽ bị điểm

như phản ứng đều là những hiện tượng quan sát được, chứ không như tình ý
17
bên trong, thì gọi là ứng xử. Khi nhấn mạnh mặt định hướng, mục tiêu thì gọi
là hành vi”. [3]
Theo cuốn từ điển Tâm lý học của GS.TS. Vũ Dũng: “Hành vi là sự
tương tác với môi trường có ở động vật trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vận
động) và bên trong (tâm lý) của chúng, tính tích cực có định hướng của cơ thể
sống đảm bảo thực hiện các tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Thuật ngữ hành
vi được ứng dụng đối với các con vật, các cả thể nhất định”.[10]
I.P.Paplôp định nghĩa: “Hành vi được coi là tổng hợp các phản ứng vận
động đối với các kích thích bên ngoài”. [10]
Theo ngu•n http://ycantho.com/content/2/219/1879/1/khai-niem-ve-
hanh -vi-va-hanh-vi-suc-khoe.html: “Hành vi của con người được hiểu là
một hành động hay nhiều hành động phức tạp trước một sự việc, hiện
tượng mà các hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên
trong và bên ngoài, chủ quan và khách quan”. [12]
Ngu•n http://aitc.com.vn/tin-tuc/hanh-vi-con-nguoi có viết: “Hành vi
của con người là một chuỗi các hành động lặp đi, lặp lại. Hành động là những
hoạt động có mục đích cụ thể, phương tiện cụ thể tại một địa điểm cụ thể.
Như vậy, đơn vị cơ sở của hành vi là hành động và do đó hành vi của con
người có tính chất hướng đích”. [12]
Dựa vào các cách định nghĩa trên, chúng tôi khái quát: Hành vi là cách
ứng xử của con người đối với một sự kiện, sự vật, hiện tượng trong một hoàn
cảnh, tình huống cụ thể, nó được biểu hiện bằng lời nói, cử ch„, hành động
nhất định. Hay nói cách khác, hành vi là hành động phức tạp có mục đích cụ
thể của con người nhằm đáp lại các kích thích từ bên ngoài hiện thực khách
quan. Hành vi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: bên trong, bên ngoài, chủ
quan, khách quan
Tóm lại: Hành vi là khái khái niệm phức tạp có nhiều định nghĩa khác
nhau về hành vi. Song có thể hiểu một cách tổng quát: Hành vi là toàn thể

Hút thuốc trong phòng thi
19
Xem bài của thí sinh khác, trao đổi ý kiến, trao đổi giấy nháp với thí
sinh khác.
Đến muộn giờ thi hoặc ra về trước thời gian quy định.
Tổ chức, thực hiện nhờ người thi hộ hoặc đi thi hộ người khác.
Không xuất trình thủ tục, giấy tờ khi tham dự các kỳ thi.
Mang vào phòng thi tài liệu không cho phép đã được quy định trong
quy chế thi
c. Hậu quả của hành vi vi phạm quy chế thi
Bàn về vấn đề này, thầy giáo Nguyễn Quốc Bình (Hiệu trưởng Trường
THPT Việt Đức - Hà Nội) đánh giá: “Việc quay cóp ảnh hưởng đến sự hình
thành nhân cách của những công dân trong tương lai. Đây là sự ăn cắp kiến
thức không phải của mình. Trong quá trình thực hiện quay cóp, sử dụng nhiều
hình thức khác nhau, sẽ hình thành ở con người những mánh khóe. Điều
không giúp thế hệ công dân trong tương lai làm việc khoa học, có tầm nhìn
xa, có sự sáng tạo mà đưa đến một số nhóm học sinh quen quay cóp, quen lừa
dối, trong các hoạt động thì thụ động, trông chờ vào kiến thức của người
khác. Như vậy sẽ không tạo ra được sản phẩm của chính mình, mong muốn
có đội ngũ trí thức, công nhân lành nghề hoặc những công nhân thời kỳ hội
nhập của mình đang bị yếu kém đi. Để mỗi một học sinh là một con người
không ch„ có kiến thức mà còn có đạo đức và có những khát vọng để trở
thành công dân trong tương lai. Những công dân đó không ch„ làm việc tốt
mà còn rèn luyện đức tính trung thực ngay khi ng•i trên ghế nhà trường.
Không trung thực trong học tập và thi cử sẽ dần dần biến học sinh trở thành
nạn nhân của sự lười biếng và ngu dốt”.
Vi phạm quy chế thi là một vấn đề đang bức xúc hiện nay. Nó là hành
vi tiêu cực, sai trái để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Cụ thể:
Vi phạm quy chế, gian lận trong thi cử sẽ tạo ra kết quả ảo, thành tích
ảo, chất lượng giáo dục đi xuống. Người học không có kiến thức cho nên

21
Theo Từ điển tâm lý học của tác giả Vũ Dũng (chủ biên): “Thái độ là
những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đ•ng tình hay chống
đối như đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó”.
[10]
Từ điển Tâm lý học – Nguyễn khắc Viện khẳng định: ”Trước một
đối tượng nhất định, nhiều người thường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ
dàng hay khó khăn, đ•ng tình hay chống đối như đã có sẵn, có những cơ
cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó. Từ những thái độ có sẵn,
tri giác về đối tượng cũng như tri thức bị chi phối về vận động thì thái độ
gắn liền với tâm thế”. [3]
Còn trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản
tại New York năm 1996 thì lại cho rằng: "Thái độ là một trạng thái ổn
định bền vững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một
cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải như
bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao. Một thái độ được
nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối
tượng. Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành
động có liên quan đến đối tượng”. [9]
Như vậy, các từ điển khi định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là “cách
ứng xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xã hội”. Nó được
cấu thành rất phức tạp, với nhiều bộ phận hợp thành, cho dù cách sử dụng từ
ngữ khi định nghĩa về thái độ là khác nhau.
Nhà tâm lý học T.M.Newcom cho rằng: “Thái độ chính là một thiên
hướng hành động, tư duy nhận thức, cảm nhận của cá nhân tới một đối tượng
hay sự việc có liên quan”. [7]
G.W.Allport định nghĩa: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh
thần và thần kinh, được tổ chức thông qua kinh nghiệm, điều ch„nh hoặc ảnh
hưởng năng động đến các phản ứng của các nhân với tất cả các khách thể và
tình huống mà có mối quan hệ”. [7]

Trích đoạn Nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Thá Thái độ của sinh viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Thá Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm quy chế thi của sinh viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status