MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế xã hội và các tiến bộ trong lĩnh vực công nghệ truyền thông, ngành truyền
hình ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt kênh
truyền hình mới được cấp phép hoạt động[32], những chương trình truyền
hình mới đua nhau lên sóng đã làm bức tranh truyền hình ngày càng phong
phú, đa dạng hơn.
Cùng với việc các chương trình mới ra đời, số lượng người dẫn chương
trình truyền hình cũng tăng lên nhanh chóng. Ngoài lực lượng người dẫn
chương trình của các Đài truyền hình, còn có lực lượng người dẫn chương
trình là các văn nghệ sỹ, sinh viên các trường Đại học tham gia với tư cách là
người dẫn chương trình chuyên nghiệp hoặc cộng tác viên. Điều đó làm cho
đội ngũ tham gia vào công việc dẫn chương trình truyền hình ngày càng
phong phú[4, tr.238]. Nhiều người dẫn chương trình truyền hình đã khẳng
định được chỗ đứng của mình trong lòng công chúng. Sự đa dạng của người
dẫn chương trình cũng là một lý do lôi kéo khán giả đến với các chương trình
truyền hình.
Trên thực tế, vai trò của người dẫn chương trình truyền hình ngày càng
tỏ ra quan trọng khi mà sự phát triển mạnh mẽ của các chương trình truyền
hình đang khiến cho khán giả rơi vào càm giác bội thực thông tin. Chỉ có
những người dẫn chương trình truyền hình duyên dáng, thông minh, tin cậy
và đầy nhiệt huyết mới có thể lôi khán giả đến ngồi trước ti vi. Trong khi đó,
hiện nay tại Việt Nam, đội ngũ người dẫn chương trình truyền hình giỏi có
thể đếm trên đầu ngón tay[28]. Thiếu nguồn nhân lực cho các vị trí dẫn
chương trình đã khiến nhiều chủ nhiệm chương trình ở các đài truyền hình bắt
buộc sử dụng phương án thuê những cộng tác viên có chút ít kinh nghiệm và
lợi thế thanh sắc để chịu trách nhiệm dẫn các chương trình truyền hình.
Thế nhưng, ngay cả những người dẫn chương trình truyền hình thuộc
biên chế của các đài vẫn đang còn có quá nhiều hạn chế về trình độ chuyên
môn, thì không thể đòi hỏi các cộng tác viên dẫn chương trình có thể đủ sức
khẳng định được thương hiệu của mình trong xã hội.
Như vậy, việc nghiên cứu để xây dựng những tiêu chí về yêu cầu, kỹ
năng nghề nghiệp của một người dẫn chương trình truyền hình là yêu cầu tất
yếu khách quan, phù hợp với hoạt động lý luận và thực tiễn trong bối cảnh
hiện nay của ngành truyền hình, giúp cho việc đào tạo nâng cao trình độ
chuyên môn và kỹ năng của đội ngũ người dẫn chương trình truyền hình ở
nước ta, nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình, phục vụ tốt hơn
nhu cầu hưởng thụ giá trị văn hóa của nhân dân ta. Với những lý do trên, tác
giả luận văn chọn nội dung: Phẩm chất và kỹ năng cơ bản của người dẫn
chương trình truyền hình làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Theo khảo sát còn giới hạn của tác giả Luận văn, cho đến nay, tại Việt
Nam, những công trình nghiên cứu trước đây của các nhà khoa học có liên
quan đến yêu cầu kỹ năng của người dẫn chương trình truyền hình hầu như
không có. Chỉ có một số công trình của các tác giả đi trước, trong một số
chương mục có đề cập tới nghề dẫn chương trình truyền hình và người dẫn
chương trình truyền hình, thế nhưng, đó mới chỉ là những bài nghiên cứu giới
hạn với mức độ khảo sát ở phạm vi nhỏ, chủ yếu là những bài báo được giới
thiệu trên các tạp chí thuộc Hội nhà báo Việt Nam, Hội nhà báo TP Hồ Chí
Minh hay một số tài liệu in chung trong các tập sách tham khảo về nghề báo
nói chung.
Trong đó, đáng chú ý có một số tác phẩm sau đây:
Luận văn Thạc sĩ truyền thông đại chúng năm 2006 của Lê Thị Phong
Lan trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, đề tài Ngôn ngữ
của người dẫn chương trình truyền hình do PGS,TS Vũ Quang Hào hướng
dẫn. Luận văn phân tích đánh giá các chương trình giao lưu- gặp gỡ truyền
hình và vai trò của người dẫn chương trình. Tuy vậy, luận văn này chỉ tiếp
cận trong cách thức tổ chức và sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình.
Nghiên cứu ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và cách thể hiện lời nói, điệu bộ, một
số yếu tố kỹ năng giao tiếp với người đối thoại của người dẫn trong các
bởi nó cung cấp một tri thức khá mới mẻ về yêu cầu kỹ năng của một người dẫn
chương trình.
Tuy vậy, tất cả các tài liệu này vẫn chưa đi sâu phân tích một cách bài bản về
người dẫn chương trình truyền hình cũng như những kỹ năng cần thiết của họ.
Đặc biệt, các tài liệu trên chưa đưa ra được một giới hạn đầy đủ cho các thuật ngữ
dùng để chỉ những người dẫn chương trình truyền hình; chưa đưa ra được tiêu chí
phân loại những người dẫn chương trình và cũng chưa đề cập một cách đầy đủ các
yêu cầu kỹ năng dựa trên những tiêu chí riêng cho từng dạng người dẫn chương
trình truyền hình.
Tác giả hầu như phải sử dụng nhiều tài liệu bằng tiếng nước ngoài, chủ yếu
là tiếng Anh, thông qua các nguồn: như thư viện trực tuyến Wikipedia.com; một
số trang web chuyên về đào tạo người dẫn chương trình của Anh, Mỹ,
như:http://www.pozitiv.com; http://www.mediacollege.com; tvpresenter.com…
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng về phẩm chất, kỹ năng
của người dẫn chương trình truyền hình, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao phẩm chất và kỹ năng cơ bản của người dẫn chương trình truyền hình
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Từ mục đích của luận văn này, tác giả mong muốn thực hiện được các nhiệm
vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về người dẫn chương trình
truyền hình.
- Khảo sát một số phẩm chất kỹ năng cơ bản của người dẫn chương trình
truyền hình.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng người dẫn chương trình
truyền hình ở Việt Nam hiện nay
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
kỹ năng của người dẫn chương trình truyền hình. Góp phần đưa ra những góc
nhìn mới, đa diện để phát triển lý luận cho lĩnh vực này.
6.2. Về mặt thực tiễn
Đề tài luận văn này sẽ tập trung làm rõ các khái niệm về người dẫn
chương trình truyền hình, cũng như phân tích những yêu cầu, phẩm chất, kỹ
năng cần thiết đối với người dẫn chương trình truyền hình theo từng thể loại.
Luận văn này sẽ là căn cứ khoa học để những người dẫn chương trình có
thể vận dụng lý luận về hoạt động dẫn chương trình truyền hình vào hoạt
động thực tiễn. Đây cũng có thể trở thành một tài liệu tham khảo đối với
những người không hoạt động trong lĩnh vực truyền hình, nhưng muốn tìm
hiểu các kỹ năng của một người dẫn chương trình để phục vụ cho các công
việc liên quan.
Tác giả luận văn cũng mong muốn có thể dành nhiều thời gian hơn nữa
để nghiên cứu và phát triển luận văn trở thành một tài liệu tham khảo trong
các cơ sở đào tạo người dẫn chương trình truyền hình.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn này
được kết cấu gồm 3 chương, 10 tiết, 96 trang.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGƯỜI DẪN
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
1. Lịch sử phát triển của thuật ngữ người dẫn chương trình truyền hình
1.1.Trên thế giới
Trên thế giới những khái niệm đầu tiên về người dẫn chương trình được biết
đến từ thời Phục Hưng và xuất phát từ hoạt động của các Nhà thờ Công giáo[30].
Trong các nhà thờ người ta gọi những người điều hành các buổi lễ tế, các chủ lễ,
hay Chưởng nghi là Master of Ceremonies(gọi tắt là MC). Đó là người rất quan
trọng của buổi lễ tế, họ phải chịu trách nhiệm tiến hành một cách chính xác và
suôn sẻ các buổi lễ, cũng như các nghi thức liên quan. Tên của những Masters of
Ceremonies(người chủ lễ) được biết kể từ cuối Trung Cổ (thế kỷ 15) và thời Phục
quyết định lựa chọn những tin tức nóng hổi, xắp sếp thứ tự tin và đồng thời
anh ta(hay cô ta) dẫn chương trình đó, để mang chương trình tin tức đó đến
với những khán giả của họ. Hoặc người Mỹ sẽ dùng thuật ngữ: show host để
gọi người thực hiện và hướng dẫn các chương trình talk show hay game show.
Chẳng hạn, người ta gọi Larry King ở talk show mang tên Larry King Live là
talk show host. Trên thực tế, khi chuyển nghĩa của từ talk show host sang
tiếng Việt chúng ta vẫn chưa có một khái niệm tương ứng, bởi một talk show
host như Larry King hay Oprah Winfrey, họ không chỉ làm công việc dẫn
chương trình, mà còn là tác giả của format, tác giả kịch bản, thậm chí tổ chức
sản xuất chương trình đó. Chính vì còn nhiều khác biệt như vậy, nên tác giả
luận văn chỉ nghiên cứu ở góc độ chức năng là một người dẫn chương trình
mà thôi.
Hoặc truyền hình ở Anh thường dùng từ Newscaster để gọi người dẫn ở
mục điểm tin. Trong khi đó tại Mỹ và Canada người ta gọi các Newscaster và
News presenter là News Anchor. Riêng hãng tin BBC lại gọi các Newscaster
và News presenter là: Newsreader.
1.2. Ở Việt Nam
Khác với các nước có nền truyền hình phát triển mạnh trên thế giới, khi
du nhập vào Việt Nam, thuật ngữ MC được người ta dùng để gọi tắt chức
danh người dẫn chương trình truyền hình, ban đầu là tại đài Truyền hình Việt
Nam(MC truyền hình). Chưa có một tài liệu nào khẳng định thuật ngữ này
chính thức được nhập vào Việt Nam từ bao giờ, song rõ ràng nó có sức sống
khá mãnh liệt ở mảnh đất còn rất màu mỡ này.
Trước khi thuật ngữ MC trở nên phổ biến như hiện nay, thì người ta gọi
những người làm công việc dẫn chương trình trên truyền hình là phát thanh
viên, hay biên tập viên hoặc đơn giản là người dẫn chương trình.
Thuật ngữ người dẫn chương trình ở Việt Nam mới chỉ xuất hiện thời
gian gần đây (có thể) từ khi Truyền hình Việt Nam(VTV) bắt đầu sản xuất
các chương trình Trò chơi, đó là vào thời điểm những năm 1996, 1997 với
chương trình đầu tiên là SV 96 do nhà báo Lại Văn Sâm dẫn(trước đó ở VTV
người dẫn chương trình truyền hình. Sau đó dưới ảnh hưởng của các phương
tiện thông tin đại chúng và nhu cầu sử dụng trong đời sống xã hội, thuật ngữ
này đã được ứng dụng rộng rãi, hiện nay, từ MC được hiểu là dùng để chỉ:
người dẫn chương trình nói chung. Chúng ta có thể thấy, trong bất kỳ sự kiện
nào, từ hôn sự cho tới các buổi trình diễn ca nhạc; từ cuộc giới thiệu sản phẩm
mới đến cuộc trao giải Cánh diều vàng…đều xuất hiện người dẫn chương
trình và được giới thiệu là MC. Thuật ngữ này ngày càng có xu hướng được
mở rộng nội hàm và được xã hội chấp nhận.
2. Vai trò của người dẫn chương trình truyền hình
Dẫn chương trình là một mắt xích trong quy trình sản xuất một chương
trình truyền hình. Người dẫn chương trình truyền hình là thành viên của ê kíp
sản xuất chương trình đó.
Trong hầu hết các chương trình truyền hình đều có sự tham gia của người
dẫn chương trình. Tùy vào đặc điểm thể loại tác phẩm, tùy thuộc vào yêu cầu thực
tế của công việc, mà người dẫn chương trình được đòi hỏi thể hiện vai trò, nhiệm
vụ khác nhau, thế nhưng, điểm chung nhất, người dẫn chương trình chính là cầu
nối đầu tiên đưa khán giả đến với tác phẩm truyền hình.
Người dẫn chương trình là người giới thiệu chương trình. Anh ta có
trong tay toàn bộ nội dung, chi tiết trình tự diễn tiến của chương trình. Đồng
thời anh ta phải chịu trách nhiệm có tính quyết định về hiệu quả toàn bộ
chương trình, anh ta có nhiệm vụ dẫn dắt làm cho mọi người thấy được chủ
đề xuyên suốt của chương trình.
Nhưng người dẫn chương trình còn phải có khả năng tạo dựng bầu không
khí cho toàn bộ chương trình bằng cách tạo ra các đột biến cao trào phấn khởi
hay lắng đọng sâu xa nhằm thu hút, lôi cuốn mọi người theo một tiết tấu có
tính toán trước một cách khéo léo và chu đáo theo kịch bản. Sự xuất hiện của
người dẫn có thể ngắn ngủi thoáng qua, nhưng lại có thể làm nổi bật những
thông tin mà anh ta giới thiệu.
“Người dẫn chương trình là chất liệu sống động nhất và cũng chủ động
nhất để cấu trúc một chương trình truyền hình.”[43]
nhiều, thật khó cho một người dẫn thiếu kinh nghiệm. Anh ta sẽ không biết phải
ngắt lời của vị khách mời đó như thế nào. Hoặc khi thời gian cho chương trình sắp
hêt, nhưng những nội dung mà khách mời muốn trao đổi thì còn rất nhiều và rất
hấp dẫn. Lúc đó, người dẫn chương trình giỏi phải là người biết can thiệp một
cách lịch sự và không khiến cho khách mời cũng như khán giả cảm thấy khó chịu.
Một người dẫn chương trình tồi chính là thảm họa cho cả ê kíp sản xuất. Đó
là lý do vì sao truyền hình phương Tây và các nước có nền truyền hình phát triển
lâu đời, thường chọn những người dẫn chương trình là những người trung niên,
với những yêu cầu nghiêm khắc về kinh nghiệm nghề nghiệp. Khi nghiên cứu vấn
đề này, chúng tôi thấy rằng, hầu như trong tất cả các chương trình tin tức hoặc các
chương trình tọa đàm của truyền hình phương Tây, thì người dẫn phải là người đã
tốt nghiệp một trường hay một khóa đào tạo về báo chí chuyên nghiệp; ngoại trừ
những trường hợp tài năng hoặc có vị trí đặc biệt, một người dẫn chương trình
truyền hình bắt buộc phải trải qua những vị trí công tác ở cấp thấp hơn, có thể là
từ một đài truyền hình của địa phương, hoặc đảm nhận những công việc khác
trong một ê kíp sản xuất.
Điều này có vẻ hơi trái ngược với thói quen sử dụng người dẫn chương trình
ở Việt Nam, và thậm chí cả Trung Quốc, khi chúng ta sử dụng quá nhiều người
dẫn trẻ tuổi cho, đặc biệt là, các chương trình tin tức chính luận, là những chương
trình yêu cầu những người dẫn chương trình có nhiều kinh nghiệm và khả năng
ứng phó nhanh.
3. Các tiêu chí để phân biệt một người dẫn chương trình truyền hình.
3.1. Như đã phân tích ở trên, do là lĩnh vực tương đối mới ở Việt Nam, nên
hệ thống thuật ngữ, khái niệm liên quan đến người dẫn chương trình truyền
hình và hoạt động dẫn chương trình truyền hình ở nước ta vẫn còn khá ít.
Thậm chí có những giai đoạn, việc định danh các tên gọi chỉ người dẫn
chương trình truyền hình còn bị rơi vào tình trạng tùy tiện.
Trong luận văn này, tác giả đề xuất cách gọi chung cho những người
thực hiện hoạt động dẫn các chương trình phát sóng trên các đài truyền hình
là: người dẫn chương trình truyền hình, và không đề xuất cách gọi tắt là
phục của họ; phong cách lời dẫn; các yếu tố ngôn ngữ hình thể…
Từ những yếu tố này, xem lại cách phân loại ở trên, chúng ta thấy, một
người dẫn Bản tin thời sự có chung cách thức tiếp cận khán giả với người dẫn
chương trình Bản tin khoa học, ở chỗ, họ cùng có chung một kiểu khuôn hình,
thường là bắt trung hoặc cận cảnh người dẫn trong phòng thu; họ cùng có
chung một kiểu diện mạo và trang phục tương đối chỉn chu; họ cùng có chung
một phong cách lời dẫn mang tính chất chính luận, và, họ hầu như không phát
huy yếu tố ngôn ngữ cơ thể. Lấy ví dụ như chương trình Thời sự của VTV và
series chương trình Bảy ngày công nghệ cũng của VTV.(1)
Vậy, làm sao có thể phân biệt được những người dẫn chương trình khác
nhau nếu chỉ dựa vào yếu tố lĩnh vực hoạt động.
Một ví dụ khác, khi so sánh phong cách của một người dẫn chương trình
trò chơi truyền hình Hành trình văn hóa với phong cách dẫn chương trình của
người dẫn chương trình Theo dòng lịch sử; tác giả luận văn này cũng rất khó
phân biệt rạch ròi những đặc điểm khu biệt phong cách dẫn của Bạch
Dương(Hành trình văn hóa) với phong cách dẫn của Nguyên Sơn(Theo dòng
lịch sử). Bởi, nếu dựa trên yếu tố lĩnh vực hoạt động, thì, Bạch Dương và
Nguyên Sơn sẽ phải có nhiều điểm khác nhau. Nguyên Sơn dẫn chương trình
Theo dòng lịch sử, một chương tình thuộc Ban Khoa giáo, THVN; Bạch
Dương dẫn chương trình Hành trình văn hóa, một chương trình thuộc Ban Thể
thao- giải trí- thông tin kinh tế, THVN. Nhưng trên thực tế, cả người dẫn Nguyên
Sơn và Bạch Dương đều có chung một phong cách xuất hiện trước công chúng,
đó là xuất hiện trong một không gian rộng, bao gồm trường quay và những người
chơi lẫn khán giả, với khuôn hình đại toàn cảnh; ngôn ngữ cơ thể của 2 người dẫn
này được biểu hiện khá triệt để với việc đi lại nhiều trên sân khấu, động tác tay
chân, mặt thể hiện rất hiệu quả; trang phục và phong cách trang điểm của cả 2
người dẫn khá phong phú, và, ngôn ngữ lời dẫn khá sinh động.(2)
Thứ hai, quan điểm phân chia theo lĩnh vực hoạt động ở trên cũng thực sự
chưa chính xác. Chúng ta hãy cùng nhìn lại, cách phân chia lĩnh vực như ở trên đã
khoa học hay chưa, khi ta thấy rằng, vẫn còn sự nhập nhằng giữa cách gọi nhóm
Sở dĩ tác giả luận văn không dựa trên tiêu chí về thể loại, là vì, như đã nói ở
trên, hệ thống thuật ngữ, khái niệm về thể loại tác phẩm truyền hình ở Việt Nam
chưa hoàn thiện, nên tác giả đề xuất một cách tiếp cận dựa trên những đặc điểm
khác nhau về những yếu tố hình thức chung cấu thành nên tác phẩm truyền hình đó.
Cho đến khi có được những kết quả nghiên cứu thống nhất về thể loại tác phẩm
truyền hình, tác giả luận văn sẽ xem xét để hoàn thiện cách tiếp cận của mình.
3.2. Các tiêu chí phân loại người dẫn chương trình truyền hình
3.2.1. Bối cảnh ghi hình
Đây là yêu tố hình thức giúp phân biệt những bối cảnh làm việc chung
của một người dẫn chương trình. Thông thường, sự phân biệt bằng yếu tố này
tỏ ra không rõ rệt lắm, chẳng hạn một người dẫn chương trình tạp chí thông
thường sẽ xuất hiện trong bối cảnh ở trường quay hoặc phòng thu, thế nhưng,
trong một số trường hợp, để tăng hiệu quả hình ảnh anh ta sẽ xuất hiện tại
hiện trường để giới thiệu về một chủ đề nào đó. Và khi đó, chúng ta thấy bối cảnh
xuất hiện của anh ta sẽ giống với bối cảnh xuất hiện của một người dẫn chương
trình trò chơi vận động. Chính vì vậy, chúng ta phải có rất nhiều yếu tố khác để
giúp cho việc phân biệt được dễ dàng hơn.
Có 2 kiểu bối cảnh ghi hình chính:
+ Bối cảnh ghi hình trong trường quay(hoặc trong phòng thu).
+ Bối cảnh ghi hình ngoài hiện trường(bao gồm cả hiện trường ảo, hiện trường
thực tế được thiết kế trong trường quay)
3.2.2. Phương thức xuất hiện của người dẫn
Phương thức xuất hiện của người dẫn tức là cách thức anh ta xuất hiện trên
màn hình. Phương thức xuất hiện có thể chia thành 4 dạng: xuất hiện trực tiếp
hoặc xuất hiện không trực tiếp; xuất hiện đơn phương thức hoặc xuất hiện đa
phương thức.
Trong truyền hình hiện đại, người ta càng ngày càng chú trọng phương thức
xuất hiện trực tiếp của người dẫn chương trình trong các bản tin thời sự, các chương
trình tọa đàm. Điều này sẽ khiến cho những thông tin của chương trình tin tức( ở
Việt Nam phổ biến cách hiểu là bản tin thời sự) trở nên nhanh hơn, cập nhật hơn.
Có 2 dạng phong cách trang phục:
+ Phom chuẩn(áo dài với nữ, vest đối với nam).
+ Đa dạng.người ta không khuyến khích phương thức phát sóng trực tiếp.
Lý do là vì, để tiết kiệm
3.2.4. Ngôn ngữ cơ thể
Yếu tố này ngày càng được đề cao đối với một người dẫn chương trình.
Đó là khả năng xử lý ngôn ngữ của cơ thể, nó bao gồm: tư thế, cử chỉ, điệu
bộ, sự liên hệ của mắt.
Một nghiên cứu của thiyagarajan.wordpress.com khẳng định, những gì
mà cơ thể của chúng ta làm, có thể chuyển tải nhiều thông điệp hơn là chúng
ta nghĩ. Chẳng hạn, mắt có thể tạo ra sự tương tác tốt hơn đối với người xem
truyền hình, còn những cử chỉ có thể khiến cho lời dẫn của bạn thêm năng
lượng và sự tự tin. Tư thế cũng có thể ảnh hưởng đến tâm lý của một người
dẫn chương trình.
Thậm chí, trong rất nhiều tài liệu nước ngoài, khi phân tích vai trò của ngôn
ngữ cơ thể(body language), còn khẳng định, trong tâm lý học giao tiếp, ngôn ngữ
cơ thể chiếm tới 55% hiệu quả giao tiếp với khán giả truyền hình[41].
Tùy vào từng nội dung chương trình khác nhau, ngôn ngữ cơ thể của một
người dẫn chương trình cũng được biểu đạt theo những chiều hướng khác
nhau. Thông thường có hai cấp độ biểu đạt của ngôn ngữ cơ thể có thể nhận ra
dễ dàng nhất:
+ Biểu lộ hạn chế. Mặc dù ngôn ngữ cơ thể rất quan trọng, nhưng cách thức
biểu đạt và tần xuất thể hiện cũng khác nhau dựa vào nội dung của một chương
trình. Với một chương trình thời sự, người dẫn không thể sử dụng ngôn ngữ cơ
thể như người dẫn chương trình trò chơi truyền hình. Anh ta sẽ phải sử dụng ngôn
ngữ cơ thể ở hình thức tinh vi nhất có thể, những biểu đạt thường dùng nhất của
người dẫn chương trình tin tức là các điệu bộ của đầu, mắt và hai bàn tay.
+ Biểu lộ thoải mái. Với những người dẫn chương trình ở các thể loại khác,
ngôn ngữ cơ thể được biểu đạt tối đa. Đặc biệt là với những chương trình trò chơi,
tọa đàm hay một tạp chí. Một người dẫn thể loại trò chơi tiêu biểu cho phong cách
Những yếu tố đặc trưng về văn phong cũng là một trong những dấu hiệu
hình thức dễ nhận biết nhất để phân biệt người dẫn chương trình thuộc thể
loại này với thể loại khác. Căn cứ những đặc trưng riêng, có thể chia ra 3
dạng văn phong sau đây:
+ Chính luận.
Đây là dạng văn phong bắt buộc sử dụng đối với người dẫn chương trình
tin tức. Xét trên quan điểm thể loại, chương trình tin tức thuộc nhóm thể loại
chính luận, với các đặc trưng chung về ngôn ngữ mang tính chính luận. Là
người dẫn chương trình thì yêu cầu cơ bản nhất đó là khả năng biểu đạt ngôn
ngữ. Người dẫn chương trình tin tức không chỉ là người “phát thanh” nội
dung chương trình mà họ phải là người “truyền tải” tin tức đến đông đảo khán
giả. Họ không chỉ cần nói lưu loát mà còn phải nói “đúng” và nói “trúng”.
Muốn vậy người dẫn chương trình tin tức phải có kiến thức sâu rộng và kinh
nghiệm phong phú. Những người dẫn chương trình tin tức thường phải tiếp
cận những vấn đề liên quan đến nhiều khía cạnh chính trị, khoa học, văn hóa
giáo dục… vì thế họ phải có sự hiểu biết về nhiều lĩnh vực thì mới có lòng tin
và khả năng điều tiết chương trình, đồng thời ứng phó với mọi tình huống có
thể xảy ra.
+ Phong cách nói.
Văn phong ngôn ngữ lời nói, thường được áp dụng cho các chương trình
trò chơi truyền hình với việc người dẫn hầu như thoát ly khỏi kịch bản lời
dẫn, họ chỉ việc bám sát kết cấu kịch bản của một trò chơi và tung hứng bằng
lời nói với những người chơi để tạo nên những tình huống giao tiếp bất ngờ
cho khán giả.
+ Đa phong cách.
Đó là việc sử dụng kết hợp các dạng phong cách ngôn ngữ khác nhau trong
khi dẫn chương trình. Có thể đó là sự kết hợp phong cách ngôn ngữ chính luận
với phong cách nói, hoặc phong cách ngôn ngữ khoa học với phong cách
nói.v.v…Chẳng hạn, với một tạp chí truyền hình chuyên phan tích về cấu trúc tế
bào, thì người dẫn sẽ hay dùng kết hợp giữa phong cách nói với phong cách ngôn