LỜI MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề:
Như chúng ta đã biết, trong thời gian vừa qua nến kinh tế thế giới nói chung và
kinh tế Việt nam nói riêng tăng trưởng rất nóng. Song song đó, thế giới ngày
càng bất ổn, nền kinh tế luôn chứa đựng nhiều rủi ro. Điều này thể hiện rất rõ
qua sự kiện ngày 17/8/2007 vừa qua, các chỉ số chứng khoán bắt đầu sụt giảm
nghiêm trọng và suốt những ngày sau đó. Các thị trường tài chính trên thế giới
đều đặt trong tình trạng báo động và ngân hàng trung ương các nước luôn cảnh
giác để sẵn sang can thiệp bất cứ lúc nào. Có thể nói trong thời gian vừa qua,
cả nền kinh tế thế giới luôn gặp những vấn đề nan giải : khủng hoảng tín dụng
thế chấp bất động sản, lạm phát, khủng hoảng lương thực, thế giới lao đoa
trong khi giá dầu và giá vàng liên tục lập kỷ luc chưa từng có.
Những vấn đề này tác động đến nền kinh tế Việt Nam ra sao?
Chỉ trong vài tháng đầu năm 2008, thị trường tài chính luôn là tâm điểm quan
tâm của cả nước với những rủi ro về một cụôc khủng hoảng sẽ xảy ra. Vào
khoảng tháng 2 và tháng 3, chỉ số chứng khoán không ngừng sụt giảm. Bên
cạnh đó, sự gia tăng chỉ số giá tiêu dùng cùng một số bất ổn về tín dụng đã
khiến cho VNĐ tăng giá so với USD (dự báo VNĐ sẽ tăng 1% năm 2008 và
2% trong năm 2009 so với USD) kèm theo sự gia tăng lãi suất. Trong tuần đầu
tháng 03 năm 2008, lấn áp sự ảm đạm trên thị trường cổ phiếu, thị trường trái
phiếu dường như đang dần trở thành tâm điểm chú ý của giới đầu tư, đặc biệt
là các nhà đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh hiện nay, nắm giữ trái phiếu có
thể ổn định trong dài hạn.
II. Mục tiêu nghiên cứu:
Hiện nay thị trường trái phiếu vẫn chưa hoạt động sôi động. Một điều đáng lưu
ý là toàn bộ giao dịch trái phiếu trong thời gian qua rất nhộn nhịp nhưng phần
lớn giao dịch này vẫn là ở các trái phiếu chính phủ do kho bạc nhà nứơc phát
Độ an toàn được đo lường bởi chênh lệch giá mua bán,chỉ ra những chi phí
phát sinh bởi những người tham gia thị trường khi thực hiện hợp đồng; chênh lệch
càng thấp thì tính thanh khoản thị trường càng cao.
Độ sâu của thị trường xác định phạm vi nó có thể giải quyết các hợp đồng
lớn mà không làm thay đổi nhiều về giá
Độ hồi phục xác định tốc độ mà những dao động về giá cuối cùng giảm
dần. Yếu tố khác có thể là qui mô thị trường, vì thị trường cùng với những cổ
phiếu đang lưu hành nhìn chung có doanh thu bằng tiền mặt cao và giao dịch giao
sau lớn. 1.2 Mô hình vận hành thị trường trái phiếu ở các nước phát triển
Theo mô hình trên thì để vận hành được một thị trường trái phiếu hiệu quả
cần có sự phối hợp đồng bộ và nhịp nhàng của các toàn bộ các yếu tố vĩ mô và vi
mô bao gồm:
o Chính phủ điều hành các yếu tố vĩ mô tốt
o Cơ sở nhà đầu tư phát triển cả về mặt chất và mặt lượng
Thị trường trái phiếu chính phủ
hiệu quả
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật như thanh
toán, bù trừ
Cơ cấu hệ
thống pháp
o Thị trường phải xây dựng được một mức chuẩn tín dụng
o Hệ thống hạ tầng kỹ thuật thị trường như thanh toán bù trừ phải tốt
o Có sự tham gia phát hành nợ của các doanh nghiệp lớn
o Thị trường trái phiếu chính phủ phải vận hành hiệu quả
o Phương pháp giám sát thị trường một cách năng động
Qua đó, có thể thấy các chủ thể tham gia thị trường đóng vai trò rất quan trọng
trong việc vận hành thị trường trái phiếu. 1.2.1 Nhà phát hành: thành phần chính là chính phủ và doanh nghiệp
Chính phủ: nhà phát hành lớn nhất trên thị trường trái phiếu. Ngoài mục
đích huy động vốn cho việc tài trợ các dự án phát triển của chính phủ, cho ngân
sách nhà nước, việc phát hành trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu chính phủ theo lô
lớn thì nhằm nâng cao tính thanh khoản cho thị trường giao dịch thứ cấp. Mặt
khác, chính phủ có trách nhiệm thiết lập cách đo lường kinh tế vĩ mô và khung
pháp lý tốt nhằm tạo ra môi trường phát triển lành mạnh.
Doanh nghiệp: Doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhằm đa dạng hóa việc
tài trợ và sự ổn định trong cấu trúc vốn. Ngoài kênh huy động vốn qua việc phát
các nhà điều hành thị trường
Nhà
đầu
tư
Nhà
phát
hành
Trung gian
thị trường
hành cổ phiếu, doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu, ghi nhận một khoản nợ
vào thị trường trái phiếu nhằm đa dạng hóa các khoản đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận
tối đa.
Sự có mặt của họ trên thị trường góp phần vào việc phát triển nền kinh tế.
Họ có khả năng huy động vốn nhàn rỗi lớn trong công chúng do đó mà khả
năng giao dịch của họ trên thị trường với mục đích kinh doanh là rất lớn.
Hơn nữa họ có khả năng sử dụng vốn linh hoạt nên vấn đề thu được lợi
nhuận nhiều hơn so với nhà đầu tư cá nhân.
Trong trường hợp chủ thể phát hành bán không hết chứng khoán thì họ có
nhiệm vụ mua hết phần còn lại. Điều này góp phần làm gia tăng tính thanh khoản
cho chứng khoán trên thị trường thứ cấp.
Mặt khác, họ là những người am hiểu các công cụ phòng ngừa tài chính
như hợp đồng quyền chọn, hoán đổi lãi suất hay hợp đồng giao sau, kỳ hạn. Do đó
khả năng việc quản trị rủi ro của họ rất tốt.
Việc thực hiện đầu tư của họ luôn xem xét tính phù hợp về vòng đời tài sản
và khoản nợ liên quan.
1.2.4 Các nhà điều hành thị trường:
Chính phủ có trách nhiệm thiết lập cách đo lường kinh tế vĩ mô và khung
pháp lý tốt nhằm tạo ra môi trường phát triển lành mạnh.
Nhà quản lý thị trường vốn đảm bảo sự an toàn cho nhà đầu tư qua việc
cung cấp các chứng khoán theo từng ngành. Họ là ngân hàng trung ương, thực
hiện việc giám sát hoạt động thị trường, phát hiện trường hợp gian lận trong giao
dịch để cảnh báo cho nhà đầu tư, ổn định thị trường.
Sở giao dịch chứng khoán: cung cấp nơi giao dịch cho các chứng khoán đã
phát hành và thúc đẩy việc niêm yết các đợt phát hành mới.
1.3 Thị trường trái phiếu đối với sự phát triển kinh tế:
1.3.1 Vai trò của thị trường trái phiếu đối với doanh nghiệp:
Thị trường nợ doanh nghiệp như là một kênh liên kết những khoản tiền tiết
kiệm của xã hội để thực hiện các cơ hội đầu tư, thể hiện các thông tin về công ty
giúp đánh giá nguồn huy động nhanh hơn. Lợi ích của thị trường trái phiếu mang
lại lợi ích cho nhà phát hành:
1.3.2 Vai trò của thị trường trái phiếu đối với chính phủ:
Vì thị trường trái phiếu phát triển là một thành phần quan trọng của toàn bộ
thị trường vốn trong nước, thị trường trái phiếu rất cần thiết khi huy động vốn cho
các dự án hạ tầng, vài nhu cầu đầu tư cơ bản của quốc gia có thể bị trì hõan hay
huy động vốn không đủ khi không có sự cân đối thích hợp.
Thị trường trái phiếu một khi không đủ qui mô cũng như không tách rời với
sự can thiệp của chính phủ sẽ dẫn đến hai ảnh hưởng chủ yếu:
Thứ nhất, ảnh hưởng của chính sách phân bổ tín dụng sai lầm của chính phủ
sẽ có xu hướng khuếch đại. Chính phủ muốn gây ảnh hưởng đối với hướng phát
triển và tăng trưởng của nền kinh tế, chính vì vậy xem xét sự kiểm sóat mạnh
thông qua hệ thống ngân hàng là cách hữu hiệu nhất. Những dự án được xem như
là hi vọng của quốc gia có thể sẵn sàng được huy động vốn bằng cách bổ sung
những ưu đãi thích hợp và biện pháp bắt buộc.
Thứ hai, việc vắng thị trường trái phiếu có qui mô lớn sẽ làm tăng thêm sự
bất hòan hảo trong bất kỳ hệ thống tài chính nào. Chính phủ luôn muốn ưu tiên
phân bổ tín dụng dẫn đến gánh nặng của việc cho các doanh nghiệp vay được đảm
nhận bởi hệ thống ngân hàng. Hệ thống ngân hàng qui mô lớn trở nên dồi dào
nguồn vốn, dẫn đến các tiêu chuẩn lỏng lẻo và những tiêu chuẩn đầu tư nới lỏng.
Những khoản vay vượt mức dẫn đến vượt mức khả năng sản xuất, làm cho súât
sinh lợi trên nguồn vốn đầu tư thấp hơn, làm cho nhiều khỏan tiền cho vay vựơt
quá khả năng chi trả và trở thành nợ xấu. Những vấn đề khó khăn về đạo đức, sự
bất hòan hảo, thiếu minh bạch về kế tóan và trong nhiều trường hợp việc đồng lõa
cùng chính phủ có thể trì hõan những phương pháp cần thiết mãi đến khi cuộc
khủng hỏang thực sự bùng nổ. Do đó khủng hỏang kinh tế có thể xảy ra bất cứ lúc
nào.
Thị trường trái phiếu có tiềm năng mở rộng nhanh trong vài năm đầu. Ở khía
cạnh cung, việc cải tổ mới được tiến hành bởi kế hoạch 5 năm bắt đầu vào năm
2006. Vấn đề này sẽ được tiến hành bởi việc chi tiêu công để xây dựng cơ sở vật
chất, đầu tư chủ yếu vào giáo dục và thiết lập hệ thống phúc lợi chung cũng hệ
thống hưu bổng chung. Việc huy động tài chính của các khoản nợ chung tăng theo
những trái phiếu không có tính thanh khoản với giá tương đối rẻ và bán những trái
phiếu có tính thanh khoản cao hơn. Hoạt động này làm cho thị trường trái phiếu
càng có tính thanh khoản hơn.
Một điều kiện trước tiên để thị trường trái phiếu phát triển là nó phải độc lập
với sự can thiệp của chính phủ. Những nhà đầu tư phải cảm thấy độc lập khi đưa
ra những quyết định của họ về tiêu chuẩn đơn thuần về kinh tế, như là lãi súât
mong đợi và rủi ro. Áp lực đối với nhà đầu tư trái phiếu hay giá cả trái phiếu dựa
trên chính sách ngành, cả trực tiếp và gián tiếp đều phải hiện diện.
Những thị trường trái phiếu chính phủ sâu và có tính thanh khoản sẽ cung
cấp một đường cong tỷ suất sinh lợi, đường cong này sẽ cung cấp điểm chuẩn cho
việc tái cân bằng danh mục năng động. Khi đa dạng hoá tài sản, lãi súât phi rủi ro
tại mỗi kỳ đáo hạn thiết lập một điểm chuẩn để định giá rủi ro tín dụng. Nhiệm vụ
đó được giảm để xác định phạm vi biên độ của khoản vay phi rủi ro tại mỗi kỳ đáo
hạn. Việc sử dụng các công cụ phái sinh tín dụng sẽ cho phép chia nhỏ biên độ
giữa các yếu tố cơ bản của rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro được
gắn với những hợp đồng cụ thể và thậm chí là khác nhau về thuế.
Phát triển thị trường trái phiếu cũng là một bước để liên kết thị trường vốn
trong nước với thị trường toàn cầu. Một thị trường trong nước hiệu quả là điều
kiện trước tiên cho giai đoạn kiểm soát vốn an toàn. Các ngân hàng thương mại sẽ
có thể cung cấp những công cụ phòng ngừa cho các hoạt động giao dịch nước
ngoài và giúp các nhà đầu tư dễ dàng hơn khi đa dạng hoá khi đầu tư ra nước
ngoài. Trái lại, sẽ có thể vay mượn ở nước ngoài bằng đồng nội tệ, giảm sự lệ
thuộc đồng USD. Với một tài khoản vốn đa dạng hoá và mở rộng hơn, sẽ có thể
chuyển đến một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn.
Tóm lại, thị trường trái phiếu một khi phát triển sẽ làm tăng sự minh bạch về
kế toán, xuất hiện nhiều nhà phân tích tài chính, những tổ chức đánh giá về tín
dụng, một phạm vi rộng về những chứng khoán nợ và những công cụ phái sinh đòi
hỏi phân tích tín dụng phức tạp, những thủ tục hiệu quả về tính thanh khoản và tái
cấu trúc doanh nghiệp khi công ty không có khả năng thanh toán khi đến hạn. Để
thị trường trái phiếu phát triển thì hệ thống báo cáo tài chính cho các công ty cần
nhuận cho ngân hàng. Đầu tiên, vấn đề: “đem lại kinh doanh tốt nhất” phát sinh rất
lớn là do cơ chế điều chỉnh có thể bị thay đổi. Nếu những ngân hàng bị buộc nắm
giữ khoản vốn vượt mức so với những khoản vay mang lại rủi ro thấp cho người
vay, điều này có thể làm cho những người vay có uy tín sẽ vay ở ngân hàng. Điều
này có thể không hiệu quả. Nó có thể làm tăng rủi ro hệ thống khi tập trung những
rủi ro nhiều về phía ngân hàng. Thứ hai, ngân hàng và thị trường vốn ngày càng có
nhiều mối quan hệ hơn.
Một vấn đề nữa là liệu rằng việc chuyển tiếp đến lãi súât trái phiếu thả nổi
theo thị trường có nghĩa là những rủi ro của ngân hàng liên quan đến những rủi ro
về lãi súât không phòng ngừa ngày càng tăng. Đây là vấn đề phản ánh việc thiếu
các công cụ phòng ngừa lãi suất ở những thị trường mới nổi.
Do đó, ta thấy hiện nay có nhiều nguyên nhân mà một tổ chức có thể phát
hành nợ hơn là cổ phiếu:
Nợ có thể là nguồn tiền huy động rẻ hơn là phát hành cổ phiếu.Bởi vì nó
tương đối an toàn, rủi ro đầu tư thấp, nhà đầu tư không mong đợi đạt được TSSL
cao như là khi đầu tư bằng cổ phiếu. Do đó, tổ chức sẽ trả ít lãi súât hơn là cổ tức.
Nợ không liên quan đến việc làm lõang việc sở hữu doanh nghiệp. Việc
phát hành nợ không cần phải thống nhất tất cả quyền biểu quyết của chủ sở hữu.
Phát hành nợ thì nhanh hơn là cổ phiếu.
Các tổ chức có thể hợp nhất kỳ hạn nợ phục vụ cho nhu cầu huy động vốn
của họ CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU Ở CÁC NƯỚC
2.1 Tổng quan thị trường trái phiếu châu Á:
Tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành của các quốc gia châu Á ( bao gồm ở cả
thị trường vốn quốc gia và quốc tế) tăng mạnh đạt gần 1100 tỷ USD vào cuối năm
2001, bằng hơn một nửa so với tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành ở tất cả các
quốc gia mới nổi. Tuy nhiên, giá trị trái phiếu đang lưu hành ở tất cả các quốc gia
phủ ở nhiều quốc gia đang phát triển được kiến nghị là cần bổ sung thêm nhiều
thước đo nữa để cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng thị trường, bao gồm cả việc thành
lập các nhà kinh doanh sơ cấp, nâng cao hoạt động giao dịch, hệ thống thanh toán
bù trừ. Hoạt động của thị trường thứ cấp được đo lường bằng khối lượng giao dịch
đã phát triển mạnh trong các năm gần đây. Sự phát triển của hoạt động giao dịch
trong thị trường thứ cấp là điều đáng chú ý nhất ở Malaysia và Hàn Quốc.
Mặc dù thị trường trái phiếu của châu Á đã có những bước phát triển đáng
khích lệ nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, nổi cộm nhất là các vấn đề các tiêu
chuẩn của một thị trường trưởng thành chưa phát triển: quy mô, thanh khoản, pha
loãng và độ sâu. Vấn đề chính vấp phải là một thị trường trái phiếu hiện đại đòi hỏi
các quy tắc chuẩn mực quốc tế tốt nhất trong phạm vi rộng ở các lĩnh vực liên quan.
Khung pháp luật và điều chỉnh cần được chuẩn hóa nhằm xây dựng nền tảng và hạ
tầng cơ sở thị trường, hỗ trợ thị trường phát triển như hoạt động repo, phái sinh
cũng như là sự hiện diện của các nhà đầu tư trưởng thành, có kinh nghiệm. Thực tế
thách thức chính đối với sự phát triển của thị trường trái phiếu châu Á là đạt đến
một mức cạnh tranh nhất định trên toàn diện các lĩnh vực, nhất là khi thị trường trái
phiếu châu Á thanh khoản không tốt, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp. Chúng vẫn
tồn tại gián đoạn và cô lập lẫn nhau, và trong trường hợp của Trung Quốc, với cùng
một quốc gia. Ở Trung Quốc, sự gián đoạn tồn tại giữa nhà đầu tư, các công cụ đầu
tư và cơ chế giao dịch. Nhà đầu tư ở một số các quốc gia không được phép được
đầu tư ra thị trường ngoài và nhà đầu tư quốc tế phải đối mặt với rất nhiều khó khăn
và chi phí cao trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá khi đầu tư vào các trái phiếu trong
nước. Đồng thời có rất nhiều tiêu chuẩn bị thiếu trong lĩnh vực ký hợp đồng trái
phiếu, hợp đồng bảo lãnh phát hành, các quy tắc thanh toán bù trừ, các quy định về
thị trường và thuế. Thiếu cả các vấn đề về sự minh bạch liên quan quản trị xung đột
doanh nghiệp, khó khăn trong việc định giá rủi ro tín dụng, sự chậm trễ trong việc
xây dựng văn hóa tín dụng. Cần phải nhận thức được sự ảnh hưởng của các yếu tố
này đến quyết định đầu tư, thay vì chỉ chăm chăm quan tâm đến vấn đề phân tích tín
dụng một cách nghiêm ngặt. Mặc dù tương quan thì một lượng lớn trái phiếu chính
phủ sẽ giúp tạo ra một tham số chuẩn ( benchmark) cho thị trường trái phiếu trong
20
40
60
80
100
120
1999 2000 2001 2002 2003 2004
Năm
tỷ RM
Tư nhân
Nhà nước
TỔNG LƯỢNG TRÁI PHIẾU ĐANG LƯU HÀNH
103
117
125
149
175
142
161
153
179
188
0
20
40
60
80
100
120
140
Tháng 4/2007, BNM đã xem lại hướng dẫn của mình đối với việc phát hành các
sản phẩm cấu trúc.
Trái phiếu theo kiểu đạo Hồi xuất hiện và đóng một vai trò lớn trong sự phát
triển thị trường vốn của Malaysia.
Cả thị trường trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ đều là những
thị trường năng động đối với cả khu vực thị trường trái phiếu truyển thống lẫn thị
trường trái phiếu đạo Hồi. Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài có thể mua và bán
các công cụ nợ truyền thống cũng như các công cụ nợ theo kiểu đạo Hồi thông qua
sàn giao dịch và thị trường phi tập trung (OTC).
Các quy định ở thị trường thứ cấp thường xuyên được nới lỏng. Các quy định
đối với việc phòng ngừa rủi ro được tự do hóa để cho phép các nhà đầu tư trong
nước và ngoài nước thuận tiện trong việc thực hiện các hợp đồng về phòng ngừa rủi
dưới sự cho phép của các ngân hàng ngoài nước. Ở Malaysia, hầu hết các chứng
khoán đều không phải là chứng khoán tạm thời, với hệ thống chuyển nhượng chứng
Tỷ lệ tăng trưởng
1999 2000 2001 2002 2003 2004
%
0 62.5 41.7 26 24.8 12.6
khoán tự động thông qua hệ thống chuyển nhượng tự động các quỹ và chứng khoán
ngay tại chỗ của BNM. Các hướng dẫn thực hiện chuyển nhượng được thực hiện
dựa trên nền tảng “trade-by- trade”. Năm 2005, BNM và Chính quyền tiền tệ Hồng
Kông đã thiết lập kết nối hệ thống thanh toán giá trị lớn giữa Malaysia và Hồng
Kông , Trung Quốc. Việc hệ thống chuyển nhượng tự động các quỹ và chứng khoán
của BNM ngay tại chỗ và hệ thống thanh toán ròng ngay tại chỗ bằng đồng đô la
Mỹ của Hồng Kông, Trung Quốc kết nối với nhau là sự kết nối về thanh toán vượt
biên giới ( payment- versus payment) trong khu vực.
Năm 2006, BNM đã thành lập trung tâm thông tin trái phiếu - một trung tâm chứa
đựng tất cả các thông tin về trái phiếu ở Malaysia. Việc thực hiện chứng khoán
hóa ở Malaysia được thực hiện bắt đầu từ năm 1986 khi chính phủ thành lập Công
ty Cầm cố quốc gia ( Cagamas), Chủ thể phát hành các công cụ chứng khoán hóa
khỏan. Điều này dẫn đến SGS bao gồm chỉ số trái phiếu chính phủ thế giới của JP
Morgan cũng như chỉ số hợp nhất tòan cầu của Lehman Brother. Vào tháng 1 năm
2005, Singapore đã trở thành quốc gia chấu Á đầu tiên ngoài Nhật Bản để tham
gia vào chỉ số trái phiếu chính phủ tòan cầu - Citigroup World Government Bond
Index , đó chính là dấu hiệu về sự phù hợp của SGS đối với những nhà đầu tư trên
tòan cầu.
Thị trường nợ DN của Singapore cũng phát triển mạnh sau thị trường trái
phiếu chính phủ (đồ thị C). Nợ DN chưa trả vào năm 2004 là 123 tỷ S$, gấp 5 lần
khỏang nợ vào năm 1995. Tổng phát hành trái phiếu DN vào năm 2004 là 78.7 tỹ
S$, trong đó 21.7 tỷ S$ là nợ SGD và 57 tỷ S$ bằng các đồng tiền khác. Những
phương pháp để tự do hóa chính sách phi quốc tế của đồng tiền Singapore dẫn đến
việc phát hành ra nước ngòai chiếm nhiều hơn 11% tổng phát hành nợ DN vào
năm 2004.
Singapore cũng có kinh nghiệm về sự đa dạng hóa nhiều hơn những nhà phát
hành trong thị trường. Trước năm 1998, những công ty kinh doanh bằng tài sản
thật thì phát triển hơn thị trường trái phiếu DN SGD, chiếm khỏang 70% tổng
phát hành. Bây giờ, tập hợp những người phát hành thì trở nên cân đối hơn (đồ
thị D). Những nhà phát hành từ các ngành khác nhau như cơ khí, sản xuất, thức
ăn,logistics và vận tải.
Sự phát triển của thị trường nợ cấu trúc
Một trong những xu hướng quan trọng mà chúng ta đang xem xét là sự phát
triển của các sản phẩm nợ cấu trúc. Theo TSSL quá khứ thấp đối với các CK
vanila thuần nhất, tỷ lệ các phát hành có cấu trúc so với các phát hành vanilla
thuần nhất tăng dần. Để tạo điều kiện cho sự phát triển các sản phẩm có cấu trúc
như là 1 dạng thay thế của huy động tài chính, chỉ dẫn về những chứng khoán thế
chấp cho các ngân hàng vào năm 2002. Để phát triển nhà đầu tư, chúng ta cũng
giới thiệu những chỉ dẫn đầu tư cho các công ty bảo hiểm, cho phép họ đầu tư vào
công cụ phái sinh tín dụng để phòng ngừa và quản lý danh mục.
Nợ cấu trúc chiếm gần như 60% tổng phát hành nợ SGD vào năm 2004. Nó bao
gồm các sản phẩm như là nợ chứng khoán hoá tài sản, nợ liên quan đến tín dụng,
CHƯƠNG 3
MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT
NAM
3.1 Tồn tại của thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay:
Thị trường trái phiếu Việt Nam gồm trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh
nghiệp, trái phiếu chính quyền địa phương, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi
và các chứng khoán nợ có giá trị. Bên cạnh đó, thị trường vốn Việt Nam vẫn được
xem là nhỏ về qui mô cũng như chưa có sự chuẩn hoá. So với Malaysia, Việt Nam
có tốc độ tăng trưởng GDP khá ổn định, có xu hướng càng tăng so với các nước
trong khu vực cũng như thị trường chứng khoán hiện nay đang có nhiều biến
động, chính vì thế trái phiếu trở nên thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, như là một
kênh tiềm năng để đẩy mạnh phát triển thị trường vốn không chỉ trong khu vực
chính phủ mà còn cho khu vực tư nhân:
Đóng góp của từng trái phiếu như sau
Bảng: Quy mô đóng góp trong GDP của trái phiếu
Biểu đồ thể hiện quy mô trái phiếu
với % GDP năm 2007
0
2
4
6
8
10
12
14
16
quý 1 quý 2 quý 3 quý 4
Qúy
Quy mô trái phiếu trong GDP
Trái phiếu doanh nghiệp