Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm tổ chức hiệu quả hình thức học nhóm môn Khoa học lớp 4 - Pdf 23

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO QUẬN HOÀNG MAI
TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN ĐỊNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM TỔ CHỨC HIỆU QUẢ
HÌNH THỨC HỌC NHÓM MÔN KHOA HỌC LỚP 4
Lĩnh vực : Đổi mới dạy học môn Khoa học
Tên tác giả : Nguyễn Thị Tuyết
Chức vụ : Giáo viên
Năm học 2013 - 2014
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang sống trong một thế giới biến đổi. Trước hết phải kể đến
những biến đổi về thông tin. Các nhà khoa học cho biết, cứ khoảng 10 năm thì
số lượng thông tin, kiến thức của nhân loại lai đựoc tăng lên gấp đôi. Do đó nảy
sinh một vấn đề là lựa chọn nội dung dạy học trong nhà trường tiểu học sao cho
cập nhật hoá để theo kịp sự phát triển của xã hội. Để tiếp cận xu thế hiện đại đó,
ngành giáo dục nước ta đang có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp dạy
học nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục tiểu học: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp
học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục
học trung học cơ sở.” (Luật giáo dục)
Đối với học sinh lớp 4, môn khoa học là một môn học mới đối với các
em. Môn học này bước đầu giúp các em hiểu được về thế giới xung quanh: Vì
sao lại thế? Sao không thế này mà lại là thế kia? Để giúp các em tham gia, phát
hiện, tạo được tri thức cho riêng mình thì người giáo viờn phải sử dụng linh hoạt
các hình thức tổ chức dạy học, đặc biệt là học theo nhóm để phát huy trí lực của
học sinh. Hơn nữa, học theo nhóm còn tạo bầu không khí hợp tác học tập giữa
các thành viên trong nhóm. Khi trao đổi các em được nêu ý kiến riêng của mình,
được thực hiện những nhiệm vụ cụ thể để hoàn thành công việc của nhóm. Yếu
tố quan trọng quyết định sự thành công của hoạt động nhóm chính là cá nhân

Môn khoa học lớp 4 nhằm giúp học sinh:
• Có một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:
- Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người.
Cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm.
- Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật, thực vật.
- Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng
lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất.
• Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng:
- Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức
khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng.
- Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành đơn giản, gần gũi với đời
sống,sảnxuất
- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để giải
đáp, biết diễn đạt những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ,…
- Phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng của một số sự
vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên.
• Hình thành và phát triển những thái độ, hành vi:
4
- Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và
cộng đồng.
- Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã học
vào đời sống.
- Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp. Có ý thức và hành
động bảo vệ môi trường xung quanh.
III. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI DẠY HỌC THEO NHÓM.
1. THUẬN LỢI:
- Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa. Sách giáo khoa trình bày hợp lí cả
về kênh chữ lẫn kênh hình.
- Học sinh thích tìm tòi, khám phá. Các em rất vui khi tự mình tham gia
khám phá tri thức thông qua hoạt động nhóm như thực hiện thí nghiệm, trò

phối hợp với các bạn khác. Nhưng để đạt được những ưu điểm này thì người
giáo viên phải là người dẫn dắt, gợi mở, kích thích học sinh hứng thú tìm tòi,
khám phá. Muốn vậy, trước hết người giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ bài dạy,
lập phiếu học tập (hoặc phiếu giao việc) phù hợp, soạn bài trước khi lên lớp để
chủ động trong mọi tình huống, có kế hoạch chia nhóm ở từng hoạt động,Với
bản thân, tôi đã làm như sau:
1/ Nghiên cứu bài dạy
a) Đọc kĩ tài liệu:
Để có thể hướng dẫn học sinh hoạt động nhóm có hiệu quả trên cơ sở
phiếu học tập, phiếu giao việc, tôi thường nghiên cứu bài dạy một cách cẩn thận
như đọc sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu có liên quan để nắm được
yêu cầu, nội dung trọng tâm của tiết dạy.
Các tài liệu mà tôi thường sử dụng tham khảo như:
- Sách giáo khoa
- Sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng.
- Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 4 (Tập II- NXB Giáo dục)
- Một số tạp chí của ngành như: Thế giới trong ta, Giáo dục tiểu học, Giáo
dục Thủ đô.
6
b) Sắp xếp nội dung kiến thức:
Sau khi đã nắm kĩ được nội dung kiến thức cần truyền đạt đến học sinh
(HS), tôi đã suy nghĩ để sắp xếp các kiến thức này sao cho có trình tự hợp lý,
phù hợp với nhận thức của HS (từ đơn giản đến phức tạp) và các thao tác của
giáo viên (GV) được thuận lợi, đảm bảo đủ thời gian. Từ đó xây dựng phiếu học
tập (hoặc phiếu giao việc) hợp lí. Có những phiếu giao việc các em phải làm
trước ở nhà (Ví dụ phiếu giao việc chuẩn bị các vật liệu để tiến hành thí nghiệm
lọc nước- Bài “Một số cách làm sạch nước” hay phiếu giao việc “Theo dõi và
ghi lại tên thức ăn đồ uống của bạn trong một tuần”- Bài “Ôn tập: Con người và
sức khoẻ”)
c)Chuẩn bị đồ dùng dạy học.

thành công ở mức độ nào? Những trục trặc gì có thể xảy ra khi làm thí
nghiệm? Từ đó có kế hoạch phân bố thời gian hợp lí, khắc phục những trục trặc
có thể xảy ra.
Ví dụ: Khi chuẩn bị bài “Vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt” tôi đã làm thử
thí nghiệm về tính cách nhiệt của không khí như sách giáo khoa với đồ dùng là:
2 chiếc cốc như nhau, 2 tờ báo, phích nước nóng và 2 nhiệt kế. Tôi đã tiến hành
thí nghiệm như sau:
+ Lấy một tờ báo quấn chặt vào cốc thứ nhất rồi lấy chun vòng buộc cho
chặt.
+ Lấy tờ báo còn lại làm nhăn và quấn lỏng vào cốc thứ hai để có nhiều
chỗ chứa không khí giữa các lớp giấy.
+ Đổ vào hai cốc một lượng nước nóng như nhau.
+ Sau thời gian khoảng 3 phút tôi dùng hai nhiệt kế đo nhiệt độ của hai
cốc nước thì thấy nhiệt độ của cốc nước quấn giấy báo đã làm nhăn (cốc 2) lại
thấp hơn nhiệt độ của nước ở cốc quấn báo chặt (cốc 1). Theo nguyên lí thì điều
này là không đúng bởi lớp không khí giữa các lớp giấy báo có vai trò cách nhiệt
nên lẽ ra nước ở cốc 2 phải nóng hơn ở cốc 1 mới đúng. Vậy là thí nghiệm
không thành công. Tìm hiểu nguyên nhân, thì ra là do nhiệt kế có thể do đã cũ
hoặc do chất lượng không đảm bảo nên đã cho kết quả không chính xác. Để
khắc phục điều này tôi đã thử đi thử lại nhiều lần để chọn ra những cặp nhiệt kế
8
cho kết quả tương đồng để giao cho các nhóm thí nghiệm. Vì chỉ chọn đựoc 3
cặp nên tôi đã tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm theo tổ.
Qua ví dụ này tôi muốn khẳng định lại một điều là việc làm thử thí
nghiệm trước khi lên lớp thật quan trọng biết bao. Giả sử hôm ấy tôi không làm
thử thí nghiệm thì chuyện gì sẽ xảy ra nếu chẳng may một nhóm HS nào đó đo
nhiệt độ lậi thấy nước ở cốc 1 lại nóng hơn nước ở cốc 2. Và nếu vậy thì làm sao
rút ra được kết luận về tính cách nhiệt của không khí theo mục tiêu của bài học.
Kết quả : Nhờ nghiên cứu bài dạy, làm trước thí nghiệm nên tôi chủ động
được trong mọi tình huống khi học sinh tiến hành thí nghiệm, thảo luận nhóm,

4
5
6
7
Ví dụ 2: Bài “Nước có những tính chất gì?”
Phiếu học tập của hoạt động 5: Phát hiện nước có thể hoặc không thể hoà
tan một số chất. (Dành cho nhóm 4)
+ Cách tiến hành: Cho lần lượt muối, đường, cát vào 3 cốc nước và
khuấy.
+ Quan sát 3 cốc và nêu nhận xét: Chất nào tan, chất nào không tan trong
nước, đánh dấu x vào bảng:
Chất Tan trong nước Không tan trong nước
Muối
Đường
Cát
3/ Soạn bài
Với tôi khi soạn xong một bài dạy môn Khoa học thì coi như đã thành
công đến một nửa công việc cần làm. Khi soạn một giáo án Khoa học tôi rất chú
trọng những điều sau:
- Xác định rõ mục tiêu, của tiết dạy (cả về kiến thức, kĩ năng, thái độ).
Từ đó có kế hoạch chia thành các hoạt động hợp lí với những mục tiêu riêng để
đảm bảo mục tiêu chung của tiết học.
- Giới thiệu bài ngắn gọn, có thể sử dụng những câu hỏi gợi trí tò mò,
lôi cuốn học sinh vào con đường tìm hiểu tri thức.
10
- Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học
phù hợp với nội dung bài học.
- Tuỳ từng bài dạy có thể khởi động hoặc củng cố bằng những trò chơi
nhẹ nhàng, vui, tạo hứng thú học tập cho HS.
Ví dụ: Khi dạy bài “Tại sao có gió?”, tôi đã dẫn dắt HS vào bài bằng một

Dạy học hợp tác trong nhóm bao gồm các bước sau:
- Chuẩn bị:
+ Tổ chức các nhóm.
+ Giao nhiệm vụ cho từng nhóm (có thể cụ thể tới từng HS).
+ Hướng dẫn cách làm việc của các nhóm (có thể thông qua việc bồi
dưỡng các nhóm trưởng).
- Làm việc theo nhóm.
+ Từng cá nhân làm việc độc lập, theo sự phân công của nhóm. Ví dụ các
các nhân phải quan sát kĩ một bức tranh hay một mẫu vật hay thực hiện một
nhiệm vụ nào đó. (Bước này có thể xẩy ra hoặc không xẩy ra khi các thành viên
trong nhóm cùng làm việc chung hoặc thảo luận nhóm luôn).
+ Tập hợp các kết quả làm việc của từng cá nhân để thành sản phẩm
chung của nhóm hoặc thảo luận về những gì từng cá nhân đã quan sát được.
Việc thảo luận nhóm phải thực sự có sự tham gia của mọi thành viên, thể hiện.
• Các em phải nói với nhau.
• Nghe lẫn nhau.
• Đáp lại điều bạn khác nói.
• Đưa ra ý kiến riêng của mình.
+ Các nhóm có thể dời chỗ, đi lại quan sát kết quả của nhóm bạn. Các
hoạt động này giúp HS học tập kinh nghiệm lẫn nhau giữa các nhóm. (Bước này
có thể xẩy ra, có thể không xẩy ra và chuyển ngay sang làm việc chung cả lớp).
+ Trong quá trình các nhóm hoạt động, GV cần theo dõi và hướng dẫn,
uốn nắn kịp thời.
- Làm việc chung cả lớp.
+ Đại diện các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.
+ Các nhóm khác bổ sung, góp ý…
12
+ GV kết luận.
Để tổ chức hình thức học nhóm tôi đã thực hiện tốt một số biện pháp sau:
4.1 Xây dựng nhóm, đặt tên nhóm

phối hợp tự giác, nhịp nhàng, ăn ý và có chất lượng thì tôi tạo cơ hội cho những
thành viên còn lại trong nhóm tập làm nhóm trưởng và thư kí. Điều đó giúp cho
hầu hết HS trong các nhóm đều có cơ hội rèn các kĩ năng điều hành, hợp tác và
kĩ năng tự hoạt động.
4.3 Sắp xếp chỗ ngồi cho các đối tượng HS trong nhóm
Để tạo điều kiện HS có thể giúp đỡ nhau, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ
học tập, khi sắp xếp chỗ ngồi cho HS, tôi chú xếp sao cho các đối tượng HS xen
kẽ nhau:
-HS khá, giỏi với HS trung bình, yếu.
- HS nam với HS nữ.
- HS mạnh dạn, tự tin với HS nhút nhát, tự ti.
- HS có khả năng diễn đạt tốt với HS có khả năng diễn đạt yếu.
Với việc sắp xếp như vậy sẽ giúp cho GV thuận tiện khi chia nhóm.
Trong mỗi nhóm có đủ các đối tượng HS, các đối tượng này sẽ bổ sung cho
nhau, khắc phục được những hạn chế, phát huy được những mặt mạnh.
4.4 Qui trình tiến hành hình thức dạy học theo nhóm.
* Bước1: - Chia nhóm, chỉ định hoặc bầu nhóm trưởng, thư kí (nếu cần)
- Nêu yêu cầu, nhiệm vụ thảo luận cho cả lớp ( nếu nhiệm vụ chung) hoặc
từng nhóm (nếu nhiệm vụ riêng), phát phiếu giao việc.
- Gợi ý, định hướng cách thảo luận.
* Bước 2:- Các nhóm tự hoạt động: Bầu nhóm trưởng, thư kí (nếu bước 1
chưa chỉ định hoặc bầu), các thành viên trong nhóm nêu ý kiến của mình và
cùng bàn bạc, trao đổi đi đến ý kiến thống nhất chung, thư kí ghi kết quả thảo
luận (nếu cần)
- GV bao quát, giúp đỡ.
* Bước 3: - Các nhóm báo cáo kết quả thảo luận, các nhóm khác nhận xét,
bổ sung, điều chỉnh (nếu có).
- GV điều chỉnh, bổ sung, kết luận.
14
Chú ý:

- Trình bày được sự phối hợp hoạt động của các cơ quan tiêu hoá, hô hấp,
tuần hoàn, bài tiết trong việc thực hiện sự trao đổi chất ở bên trong cơ thể và
giữa cơ thể với môi trường.
* Về thái độ:
- Có ý thức bảo vệ, giữ gìn các cơ quan tham gia vào quá trình trao đổi
chất để cơ thể khoẻ mạnh.
II. Đồ dùng dạy học
- Hình trang 8, 9 (SGK)
- Phiếu học tập ( dùng cho nhóm đôi, một phiếu phóng to vào giấy khổ
A2):
Quan sát các hình ở trang 8 SGK, hãy:
+ Nói tên và chức năng của từng cơ quan. Trong các cơ quan đó, cơ quan
nào trực tiếp thực hiện quá tình trao đổi chất với môi trường bên ngoài.
+ Ghi những nội dung còn thiếu vào chỗ trống trong các ô sau:
Tranh
số
Lấy vào
Cơ quan trực tiếp thực hiện
quá trình trao đổi chất giữa
cơ thể với môi trường
Thải ra
… Thức ăn,
nước uống
……… …….
…… ……… ………. Khí các- bô- nic
… Bài tiết nước tiểu ……
- 5 bộ đồ chơi “Ghép chữ vào chỗ … trong sơ đồ” (như SGK trang 9) và
5 bộ thẻ cài có ghi các từ: Chất dinh dưỡng, ô xi, khí các- bô- níc, ô xi và các
chất dinh dưỡng, khí các- bô- níc và các chất thải, các chất thải.
THỨC ĂN

* Hoạt động 1: Xác định những cơ quan trực tiếp tham gia vào quá
trình trao đổi chất ở người. (15 phút)
- Mục tiêu:
+HS kể tên những biểu hiện bên ngoài của quá trình trao đổi chất và
những cơ quan thực hiện quá trình đó.
17
Tuần hoàn
Bài tiếtTất cả các
cơ quan
của cơ thể
+ Nêu được vai trò của cơ quan tuần hoàn trong quá trình trao đổi chất
xảy ra ở bên trong cơ thể.
+ Nêu được cách giữ gìn, bảo vệ các cơ quan tham gia vào quá trình trao
đổi chất.
- Cách tiến hành:
- Phát phiếu học tập
- Gv giao nhiệm vụ : Quan sát hình trang 8 SGK
và thảo luận nhóm “Hai bàn tay”
- Gọi HS đọc yêu cầu thảo luận trong phiếu
- GV định hướng cách thảo luận: Trước hết các
em hãy chỉ vào từng hình ở trang 8 SGK, nhớ lại
các kiến thức đã học ở lớp 3, nói tên và chức
năng của từng cơ quan, sau đó các em hãy thảo
luận xem cơ quan nào trực tiếp tham gia vào quá
trình trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường
bên ngoài rồi ghi những nội dung còn thiếu vào
phiếu học tập. Thời gian thảo luận là 5 phút.
- GV kiểm tra, giúp đỡ các nhóm.
- Gọi 1 cặp làm bài vào phiếu khổ lớn trình bày
kết quả thảo luận của nhóm, sau đó yêu cầu các

chúng ta cần ăn uống như thế nào?
-GV: Vừa rồi chúng ta đã xác định được 3 cơ
quan tham gia trực tiếp vào quá trình trao đổi
chất với môi trường bên ngoài đó là hô hấp, tiêu
hoá và bài tiết nước tiểu. Vậy còn cơ quan tuần
hoàn (chỉ hình 3) có tham gia vào quá trình trao
đổi chất không? Nó tham gia như thế nào?
- GV kết luận về những biểu hiện bên ngoài của
quá trình trao đổi chất, các cơ quan thực hiện
quá trình đó, vai trò của cơ quan tuần hoàn trong
quá trình trao đổi chất và nhấn mạnh: Cơ quan
tuần hoàn không trực tiếp tham gia vào quá trình
trao đổi chất với môi trường bên ngoài mà nó
tham gia vào quá trình trao đổi chất diễn ra ở
bên trong cơ thể.
- GV chuyển ý sang hoạt động 2: Bốn cơ quan
chúng ta vừa học đóng vai trò quan trong quá
trình trao đổi chất. Các cơ quan này có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau thế nào? Nếu 1 trong 4 cơ
quan mà ngừng hoạt động thì cơ thể sẽ ra sao?
Chúng ta cùng tìm hiểu về mối quan hệ này qua
- Cơ quan tiêu hoá.
- Ăn chậm, nhai kĩ, ăn uống
hợp vệ sinh, ăn xong nên
nghỉ ngơi, không chạy nhảy,

- Thải ra nước tiểu
- Không ăn quá mặn, uống
nhiều nước,…
- HS nêu theo ý hiểu của

(?) Hàng ngày, cơ thể lấy những gì từ môi trường
và thải ra môi trường những gì?
(?) Nhờ cơ quan nào mà quá trình trao đổi chất
- Nhận sơ đồ và thẻ, vào vị
trí.
- Nghe hướng dẫn.
- Nghe hiệu lệnh và bắt đầu
chơi.
- Mỗi nhóm chọn 1 HS
- Cử 2 đại diện trình bày.
Các nhóm khác theo dõi,
nhận xét, bổ sung.
- Lấy vào…
Thải ra…
- Cơ quan tuần hoàn
20
bên trong cơ thể được thực hiện?
(?) Điều gì sẽ xảy ra nếu một trong các cơ quan
tham gia vào quá trình trao đổi chất ngừng hoạt
động?
- GV kết luận: Như mục Bạn cần biết (Trang 9
SGK) và nhắc nhở HS cách giữ gìn, bảo vệ các
cơ quan để cơ thể được khoẻ mạnh.
* Củng cố (1-2 phút)
(?) Những cơ quan nào trực tiếp tham gia vào
quá trình trao đổi chất?
(?) Cơ quan tuần hoàn có nhiệm vụ gì?
(?) Điều gì sẽ xảy ra nếu một trong các cơ quan
ngừng hoạt động?
Liên hệ: Vậy các em phải làm gì để quá trình

trao đổi với đồng nghiệp, đọc sách báo, cập nhật thông tin qua mạng Internet để
mở mang kiến thức.
7. Kết hợp các phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học
hợp lí.
8. Nên trình bày bảng một cách khoa học để HS có thể ghi nhớ ngay nội
dung bài.
V. KẾT QUẢ:
Qua nhiều năm được phân công giảng dạy ở lớp 4, lớp do tôi chủ nhiệm
luôn đạt chất lượng cao trong việc học tập môn Khoa học. HS lớp tôi rất yêu
thích môn học, thích thú khi được làm thí nghiệm và thực hiện các phiếu giao
việc một cách hào hứng, nhờ đó kết quả học tập môn Khoa học được nâng cao.
Sau đây là kết quả đánh giá môn Khoa học của HS hai năm học mà tôi đã
tiến hành thử nghiệm:
Năm học Lớp Sĩ số Loại Giỏi Loại Khá Loại TB
2011 - 2012 (cả năm) 4G 46 35 11 0
2013 - 2014 (HKI) 4A6 56 48 8 0
22
C. PHẦN KẾT
Đối với môn Khoa học thì hình thức dạy học theo nhóm là một hình thức
thường được các GV lựa chọn sử dụng trong các giờ học. Nhưng lựa chọn rồi tổ
chức thế nào để đạt hiệu quả thì mỗi người lại có những cách làm riêng. Dù thế
nào đi chăng nữa thì tất cả đều có chung một mong muốn là giúp HS lĩnh hội
được kiến thức một cách dễ dàng, phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS,
bước đầu giúp các em trở thành những con người phát triển toàn diện, có tri
thức, năng động, tự chủ trong mọi công việc.
Những biện pháp mà tôi đã trình bày ở trên chỉ là kinh nghiệm của bản
thân khi tổ chức hình thức dạy học theo nhóm và đã đạt hiệu quả. Tuy nhiên
trong phần trình bày chắc hẳn khó tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong sự
đóng góp ý kiến từ các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp để “kinh nghiệm”
này được hoàn thiện hơn.

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status