Nghiên cứu đặc điểm tổn thương ở tim, thận, mắt ở bệnh nhân THA nguyên phát có rối loạn glucose máu lúc đói - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thời kỳ sinh đẻ xảy ra nhiều thay đổi về giải phẫu, sinh lý và tâm lý
trong đời sống của người phụ nữ. Giai đoạn này đòi hỏi người phụ nữ phải thích
nghi cả về mặt cơ thể và tâm thần. Ở đa số phụ nữ các diễn biến trên là một quá
trình liên tục, thích ứng dần nên không có những phản ứng nặng nề về cơ thể và
tâm lý. Ở một số phụ nữ khác những thay đổi này có thể làm xuất hiện một số
bệnh lý ở các mức độ khác nhau trong đó có rối loạn tâm thần sau sinh [1].
Theo Victoria Hendrick (2006) [2], phụ nữ có nguy cơ lớn nhất xuất
hiện một rối loạn tâm thần trong độ tuổi từ 18- 45. Nhiều phụ nữ có thể biểu
hiện một bệnh lý tâm thần trong lúc họ đang mang thai hoặc cho con bú.
Thường gặp là các rối loạn trầm cảm và lo âu.
Trầm cảm sau sinh gặp tương đối phổ biến trong thời kỳ sau sinh, là
một rối loạn cảm xúc nghiêm trọng ảnh hưởng đến phụ nữ ở mọi nền văn hóa.
Trầm cảm sau sinh có thể gây ra những tác động xấu đến sức khỏe của người
mẹ, cũng như mối quan hệ của người mẹ với các thành viên trong gia đình.
Mặt khác còn làm giảm sự gắn kết giữa người mẹ và đứa trẻ, ảnh hưởng xấu
đến sự phát triển thể chất, cảm xúc, tâm lý, cũng như trí tuệ của trẻ sau này.
Nặng hơn nữa người mẹ có thể có hành vi hủy hoại bản thân và trẻ sơ sinh.
Các nghiên cứu có đối chứng cho thấy từ 10- 28% phụ nữ có một giai đoạn
trầm cảm điển hình sau sinh, với đa số nghiên cứu cho tỷ lệ 10% [3].
Loạn thần sau sinh thì ít gặp hơn, chỉ chiếm 1- 2/1000 trường hợp sinh
đẻ trên toàn thế giới, nhưng là một rối loạn nặng nề nhất. Loạn thần sau sinh
ảnh hưởng đến các bà mẹ trong mọi xã hội, văn hóa, tôn giáo, dân tộc, và các
tầng lớp kinh tế xã hội. Triệu chứng khởi phát thường đột ngột, nặng, không
có dấu hiệu báo trước và gần như tất cả các trường hợp đều cần thiết phải
nhập viện. Loạn thần sau sinh là một bệnh lý gây hậu quả nghiêm trọng cho
người phụ nữ và gia đình của họ; 4% những người phụ nữ đã trải qua loạn
thần sau sinh từng liên quan đến việc tự tử và tăng nguy cơ giết trẻ sơ sinh
2
(Spinelli, 2004). Có nguy cơ cao xuất hiện các bệnh tâm thần về sau (có hoặc

phòng tránh cơn co tử cung.
+ Estrogen:
Có 3 loại Estrogen đó là Estrone, Estradiol và Estriol. Trong khi có thai
nồng độ Estrone và Estradiol tăng khoảng 100 lần so với mức bình thường,
còn Estriol tăng khoảng 1000 lần. Estriol có vai trò quan trọng trong bảo vệ
và phát triển của thai. Nồng độ Estrogen và Progesterone tăng dần lên trong
quá trình thai nghén, đạt mức cao nhất vào tháng cuối thời kỳ thai nghén.
Trước khi chuyển dạ khoảng 2 tuần nồng độ Progesteron giảm xuống và
Estrogen có tác dụng làm cổ tử cung mềm và mở ra.
* HCG (Human chorionic gonadotropin) Hormon hướng sinh dục rau thai.
HCG được nguyên bào nuôi của tổ chức rau thai tiết ra rất sớm, 6- 8
ngày sau khi thụ thai lượng HCG trong cơ thể đã có thể phát hiện được. HCG
có tác dụng giống LH của tuyến yên.
4
* HPL(Human placental lactogen) – Kích nhũ tố rau thai
HPL được sản xuất bởi rau thai từ rất sớm (khoảng 3 tuần sau khi thụ
thai đã có trong huyết thanh của mẹ). Trong cơ thể mẹ nó có tác dụng kích
thích tiết insulin và có vai trò như hormon tăng trưởng của thai nhi.
* Prolactin
Prolactin được sản xuất bởi tuyến yên của thai nhi, tuyến yên của người
mẹ và tổ chức màng rụng của tử cung. Prolactin có tác dụng phát triển tuyến
vú và chuẩn bị cho tiết sữa sau sinh.
* Các tuyến nội tiết khác
+ Tuyến yên : Trong khi có thai tuyến yên to lên khoảng 35% so với khi
không có thai. Nồng độ hormone phát triển (GH) tăng nhẹ mặc dù HPL có rất
nhiều trong máu. Nồng độ Prolactin cũng tăng đáng kể, gấp 10 lần so với
người không có thai.
+Tuyến giáp trạng: Tuyến giáp cũng to lên trong khi có thai do tăng
sinh mạch máu và tăng sản tuyến. Chuyển hóa cơ bản tăng.
+ Tuyến thượng thận: Nồng độ Corticoid trong huyết tương tăng đáng

1.2.1. Thay đổi về tâm lý ở phụ nữ khi có thai [10], [11], [12],[13].
Ngoài việc thay đổi về hình thể và sinh lý, mang thai còn là một hiện
tượng phức tạp bao gồm các thay đổi về tâm lý, xã hội. Mang thai, đặc biệt
lần đầu tiên là một biến đổi tâm lý mạnh mẽ [9]. Theo Finket(1996), chính do
nội tiết tố trong cơ thể phụ nữ thay đổi đột ngột đặc biệt là Estrogen đã làm cho
cảm xúc của người phụ nữ thay đổi thất thường, nhanh chóng. Nhiều khi họ trở
nên khó tính, cố chấp, hay phản ứng thái quá với những vấn đề nhỏ nhoi… Họ
cũng trở nên nhạy cảm hơn, dễ khóc hơn, tâm trạng buồn vui lẫn lộn.
6
- Ở quý I: Mang thai thường đi kèm với nhiều lo lắng, căng thẳng đặc
biệt là mang thai lần đầu. Nhiều phụ nữ lo lắng khi thai nhi cử động trong tử
cung vì họ không biết rằng đấy là dấu hiệu của thai hoàn toàn khỏe mạnh. Lo
lắng ăn uống thế nào để tốt cho thai nhi, khi trẻ ra đời có làm thay đổi cuộc
sống, mối quan hệ xung quanh mình hay không, hoặc lo sợ sảy thai, thai chết
lưu Ngoài ra người phụ nữ mang thai còn có thể có biểu hiện mệt mỏi,
buồn nôn, đau đầu, đau lưng, tiểu tiện rắt, táo bón, hay sợ một số mùi hoặc
thức ăn nhất định…
- Ở quý II: Những mệt mỏi, căng thẳng lo âu đã giảm đi nhưng họ lại
phải lo lắng cho việc chuẩn bị cho sự ra đời của đứa trẻ, liệu đứa trẻ có phát
triển bình thường, liệu mình có sinh đúng kỳ hạn
- Trong quý III: Một số phụ nữ lại thấy chán nản về hình ảnh của cơ thể
mình. Họ thấy mình không còn hấp dẫn nữa, thấy mình đang xấu đi, hay lo
sợ cho sự xuất hiện của trẻ, lo sợ cho cuộc chuyển dạ của bản thân…
1.2.2. Thay đổi về tâm lý ở phụ nữ sau sinh [14],[15].
Sau sinh đời sống tinh thần của người phụ nữ có nhiều thay đổi. Biểu
hiện rõ nhất của sự biến đổi tâm lý của người phụ nữ sau sinh là dễ xúc động,
dễ khóc, dễ tủi thân…Đặc biệt, người mẹ phải làm quen với trách nhiệm và
nghĩa vụ mới với trẻ cũng như những xáo trộn trong các mối quan hệ, trong
sinh hoạt hàng ngày…
- Lo sợ là cảm giác gặp ở hầu hết các bà mẹ như lo sợ trẻ ăn chưa no, sợ

tỷ lệ hiện mắc chung của trầm cảm sau sinh là 13%. [17].
8
Còn theo tác giả Benjamin J. Sadock (2000) [10], Shelley Doucet (2012)
[3] cũng như nhiều tác giả khác cho thấy loạn thần sau sinh hiếm gặp hơn so
với trầm cảm sau sinh, chỉ chiếm tỷ lệ 1- 2/1000 trường hợp sinh đẻ.
Ở Việt nam chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Hiện có một số
nghiên cứu về TCSS, chủ yếu được tiến hành tại một số bệnh viện phụ sản
của TP Hồ Chí Minh như nghiên cứu của Lê Quốc Nam năm 2002 trên 321
sản phụ đã sinh tại Bệnh viện Từ Dũ đến tái khám vào tuần thứ 4 sau sinh cho
thấy tỷ lệ TCSS là 12,5% [26]. Nghiên cứu của Lương Bạch Lan năm 2008
tại bệnh viện Hùng Vương trên 290 sản phụ (có con gửi vào dưỡng nhi tuần
thứ 4 đến tuần thứ 6 sau sinh) cho thấy tỷ lệ TCSS là 11,6% [27].
1.3.2. Bệnh nguyên
Hypocrate cho rằng nguyên nhân là do”lưu lượng máu lên não quá
mức”. Theo quan niệm hiện nay, bản chất những bệnh tâm thần sau sinh là đa
nhân tố, là sự kết hợp phức tạp giữa nhiều mặt : di truyền, sinh học, hormon,
tâm lý, xã hội…Các tác giả đều thống nhất do các nguyên nhân chính sau
đây:
 Nguyên nhân sinh học
Rối loạn tâm thần sau sinh (RLTTSS) có liên quan đến việc thay đổi
hormon đặc biệt là hormon sinh dục trong quá trình mang thai và đặc biệt là
sau sinh. Ngay sau khi đẻ nồng độ Estrogen (Estriol và Estradiol) trong huyết
thanh giảm xuống bằng 1/20 lúc mang thai và nồng độ Progesteron xuống
dưới ngưỡng mang thai trong vòng 48 giờ. Các hormon khác như Prolactin và
Cortisol cũng thay đổi trong quá trình mang thai và sau khi sinh. Giả thuyết
thuyết phục nhất là do người phụ nữ quá nhạy cảm với sự thay đổi của
Estrogen (Bloch và cs 2000) [10], [17].
9
Di truyền cũng được xem như là một yếu tố liên quan với RLTTSS.
Theo nghiên cứu của Hiệp hội Tâm thần Mỹ 2009 [18] cho thấy biến thể gen

- Phụ nữ có tiền sử LTSS khả năng tái phát trong những lần đẻ sau lên
đến 70%, hoặc gia đình có người bị loạn thần sau sinh thì cũng là một yếu tố
nguy cơ cao với họ.
- Phụ nữ có tiền sử trầm cảm sau sinh khả năng tái phát lên đến 50%.
Việc xác định các yếu tố nguy cơ đối với RLTTSS giúp cho việc chẩn
đoán và điều trị sớm, hạn chế tỷ lệ mắc bệnh ở bà mẹ và trẻ sơ sinh.
1.3.3. Bệnh sinh
1.3.3.1 Giả thuyết về sự sụt giảm steroid sinh dục [10],[21],[22].
Trong vài thập kỷ gần đây, các nghiên cứu sinh học thần kinh của các rối
loạn cảm xúc sau sinh đã tập trung vào đường dẫn truyền thần kinh steroid
(neurosteroid pathways) vì những thay đổi rõ rệt hormon sau khi sinh. Ngay
sau đẻ nồng độ HCG, Estrogen và Progesteron giảm xuống một cách đột ngột
trong vòng 2 tuần và đó cũng là giai đoạn điển hình cho sự khởi phát của loạn
thần sau sinh(LTSS). Nhiều tác giả cũng cho rằng sự tụt giảm nhanh chóng của
Estrogen giai đoạn sau sinh có thể là một yếu tố gây nên trầm cảm sau sinh
(Bloch et al, 2003; Sichel & Driscoll, 2000). Fink và cộng sự (1996) cho rằng
11
Estrogen có ảnh hưởng sâu sắc đến cảm xúc, trạng thái tâm thần và trí nhớ
bằng cách tác động lên monoamin và các peptid thần kinh trong não. Nhiều
nghiên cứu cũng ghi nhận rằng Estradial tự nhiên có tác dụng đáng kể trong
việc điều trị trầm cảm sau sinh (Ahokas và cộng sự, 2001).
Sự sụt giảm nhanh chóng của Progesteron cũng được giả định như một
nguyên nhân của rối loạn cảm xúc sau sinh. Người ta thấy rằng Progesteron
và một số chất chuyển hóa của nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến một số triệu
chứng như thay đổi giấc ngủ, sự tập trung chú ý, sự tỉnh táo hay lo âu. Sự tăng
độ nhạy cảm của các thụ thể Dopamin D2 ở vùng dưới đồi trong thời kỳ sau
sinh dường như dự báo sự khởi đầu của một rối loạn loạn thần. Thêm nữa nền
tảng sinh lý bệnh rất phức tạp, trong đó những phụ nữ có nguy cơ có thể có độ
nhạy cảm khác nhau với sự tăng lên hay tụt giảm của những hormon này hơn
là sự thay đổi rõ rệt nồng độ của các hormon (Blochet & cs 2003).

1.4. Đặc điểm lâm sàng rối loạn Trầm cảm, Loạn thần sau sinh
Thời kỳ sau sinh là một trong những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời
của người phụ nữ. Quá trình chuyển sang làm mẹ có liên quan đến các rối
loạn cảm xúc ở 30% phụ nữ [28]. Tác động của các yếu tố gây sang chấn tâm
lý(SCTL) trong cuộc sống và các vấn đề về sức khỏe tâm thần của bà mẹ đã
được nhận thấy trong nhiều nghiên cứu [2],[10].
DSM hiện nay đã chấp nhận một chẩn đoán hậu sản được sử dụng như
một sự khởi phát cụ thể của các rối loạn cảm xúc nếu người bệnh có đầy đủ
các triệu chứng cảm xúc thỏa mãn các tiêu chuẩn trầm cảm, hưng cảm hoặc
hỗn hợp… thì sẽ chẩn đoán vào mục F30 đến F39. Nếu thỏa mãn các tiêu
13
chuẩn của loạn thần cấp thì sẽ được chẩn đoán sang mục F23. Nhưng cả 2
chẩn đoán trên phải đảm bảo điều kiện là các triệu chứng xảy ra trong vòng 4
tuần sau sinh. [29].
Rối loạn tâm thần sau sinh được xếp vào mục F53 trong Bảng Phân loại
bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm tâm thần và hành vi kết hợp với
thời kỳ sinh đẻ (ICD-10) [30]. Tuy nhiên mục này chỉ dùng cho các rối loạn
tâm thần liên quan đến thời kỳ sinh đẻ (bắt đầu trong vòng 6 tuần sau sinh).
Gồm các mã:
-F53.0: Các rối loạn tâm thần và hành vi nhẹ, kết hợp với thời kỳ sinh
đẻ, không phân loại ở nơi khác.
-F53.1: Các rối loạn tâm thần và hành vi nặng, kết hợp với thời kỳ sinh
đẻ, không phân loại ở nơi khác.
-F53.8: Các rối loạn tâm thần và hành vi khác, kết hợp với thời kỳ sinh
đẻ, không phân loại ở nơi khác.
-F53.9: Rối loạn tâm thần thời kỳ sinh đẻ, không biệt định.
1.4.1. Dịch tễ học
Một nghiên cứu cắt ngang tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu
ở Quatar từ tháng 1/2010 đến tháng 5/2011 trên 1.659 phụ nữ đang ở giai
đoạn sau sinh cho thấy tỷ lệ trầm cảm, lo âu lần lượt là 18,6%, 13,1%. Trong

+ Trầm cảm điển hình: Biểu hiện khí sắc giảm, trạng thái ức chế tâm lý
vận động, kèm theo các triệu chứng cơ thể và nhân cách biến đổi.
+ Trầm cảm không điển hình: biểu hiện mờ nhạt che đậy bởi các rối loạn
cơ thể thần kinh thực vật – nội tạng.
15
+ Trầm cảm sau sinh (TCSS): TCSS là một tình trạng rối loạn khí sắc
nặng nề, được đặc trưng bởi các triệu chứng của trầm cảm nhưng chỉ xảy ra
sau khi sinh con. Theo DSM IV- TR thì TCSS diễn ra trong vòng 4 tuần
đầu sau sinh. Tuy nhiên nhiều các nghiên cứu khác cho rằng TCSS có thể
xuất hiện trong bất cứ thời điểm nào trong suốt năm đầu sau sinh nhưng với
tỷ lệ cao nhất trong 4 - 6 tháng đầu sau sinh vẫn được chấp nhận như TCSS
[10],[39],[40].
1.4.2.2. Lâm sàng và chẩn đoán rối loạn trầm cảm
Theo ICD 10 rối loạn trầm cảm là một giai đoạn rối loạn khí sắc kéo dài
ít nhất 2 tuần và chia giai đoạn trầm cảm thành các mức độ khác nhau như
trầm cảm nhẹ, trầm cảm vừa và trầm cảm nặng, thêm vào đó là các triệu
chứng loạn thần hay các triệu chứng cơ thể. Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn
TC dựa vào 3 triệu chứng chủ yếu và 7 triệu chứng phổ biến khác [31].
* Triệu chứng chủ yếu:
- Khí sắc trầm
- Mất quan tâm thích thú
- Giảm năng lượng và giảm hoạt động.
* Triệu chứng phổ biến:
- Giảm sự tập trung và sự chú ý
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
- Có ý tưởng bị tội và không xứng đáng
- Nhìn vào tương lai bi quan ảm đạm
- Có ý tưởng hoặc hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát
- Rối loạn giấc ngủ
16

lực, giảm cảm giác ngon miệng, cáu kỉnh, mất ngủ và mệt mỏi và luôn than
phiền về các triệu chứng cơ thể như hay ra mồ hôi, hồi hộp đánh trống ngực,
buồn nôn Một số bệnh nhân có những ý nghĩ bất lực hoặc không xứng đáng
liên quan tới đứa trẻ. Ý tưởng tự sát thường gặp nhưng tỷ lệ tự sát lại tương
đối thấp ở phụ nữ bị TCSS. Lo âu và ám ảnh là những rối loạn thường gặp ở
những bệnh nhân này. Các triệu chứng này khác nhau về mặt cường độ, sự
phản ứng với hoàn cảnh bên ngoài, thường tiến triển ngày một nặng lên và
kéo dài ít nhất 2 tuần. Ngoài ra TCSS cũng có một số khác biệt nhất
định như :
+ Mất hứng thú với vai trò làm mẹ.
+ Người bệnh dễ bị kích thích, hay cáu kỉnh.
+ Cảm giác có lỗi liên quan đến vai trò làm mẹ.
- Trầm cảm nhẹ: sau sinh khoảng 3- 4 ngày người mẹ thường thấy mệt
mỏi, chán ăn, ngủ kém, các hoạt động khó khăn và vụng về. Họ thường lo
lắng thái quá cho sức khỏe của con và của bản thân, cảm thấy mình kém cỏi
vì không có khả năng chăm sóc con được tốt, thường khóc lóc vô cớ, cho rằng
mình bị bỏ rơi…
- Trầm cảm vừa: Người mẹ thường cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức, rối loạn
giác ngủ, dễ bi kích thích hay cáu giận vô cớ. Từ trạng thái lo lắng người mẹ trở
nên buồn rầu chán nản không muốn tiếp xúc với mọi người, lo sợ không chăm
sóc được con, hay quá lo lắng về cách cho con ăn, cách giữ vệ sinh cho con
18
- Trầm cảm nặng : Thường tiếp theo giai đoạn “Buồn sau sinh” với các
triệu chứng trầm cảm rõ nét. Biểu hiện như luôn cho mình và con mắc bệnh
hiểm nghèo, mình là người mẹ không có khả năng, không biết cách chăm sóc
con, kém cỏi, không xứng đáng, xấu xa Bệnh nhân thường lo âu sợ hãi,
buồn rầu, hay khóc lóc vô cớ, thậm chí có những lời nói hay hành vi thô bạo
xúc phạm tới những người xung quanh. Khả năng chăm sóc con càng ngày
càng kém, có khi không quan tâm đến con mình, bỏ mặc hoặc hành hạ con
thậm chí giết hại con rồi tự sát[41], [42]. Tuy nhiên tự sát và giết trẻ sơ sinh

giống như trường hợp rối loạn loạn thần cấp. Bệnh liên quan chặt chẽ với việc
sinh đẻ, thường xuất hiện trong vòng 1- 4 tuần đầu sau đẻ và nhập viện hầu
như trong tuần đầu [2],[33].
1.4.3.2. Đặc điểm lâm sàng
Loạn thần sau sinh được coi là tình trạng cấp cứu y tế, cấp cứu sản khoa.
Các triệu chứng sớm(thường 2-3 ngày đầu sau sinh) bao gồm mất ngủ, biến
đổi khí sắc (thường là hưng cảm nhẹ). Hầu hết các trường hợp bệnh xuất hiện
điển hình sau 2- 4 tuần đầu sau sinh.
Theo một nghiên cứu của J Heron và cộng sự năm 2007 [48] ở 127 phụ
nữ được chẩn đoán LTSS thấy 73% phụ nữ có một triệu chứng khởi phát vào
ngày thứ 3. Hầu hết các triệu chứng sớm đó là: cảm thấy vui sướng, phấn
khích nhiều (52%), không cần ngủ hoặc không thể ngủ (48%), cảm thấy hoạt
bát và đầy năng lượng (37%), nói nhiều hơn (31%). Tiếp theo là nhiều triệu
20
chứng nặng như hoang tưởng (HT), ảo giác (AG), các triệu chứng cảm xúc
nặng như hưng cảm hoặc trầm cảm hay một trạng thái hỗn hợp nổi bật nhất
trong thời kỳ sau sinh. Người bệnh còn xuất hiện các rối loạn về định hướng
và các rối loạn hành vi rất nặng nề.
Các hoang tưởng trong LTSS thường mang nhiều sắc thái, thường không
phù hợp với cảm xúc bao gồm, thường tập trung vào đứa trẻ: HT liên hệ, HT
bị truy hại, HT ghen tuông, HT tự cao kỳ quái … như cho rằng đứa trẻ bị dị
dạng, bị chết hay hiện thân của thánh thần, của quỷ xa tăng…
Các rối loạn tri giác như ảo thanh, ảo thị, ảo giác xúc giác hay ảo khứu gợi
đến một hội chứng thực tổn [50]. Các ảo thanh hay gặp là ảo thanh ra lệnh
cho người mẹ làm hại bản thân họ hoặc hại đứa trẻ [10],[17],[39].
Độ tuổi khởi phát trung bình của LTSS là 26,3 tuổi [51]. Đây là thời gian
hầu hết phụ nữ có con thứ nhất hoặc thứ 2 [52].
Trong năm đầu sau sinh, nguy cơ tự tử tăng gấp 70 lần và tự tử là
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bà mẹ [53]. Những phụ nữ này thường
dùng các cách không thể cứu chữa được (tự thiêu, nhảy lầu) so với hầu hết

sinh con thứ nhất hoặc thứ hai [51].
Trình độ học vấn của người mẹ cũng được coi là một yếu tố liên quan
đến trầm cảm sau sinh. Trong một nghiên cứu trên 1.659 phụ nữ ở giai đoạn
sau sinh cho thấy bà mẹ trẻ có học vấn cao hơn (từ trung học cơ sở trở lên) thì
22
tỷ lệ mắc trầm cảm sau sinh cao hơn chiếm 67,5%, trong khi trình độ thấp
hơn chiếm 37,5% [29].
1.5.2. Tiền sử bệnh lý bản thân, gia đình
Những phụ nữ có tiền sử trầm cảm hoặc loạn thần sau sinh là những
yếu tố nguy cơ cao cho một giai đoạn trầm cảm cũng như loạn thần sau sinh
tiếp theo. Theo Josefsson(2002) [19], phụ nữ có tiền sử TCSS nguy cơ tái
phát 30- 50% trong lần sinh sau. Còn Benjamin J. Sadock [10] phụ nữ có tiền
sử LTSS thì nguy cơ tái phát lên đến 70% trong lần sinh sau.
Jane Hanley (2009) [22] lo âu và trầm cảm trong thời kỳ mang thai
cũng là yếu tố nguy cơ của TCSS.
Theo Susan Dowd Stone (2008) [19] thấy rằng TCSS hay LTSS tăng
lên nếu gia đình có người mắc các bệnh lý về tâm thần. Kết quả này giống với
nghiên cứu của Johnstone (2001) [29].
1.5.3. Yếu tố liên quan đến quá trình mang thai và chuyển dạ
Một nghiên cứu lớn ở Quatar trên 1.659 phụ nữ ở giai đoạn sau sinh
cho thấy mang thai ngoài ý muốn là mối liên quan có ý nghĩa với trầm cảm
sau sinh (OR= 1,9, p< 0,001[23]. Điều này cũng cho kết quả giống như một
nghiên cứu ở Thụy điển của Rubertssonet al. (2003) [22].
Không những thế các tai biến sản khoa như sản giật, tiền sản giật, mất
máu nhiều khi sinh, nhiễm trùng hậu sản… còn làm tăng tỷ lệ các rối loạn tâm
thần sau sinh qua nhiều nghiên cứu[10], [19].
Boyce (1992) thấy rằng phụ nữ mổ đẻ cấp cứu thì nguy cơ mắc TCSS
tăng gấp 6 lần [29].
23
Mặt khác sau khi sinh các bà mẹ bị kiệt sức nhiều do đau, do mất máu,

có nguy cơ bị TCSS cao gấp 4 lần so với các bà mẹ khác.
1.6. Điều trị rối loạn trầm cảm và loạn thần sau sinh
1.6.1. Điều trị Trầm cảm sau sinh
1.6.1.1. Nguyên tắc điều trị
TCSS biểu hiện như một trầm cảm điển hình và đáp ứng tốt với các
thuốc chống trầm cảm (CTC) (Payne JL, 2007) [2], [10]. Tuy nhiên, trước khi
bắt đầu điều trị, bệnh cơ thể gây rối loạn cảm xúc (như rối loạn chức năng
tuyến giáp, bệnh thiếu máu) cần được loại trừ. Đánh giá ban đầu bao gồm tiền
sử, khám cơ thể và các xét nghiệm thường quy [53].
1.6.1.1. Các liệu pháp điều trị

Liệu pháp hóa dược
+ Nhóm CTC:
Nhóm SSRIs là nhóm được lựa chọn hàng đầu như Fluoxetine, Sertraline
(Zoloft) Venlafaxine (Effexor ) …đều có tác dụng tốt với TCSS với liều được
khuyến cáo. Nếu bệnh nhân không dung nạp có thể thay thế bằng Buspropion
(Wellbutrin). Còn với những trường hợp rối loạn giấc ngủ nổi bật nên dùng
nhóm TCAs.
+ Nhóm giải lo âu: dùng khi bệnh nhân có triệu chứng lo âu kèm theo.
Hay dùng nhóm Benzodiazepine như Clonazepam, Lorazepam…
Lưu ý: những bệnh nhân đang cho con bú, các tác giả khuyến cáo nên sử
dụng nhóm thuốc SSRIs như Setraline, Paroxetine do thuốc ít phát hiện được
25
trong huyết tương của trẻ sơ sinh và hầu như không có tác dụng phụ. Tuy
nhiên, ảnh hưởng lâu dài đến trẻ thì chưa được nghiên cứu. Trái lại,
Fluoxerine, Citalopram lại có nồng độ cao hơn qua sữa mẹ (Di Scale & cs,
2009) [55], [56].
Các tác dụng phụ không mong muốn gặp ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đang
dùng thuốc CTC như rối loạn giấc ngủ, các triệu chứng về dạ dày- ruột, hô
hấp và có thể có co giật. Trong hầu hết các trường hợp, các tác dụng phụ nhẹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status