Đề tài: Nhu cầu học tập các môn chuyên ngành của
sinh viên ngành quản lý kinh tế tại Học viện Báo chí và
Tuyên truyền
Phần I: Đề cương nghiên cứu
1. Lý do lựa chọn đề tài
Học viện Báo chí Tuyên truyền, được thành lập ngày 16/01/1962 theo Nghị quyết
số 36/NQ-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng trên cơ sở hợp nhất 3 trường:
Trường Tuyên huấn TW, trường Đại học Nhân dân và trường Nguyễn Ái Quốc
phân hiệu II. Suốt 50 năm tồn tại và phát triển, nhiệm vụ của Học viện Báo chí và
Tuyên truyền là đào tạo cán bộ lý luận chính trị và cán bộ báo chí truyền thông.
Trong đó lĩnh vực đào tạo cán bộ, giảng viên lý luận chính trị là nhiệm vụ vô cùng
quan trọng trên mặt trận tư tưởng của Đảng. Nhận thức được vai trò của mình Học
viện Báo chí và tuyên truyền hiện nay đã có tới 11 ngành đào tạo lý luận chính trị.
Trong đó, ngành Quản lý kinh tế (thuộc khoa Kinh tế) cũng trở thành một trong
những ngành đào tạo lý luận quan trọng của Học viện. Mục tiêu đào tạo của ngành
Quản lý kinh tế được chia ra thành 2 mục tiêu sau: mục tiêu tổng quát và mục tiêu
cụ thể:
- Mục tiêu tổng quát
Đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ đại học để giảng dạy và nghiên cứu Quản
lý kinh tế ở các trường chính trị tỉnh, thành phố, trung tâm giáo dục lý luận chính
trị các quận, huyện, thị xã và các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề, ngoài ra còn có khả năng làm việc trong các cơ quan, ban, ngành
của Đảng và Nhà nước ở trung ương và địa phương đối với chuyên ngành được
đào tạo; đồng thời có thể tự học để nâng cao trình độ hoặc tiếp tục được đào tạo ở
trình độ sau đại học.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Về phẩm chất chính trị, đạo đức:
Có bản lĩnh chính trị vững vàng, yêu nước, trung thành với mục tiêu, lý tưởng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tích cực tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước; có dũng khí đấu tranh chống các biểu hiện của chủ nghĩa cơ
viên ngày một thay đổi theo thời gian còn hình thức và tổ chức đào tạo vẫn được
giữ nguyên thì liệu có còn phù hợp và hiệu quả đối với việc học tập của sinh viên
nữa hay không ? Với mục đích nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ngành Quản
lý kinh tế cần có những đánh giá chính xác, cụ thể, chi tiết từng môn học của
ngành học này, mới có thể đưa ra được những phương pháp đào tạo phù hợp. Và
muốn phù hợp với nhu cầu học tập của sinh viên thì cần thiết phải có đánh giá của
sinh viên về các môn học được đào tạo trong khoa. Ngoài ra qua quá trình học tập
có lẽ chỉ có sinh viên mới hiểu học mong muốn một môi trường học tập và phương
pháp giảng dạy như thế nào mới đạt được hiệu quả học tập tốt nhất. Đó là lý do tại
sao cần có một đề tài nghiên cứu Nhu cầu học tập các môn chuyên ngành của
sinh viên ngành quản lý kinh tế tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền để có thể
có được cái nhìn chính xác nhất về quan điểm và mong muốn của sinh viên đối với
ngành học . Trên cơ sở đó phân tích này đề xuất một số khuyến nghị cho nhà
trường thay đổi xây dựng chương trình đào tạo phù hợp cho sinh viên ngành Quản
lý kinh tế.
2. Mục đích nghiên cứu
• Đánh giá về thực trạng đào tạo của sinh viên ngành Quản Lý Kinh tế về
chương trình đào tạo cử nhân tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
• Tìm hiểu nhu cầu đào tạo của sinh viên ngành Quản Lý Kinh Tế về chương
trình đào tạo cử nhân tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
• Trên cơ sở phân tích này đề xuất một số khuyến nghị cho nhà trường thay
đổi/ xây dựng chương trình đào tạo phù hợp cho đào tạo cử nhân của ngành
Quản Lý Kinh Tế.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá về tổng thể chương trình học của ngành Quản Lý Kinh Tế, cấu
trúc sắp xếp/ trật tự các môn học theo lộ trình đào tạo 4 năm. Số lượng
môn học cần thiết/ không cần thiết. Đặc biệt đánh giá các môn học phục
vụ cho giảng dạy lí luận chính trị (lí thuyết và thực tập giảng dạy)
- Đánh giá về các môn cụ thể được giảng dạy: nội dung, thời lượng, thời
gian, phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá sinh viên
phần, nội dung thi tốt nghiệp…)
• Phạm vi về thời gian khảo sát:
- Bảng hỏi Anket: Trong vòng 1 tuần từ 28/3/2012 – 05/4/2012
- Nhập dữ liệu: Trong vòng 4 ngày từ 6/4/2012 -9/4/2012
- Làm sạch CSDL: trong vòng 2 ngày 10/4/2012-11/4/2012
- Viết báo cáo: từ 12/4/2012-27/4/2012
• Phạm vi không gian :khoa kinh tế học viện báo chí tuyên truyền.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
- Phương pháp luận chung : Đề tài thực hiên trên cơ sở phương pháp luận của
Chủ nghĩa Mác –Lênin là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch
sử.
- Phương pháp luận chuyên biệt: Đề tài vận dụng lý thuyết xã hội học.
6.2. Phương pháp thu thập và sử lý số liệu
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phỏng vấn bảng hỏi Ankét
- Kỹ thuật xử lý và phân tích dữ liệu: Xử lý số liệu định lượng (bảng mã định
lượng phân tích nội dung) bằng phần mềm xử lý số liệu định lượng SPSS
- Dung lượng mẫu nghiên cứu: 60 sinh viên, được tiến hành với ngành đào tạo
cử nhân chính trị học
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên phân chăm
7. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
7.1. Giả thuyết nghiên cứu
- Đa số sinh viên đều có nhu cầu không thay đổi về nội dung , thời lượng
học các môn chuyên ngành.
- Đa số sinh viên có nhu cầu giữ nguyên các hình thức kiểm tra, thi cử và
phương pháp giảng dạy.
- Đa số sinh viên có nhu cầu đi thực tế trong quá trình học tập các môn
chuyên ngành.
7.2. Khung lý thuyết
Biến số
đi thực tế năm
3&4)
Nhu cầu đối
với mức độ
tiếp thu
Đặc điểm của đối
tượng phỏng vấn
-Giới tính
-Năm học
-Kết quả học tập kì
gần nhất
Nhu cầu đối với hình thức đánh giá sinh viên
(giữ nguyên/ thay đổi các hình thức kiểm tra học
trình, hình thức kiểm tra điều kiện, hình thức thi
học phần, nội dung thi tốt nghiệp…)
- Năm học
- Kết quả học tập kì gần nhất
* Biến số phụ thuộc
- Nhu cầu đối với nội dung các môn học (nhu cầu với tỷ lệ lý thuyết/ thực
hành, nội dung các môn học).
- Nhu cầu đối với hình thức học các môn học (nhu cầu đối với cấu trúc sắp
xếp, thời lượng các môn, phương pháp giảng dạy, tỷ lệ các phương pháp,
hinhg thức đi thực tế năm 3&4)
- Nhu cầu đối với mức độ tiếp thu (tăng/giảm tốc độ giảng dạy, khối lượng
kiến thức so với khả năng tiếp thu của sinh viên).
- Nhu cầu đối với hình thức đánh giá sinh viên (giữ nguyên/ thay đổi các
hình thức kiểm tra học trình, hình thức kiểm tra điều kiện, hình thức thi học
phần, nội dung thi tốt nghiệp…)
8. Ý nghĩa của đề tài
8.1. Ý nghĩa lý luận.
thuyết
nhiều
hơn
thực
hành
%Hầu
hết là
lý
thuyết
1 Kinh tế chính trị Mác – Lenin (giai
đoạn TBCN)
0.0 6.7 10.0 83.3
2 Kinh tế chính trị Mác – Lênin (thời
kỳ quá độ lên CNXH)
0.0 6.7 10.0 83.3
3 Lịch sử các học thuyết kinh tế 0.0 6.7 0.0 93.3
4 Lịch sử kinh tế quốc dân 0.0 6.7 3.3 90.0
5 Địa lý kinh tế 0.0 6.7 10.0 83.3
6 Kinh tế quốc dân 0.0 3.3 10.0 86.7
7 Kinh tế học phát triển 0.0 6.7 16.7 76.7
8 Khoa học quản lý 0.0 6.7 10.0 83.3
9 Nguyên lý quản lý kinh tế 0.0 6.7 13.3 80.0
10 Kinh tế vi mô 0.0 13.3 6.7 80.0
11 Kinh tế vĩ mô 0.0 13.3 6.7 80.0
12 Lý thuyết tài chính tiền tệ 0.0 6.7 6.7 86.7
13 Kinh tế học công cộng 0.0 10.0 10.0 80.0
14 Luật kinh tế 0.0 6.7 6.7 86.7
15 Kinh tế lượng 0.0 13.3 10.0 76.7
16 Thống kê kinh tế 0.0 13.3 10.0 76.7
17 Kế toán tài chính 0.0 13.3 10.0 76.7
thực hành khác nhau, chính vì vậy nhu cầu của sinh viên với các môn học là họ
mong muốn được học lý thuyết nhiều hơn, ví dụ cụ thể như môn Lịch sử các học
thuyết kinh tế, tỉ lệ hầu hết là lý thuyết chiếm tới 93.3% trong khi tỉ lệ lý thuyết
bằng thực hành chỉ là 6.7%, hay như môn Lịch sử kinh tế quốc dân, tỉ lệ hầu hết là
lý thuyết chiếm tới 90% và chỉ có 6.7% tỉ lệ lý thuyết bằng thực hành, 3.3% tỉ lệ lý
thuyết nhiều hơn thực hành. Thực tế cho thấy hầu hết những môn học này đều có
đầy đủ những quyển sách lý thuyết cũng như giáo trình tham khảo chính bởi vậy
hầu hết sinh viên đều cho thấy việc nghiên cứu, học tập qua những cuốn sách như
thế này là đủ. Tuy nhiên ở môn học phương pháp nghiên cứu và giảng dạy QLKT
(thực hành) có thể thấy tỉ lệ lý thuyết ít hơn thực hành cũng tăng lên đáng kể, còn
tỷ lệ hầu hết là lý thuyết vẫn ở mức cao dẫn đến sự mâu thuẫn kết quả. Điều này có
thể lý giải qua quá trình phỏng vấn, có thể sinh viên chưa hiểu rõ bản chất của câu
hỏi, nhầm lẫn giữa nhu cầu đối với môn học và thực tế nội dung môn học họ đang
học dẫn tới sự sai sót trong kết quả.
Nhìn chung thì nhu cầu của sinh viên đối với khối lượng lý thuyết và thực hành có
sự chênh lệch khá rõ rệt, chủ yếu vẫn là mong muốn được tiếp thu khối lượng kiến
thức với nội dung nặng về lý thuyết. Song bên cạnh đó nhu cầu về việc được thực
hành nhiều hơn trong các môn học chuyên ngành cũng không hề ít điều này cho
thấy chương trình học cần có sự kết hợp hợp lý giữa lý thuyết và thực hành sao cho
các bộ môn chuyên ngành trở nên hấp dẫn và thiết thực hơn
2. Nhu cầu đối với hình thức học các môn chuyên
ngành
Hình thức học các môn chuyên ngành nhu cầu của sinh viên được thể hiện ở các
mặt đó là: nhu cầu về cấu trúc sắp xếp các môn học, thời lượng học các môn
chuyên ngành, phương pháp giảng dạy cũng như tỷ lệ các phương pháp giảng dạy
được áp dụng và hình thức đi thực tế năm thứ 3 và năm thứ 4. Trong bảng hỏi thứ
tự các môn học được phân chia và sắp xếp như sau:
- Nhóm 1:các môn thuộc nhóm Khoa học Mác-Lênin
- Nhóm 2&3: Khoa học xã hội và nhân văn
- Nhóm 4: khoa học tự nhiên
nhiều đến khả năng tiếp thu, khối lượng kiến thức được sinh viên đón nhận cũng
như hiệu quả học tập. Thời lượng học tập các môn chuyên ngành quá dài hay quá
ngắn đều không đáp ứng được nhu cầu học tập của sinh viên, vì vậy, thông qua
bảng phỏng vấn đã thu được kết quả như sau:
Thời lượng học các môn chuyên ngành theo mong muốn của sinh viên (%)
Stt Các môn học chuyên ngành Giảm Giữ
nguyên
Tăng Không
nhận
xét
1 Kinh tế chính trị Mác – Lenin
(giai đoạn TBCN)
10 83.3 1.7 0
2 Kinh tế chính trị Mác – Lênin
(thời kỳ quá độ lên CNXH)
11.7 86.7 1.7 0
3 Lịch sử các học thuyết kinh tế 11.7 86.7 1.7 0
4 Lịch sử kinh tế quốc dân 1.7 88.3 10 0
5 Địa lý kinh tế 1.7 85 13.3 0
6 Kinh tế quốc dân 0 88.3 11.7 0
7 Kinh tế học phát triển 0 88.3 16.7 0
8 Khoa học quản lý 0 88.3 11.7 0
9 Nguyên lý quản lý kinh tế 5 90 5 0
10 Kinh tế vi mô 0 71.7 28.3 0
11 Kinh tế vĩ mô 0 73.3 26.7 0
12 Lý thuyết tài chính tiền tệ 0 83.3 16.7 0
13 Kinh tế học công cộng 0 81.7 18.3 0
14 Luật kinh tế 0 90 10 0
15 Kinh tế lượng 0 83.3 16.7 0
16 Thống kê kinh tế 0 85 15 0
thành những cán bộ chính trị hoặc giảng viên giảng dạy nên nhu cầu được tìm hiểu,
học hỏi các kiến thức là rất cao trong khi thời lượng trên lớp là quá ít để họ có thể
đạt được hiệu quả tối đa trong việc tiếp thu kiến thức. Hơn nữa những môn học có
nhu cầu tăng thời lượng học tập đều là những môn học khá hấp dẫn. Sinh viên khi
tiếp cận với những môn học này có hứng thú học tập và muốn được tăng số tiết
hơn so với các môn học khác. Ngoài ra đối với một số môn học như Kinh tế chính
trị Mác – Lênin (thời kỳ quá độ lên CNXH), Lịch sử các học thuyết kinh tế lại có
tỷ lệ sinh viên có nhu cầu giảm thời lượng các môn học với tỷ lệ là 11.7%. Điều
này có thể lý giải rằng có thể sinh viên cho rằng hời lượng của 2 môn học này như
hiện tại là không cần thiết, cũng có thể nói 2 môn học trên là 2 môn học thiên về lý
thuyết chính vì vậy rất dễ gây ra sự nhàm chán cho sinh viên, khiến họ không có
nhiều hững thú với môn học này dẫn đến việc họ có xu hướng muốn cắt giảm thời
lượng 2 môn học này
Về hình thức đi thực tế đối với sinh viên năm thứ 3 và năm thứ 4, cụ thể là kiến tập
và thực tập có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên. Thông
qua việc đi thực tế sinh viên có thể áp dụng những kiến thức mình đã học vào thực
tiễn. Hiện nay các chuyên ngành đào tạo lý luận nói chung và ngành chính trị học
nói riêng cũng đã tổ chức đi thực tập cho sinh viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi
để sinh viên có thể hoàn thành tốt việc đi thực tế. Trong quá trình phỏng vấn sinh
viên của cả năm thứ 3 và năm thứ 4, tác giả đã thu được rất nhiều những ý kiến
khác nhau về quá trình kiến tập và thực tập:
Nội dung 1: Ý kiến về tổ chức đi thực tế
qua bảng trên có thể nhận thấy đối với hình thức kiến tập của sinh viên năm thứ 3
thì do đây là lần đầu tiên sinh viên có cơ hội đi thực tế nên còn gặp nhiều điều mới
mẻ và lạ lẫm chưa có kinh nghiệm thực hành do vậy tỉ lệ mong muốn có giáo viên
hướng dẫn và cùng đi thực tập là cao nhất (51.7%) và tỷ lệ giáo viên hướng dẫn là
(31%). Tỷ lệ sinh viên có mong muốn tự đi TT chiếm 17.2% đây cũng có thể coi là
con số không nhỏ. Điều này cũng có thể lý giải rằng với nhóm sinh viên năm thứ 3
thì đây là lần đầu tiên đi kiến tập chính bởi vậy có thể các bạn chưa có nhiều kinh
nghiệm lựa chọn hình thức thực tập, cũng có thể có một bộ phận không nhỏ sinh
thức đi thực tế tại các trường trung cấp, cao đẳng đại học lại được sinh viên lựa
chọn khá khiêm tốn trong đợt kiến tập (16.7%) và trong đợt kiến tập là (26.7%).
Có lẽ vì những sinh viên cho rằng năm thứ 3 vẫn chưa hoàn thành xong chương
trình học vì vậy mà chưa nắm đầy đủ được các kiến thức chuyên môn để có thể
giảng dạy tại các trường trung cấp, cao đẳng, đại học nên hình thức kiến tập này
chưa thực sự phù hợp.
Nội dung 3: Ý kiến về việc liên hệ đi thực tế
Quan sát bảng trên có thể thấy ý kiến về việc liên hệ đi thực tế của sinh viên năm
thừ 3 là khác hoàn toàn so với ý kiến về việc liên hệ đi thực tế của sinh viên năm
thứ 4. Đối với sinh viên năm thứ 3, tỷ lệ sinh viên có nhu cầu tự đi liên hệ chiếm
tới 50%. Dù là kiến tập nhưng có vẻ sinh viên lại muốn mình chủ động hơn trong
việc liên hệ đi thực tế, nhu cầu tự liên hệ cũng lớn hơn với việc giáo viên hay khoa
liên hệ kiến tập:10%. Còn đối với sinh viên năm thứ 4, tỷ lệ sinh viên có nhu cầu
về việc phối hợp với khoa chọn địa điểm lại chiếm tới 50% %) bởi lẽ sinh viên là
những người vẫn còn chưa đủ kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm, dự muốn chủ
động trong việc liên hệ đi thực tế song bên cạnh đó vẫn cần có sự tham vấn từ các
thầy cô những người có kinh nghiệm cũng như trình độ chuyên môn cao để lựa
chọn địa điểm thực tế cho phù hợp. Tuy nhiên cũng có một số không nhỏ các bạn
sinh viên lại muốn được giáo viên liên hệ giúp mình (10% đối với kiến tập và
16.7% đối với thực tập) đó là bởi sinh viên tin tưởng vào kinh nghiệm cũng như uy
tín của giáo viên khi liên hệ đi thực tế. Trên thực tế thì nếu giáo viên hay khoa liên
hệ với địa điểm đi kiến tập hay thực tập cũng sẽ thuận lợi hơn so với tự sinh viên đi
liên hệ do họ có uy tín, địa vị cũng như trình độ chuyên môn cao có thể định
hướng cho sinh viên một cách hiệu quả.
Nội dung 4: Ý kiến về cách thức tổ chức thực hiện đi thực tế
Về cách thức tổ chức thực hiện đi thực tế, ta cũng có thể thấy được sự khác biệt về
ý kiến giữa sinh viên năm thứ 3 và sinh viên năm thứ 4. Tỷ lệ sinh viên có mong
muốn được thực hiện dưới sự giám sát, kiểm tra của giảng viên và khoa là 36.7%
đối với năm thứ 3 và 40% đối với năm thứ 4. Điều này cho thấy sinh viên thực sự
muốn chủ động trong việc đi thực tế và chỉ muốn được tham khảo và chịu sự giám
Đánh giá về tiến độ giảng dạy các môn chuyên ngành (%)
Quá chậm (0) 0
Chậm (1) 6.7
Vừa đủ (3) 73.3
Nhanh (5) 13.3
Khó trả lời (9) 6.7
Cũng như với tỷ lệ sinh viên cho rằng khối lượng kiến thức các môn chuyên ngành
so với khả năng là vừa đủ chiếm ưu thế thì tỷ lệ sinh viên cho rằng tiến độ giảng
dạy các môn chuyên ngành cũng tương tự như vậy, khi có tới 73.3% tỷ lệ sinh viên
cho rằng tiến độ giảng dạy như hiện nay là vừa đủ, hợp lý và không có nhu cầu
muôn tăng hay giảm bớt tiến độ giảng dạy. Tuy nhiên vẫn có 13.3% ý kiến cho
rằng tiến độ giảng dạy như vậy là nhanh và họ có mong muốn giảm bớt tiến độ
giảng dạy lại để có thể kịp thời nắm bắt được chương trình học và tiếp thu kiến
thức các môn chuyên ngành tốt hơn. Ngoài ra có 6.7% ý kiến khó trả lời tổng hợp
của các mong muốn tăng giảm khác nhau đối với từng môn học. tiến độ giảng dạy
nhanh hay chậm cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giáo viên, khả năng tiếp thu
của sinh viên đối với từng môn học hay do cả khối lượng kiến thức cũng ảnh
hưởng đến việc đánh giá tiến độ giảng dạy vì vậy khó để nhận xét cũng là điều dễ
hiểu. Tóm lại, mong muốn chủ yếu vẫn là một tiến độ giảng dạy vừa phải, không
nhanh, không chậm như đánh giá hiện tại để sinh viên có thể nắm bắt trọn vẹn
được những kiến thức chuyên ngành.
4. Nhu cầu đối với hình thức đánh giá sinh viên
Hình thức đánh giá sinh viên bao gồm các hình thức kiểm tra trình, kiểm tra
học phần,thi tốt nghiệp và thi tuyển vào ngành. Để biết được nhu cầu cũng
như mong muốn của sinh viên cần tìm hiểu xem các hình thức có phù hợp
với yêu cầu hay mong muốn của sinh viên hay không. Những ý kiến cũng
như đóng góp của sinh viên cũng đóng góp một phần quan trọng trong việc
chỉnh sửa, thay đổi chương trình giảng dạy sao cho chính xác, hợp lý nhất
Ý kiến về cách thức công nhận thi tốt nghiệp(%)
Tất cả các SV viết khóa luận 37.9