LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế mở, rộng lớn mang tính chất toàn cầu,
bản thân nó luôn ẩn chứa nhiều cơ hội cũng như những thách thức đối với doanh
nghiệp. Việc đứng vững trước qui luật đào thải khắc nghiệt ấy chỉ có thể chứng
minh bằng hiệu quả trong kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế
bao hàm trong nó là các chỉ tiêu kinh tế phản ánh sự tương quan giữa kết quả đạt
được với chi phí bỏ ra ban đầu nhằm thu được kết quả cao nhất với một chi phí thấp
nhất. Hiệu quả kinh doanh không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh
doanh mà còn là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Hơn nữa việc nâng cao
hiệu quả kinh doanh luôn là một bài toán khó quyết định sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải nhạy bén và đổi mới trong quá trình
hoạt động của mình. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này em đã chọn đề tài
“Các quan điểm về hiệu quả và đánh giá hiệu quả kinh doanh” làm đề tài
nghiên cứu của mình. Nội dung của đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh.
Chương 2: Thực trạng hoạt động đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh trong doanh
nghiệp.
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ
KINH DOANH
1.1. Các quan điểm cơ bản về hiệu quả.
1.1.1. Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một quá trình kinh tế) là việc phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (tài sản, lao động, nguồn vốn) để đạt được mục
tiêu kinh tế trong một thời kỳ xác định. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả
kinh tế là hệ số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Trong
đó kết quả thu về phản ảnh những kết quả kinh tế tổng hợp như: doanh thu, lợi
nhuận, giá trị sản lượng công nghiệp Nhìn ở tầm vi mô của từng doanh nghiệp,
hiệu quả kinh tế được biểu hiện qua phạm trù hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh
doanh là một chỉ tiêu phản ánh đầy đủ các mặt của cả một quá trình sản xuất kinh
quả đó. Nhưng xét trên quan niệm của triết học Mác-Lênin thì sự vật hiện tượng đều
có quan hệ ràng buộc có tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một các riêng
lẻ. Hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá trình tăng thêm có sự liên hệ mật thiết
với các yếu tố có sẵn. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất
kinh doanh thay đổi. Hạn chế của quan điểm này là nó chỉ xem xét hiệu quả trên cơ
sở so sánh phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, và nó không
xem xét đến phần chi phí và phần kết quả ban đầu. Do đó theo quan điểm này chỉ
đánh giá được hiệu quả của phần kết quả sản xuất kinh doanh mà không đánh giá
được toàn bộ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.3. Quan điểm 3.
Quan điểm này cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết
quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó ”. Quan niệm này có ưu điểm là phản
ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế. Nó gắn được kết quả với toàn
bộ chi phí, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất kin
doanh. Tuy nhiên quan điểm này chưa phản ánh được tương quan về lượng và chất
giữa kết quả và chi phí. Để phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực chúng ta phải
3
cố định một trong hai yếu tố hoặc kết quả đầu ra hoặc chi phí bỏ ra, nhưng trên thực
tế thì các yếu tố này không ở trạnh thái tĩnh mà luôn biến đổi và vận động.
1.2.4. Quan điểm 4.
Theo quan điểm này “Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết
quả đạt được và chi phí hay các yếu tố đầu vào bỏ ra để đạt được kết qủa đó ”. Ta
có thể biểu diễn khái quát theo công thức: E = K / C , trong đó:
E là hiệu quả kinh doanh.
K là kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
C là chi phí hay các yếu tố đầu vào.
Kết quả đạt được có thể đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, doanh
thu thuần, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp Còn yếu tố đầu vào bao gồm các nguồn lực
tài sản, nguồn vốn, lao động được sử dụng trong kỳ kinh doanh.
Dựa trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả đạt được với chi phí hay các
kết quả và chi phí. Hiệu quả tương đối được đo bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.
1.3.2.3. Hiệu quả ngắn hạn và hiệu quả dài hạn.
Căn cứ vào lợi ích nhận được trong các khoảng thời gian dài hay ngắn mà ta
xem xét đánh giá hiệu quả ngắn hay dài hạn. Hiệu quả ngắn hạn là hiệu quả xem xét
trong một giai đoạn, mang tính chất tạm thời. Hiệu quả lâu dài là hiệu quả dược
xem xét đánh giá trong một khoảng thời gian dài, mang tính chiến lược. Cần phải
kết hợp hài hoà giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, không được chỉ vì lợi ích
trước mắt mà làm thiệt hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp là một chỉ tiêu chất lượng tổng
hợp, nó có liên quan tới tất cả các mặt trong hoạt động kinh doanh, do đó chịu tác
động của nhiều nhân tố khác nhau.
1.3.3.1. Nhân tố thị trường.
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn với thị trường kinh doanh
của nó. Doanh nghiệp nào cũng căn cứ vào thị trường để giải quyết các vấn đề then
chốt: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?. Trong đó, thị trường
đầu vào ảnh hưởng tới tính liên tục và tính hiệu quả của sản xuất, còn thị trường đầu
ra quyết định quá trình tái sản xuất và tính hiệu quả trong kinh doanh.
5
1.3.3.2. Nhân tố về tổ chức quản lý .
Nhân tố này tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng hợp lý và tiết kiệm các
yếu tố vật chất trong quá trình kinh doanh, giúp lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra
những quyết định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp chính xác, kịp thời tạo ra
những động lực to lớn để khuyến khích sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1.3.3.3. Nhân tố kỹ thuật công nghệ.
Nhân tố này cho phép các doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng giúp
hạ giá thành sản phẩm nhờ đó mà tăng khả năng cạnh tranh, tăng vòng quay của
vốn lưu động, tăng lợi nhuận, đảm bảo thực hiện yêu cầu quy luật tái sản xuất mở
rộng.
1.3.3.4. Nhân tố về lực lượng lao động.
các khâu của quá trình kinh doanh. Đồng thời phải xem xét đầy đủ các mối quan hệ
tác động qua lại của các tổ chức, các lĩnh vực trong một hệ thống theo một mục tiêu
đã xác định.
2.1.3. Quan điểm 3.
Cần phải bảo đảm tính thực tiễn trong công tác đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Quan điểm này đòi hỏi khi đánh giá và xác định biện pháp nâng cao hiệu quả kinh
doanh phải xuất phát từ đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội của ngành, của địa
phương và của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
7
2.1.4. Quan điểm 4.
Việc đảm bảo thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị, xã hội với nhiệm vụ kinh tế
trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là hết sức quan trọng. Trước hết ta phải
nhận thấy rằng sự ổn định của một quốc gia là tiền đề cho việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh. Mặt khác sự ổn định đó lại được quyết định bởi mức độ thoả mãn lợi
ích của các chủ thể trong quốc gia. Do vậy, theo quan điểm này đòi hỏi việc nâng
cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được xuất phát từ mục tiêu chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đó là nhu cầu điều kiện để đảm bảo sự
phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân.
2.1.5. Quan điểm 5.
Đánh giá hiệu quả kinh doanh phải căn cứ vào cả mặt hiện vật lẫn giá trị của
hàng hoá. Ở đây mặt hiện vật thể hiện ở số lượng và chất lượng sản phẩm, còn mặt
giá trị là biểu hiện bằng tiền của hàng hoá sản phẩm, của kết quả và chi phí bỏ ra.
Như vậy, căn cứ vào kết quả cuối cùng cả về mặt hiện vật và mặt giá trị là một đòi
hỏi tất yếu trong quá trình đánh giá hiệu quả kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng quát.
2.2.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng chi phí hay các yếu tố đầu vào.
Hiệu suất sử dụng chi phí hay các yếu tố đầu vào phản ánh cường độ hoạt
động của doanh nghiệp, là sự so sánh tương quan giữa đầu ra phản ánh kết quả sản
xuất và chi phí hay yếu tố đầu vào. Hiệu suất sử dụng chi phí hay yếu tố đầu vào
được xác định qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất hoạt động hay lượng hao phí chi
đầu vào được đánh giá qua chỉ tiêu số vòng quay và thời gian một vòng quay của
từng đối tượng. Tốc độ luân chuyển càng cao khi số vòng quay của từng đối tượng
càng cao hay thời gian một vòng quay của từng đối tượng càng ngắn và ngược lại.
Chỉ tiêu số vòng quay có công thức xác định tổng quát như sau:
. (3)
Trong công thức (3), chỉ tiêu doanh thu thuần có thể dùng một trong ba chỉ
tiêu doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu thuần từ hoạt động
kinh doanh hay tổng số thu nhập thuần, chỉ tiêu giá vốn có thể dùng giá vốn hàng
9
Giá trị bình quân của từng đối tượng
Doanh thu thuần hoặc Giá vốn
Số vòng quay của
=
từng đối tượng
Đầu ra phản ánh kết quả sản xuất
Chi phí hay yếu tố đầu vào
Suất hao phí =
tiêu thụ, giá vốn hàng mua, giá thành sản xuất sản phẩm… tùy thuộc vào đối tượng
xác định tốc độ luân chuyển. Đối tượng là từng bộ phận yếu tố hay chi phí đầu vào
như các loại tài sản ngắn hạn ( tài sản ngắn hạn, hàng tồn kho, khoản phải thu ),
vốn chủ sở hữu, chi phí bán hàng, chi phí quản lý, giá vốn hàng bán…
Chỉ tiêu thời gian một vòng quay của từng đối tượng được xác định theo công
thức sau:
(4)
2.2.3. Nhóm chỉ tiêu sức sinh lời của chi phí hay các yếu tố đầu vào.
Sức sinh lời của chi phí hay yếu tố đầu vào phản ánh khả năng sinh lợi của
doanh nghiệp. Đây là nhóm chỉ tiêu quan trọng và có tính đại diện nhất trong hệ
thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được
Doanh thu thuần
Giá trị TSNH bình quân
Số vòng quay TSNH =
Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân
Hiệu suất sử dụng tài sản =
360
Số vòng quay TSNH
Số ngày 1vòng quay TSNH =
=
Doanh thu thuần hoặc Giá vốn hàng bán
Giá trị HTK bình quân
Số vòng quay HTK =
360
Số vòng quay HTK
Số ngày 1vòng quay HTK =
Doanh thu thuần
Giá trị KPth bình quân
Số vòng quay KPth =
360
Số vòng quay KPth
Số ngày 1vòng quay KPth =
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân
Sức sinh lời từ tài sản =
2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn.
2.3.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu (VCSH).
2.3.2.2. Hiệu quả sử dụng vốn vay.
Chỉ tiêu này < 1: doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, lợi nhuận thu được không
đủ thanh toán lãi vay.
Tổng chi phí từng loại
Tỷ suất lợi nhuận trên
=
chi phí từng loại
mà doanh nghiệp có khả năng để tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu mà doanh
nghiệp đề ra. Ở mỗi giai đoạn phát triển doanh nghiệp có những mục tiêu khác
nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn bộ qúa trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực. Để
thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như các mục tiêu khác, các nhà quản
trị phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều công cụ khác nhau. Trong đó đánh giá
hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để các nhà
quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình. Thông qua việc tính toán hiệu quả
kinh doanh không những kiểm tra đánh giá được tính hiệu quả của các hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và
hiệu quả đạt ở mức độ nào), mà còn cho phép các nhà quản trị tìm ra nguyên nhân,
các nhân tố ảnh hưởng để từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên
cả hai phương diện giảm chi phí, tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với tư cách là một công cụ quản trị
kinh doanh, hiệu quả kinh doanh không chỉ được sử dụng để kiểm tra, đánh giá và
phân tích trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi toàn
doanh nghiệp mà còn được sử dụng để kiểm tra đánh giá trình độ sử dụng từng yếu
tố đầu vào ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp. Do vậy xét trên phương
diện lý luận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất
quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm
đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất để
thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra.
Bên cạnh đó, các nhà quản trị còn coi hiệu quả kinh doanh như là các nhiệm
vụ, các mục tiêu để thực hiện. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là trình độ sử dụng
nguồn lực vào kinh doanh: trình độ sử dụng nguồn lực kinh doanh càng cao, các
doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu
của doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tích lũy đảm bảo cho quá trình sản xuất mở
rộng theo đúng quy luật phát triển.
14
Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và
tiến bộ trong kinh doanh. Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp
phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh. Chấp nhận cơ chế thị
trường là chấp nhận sự cạnh tranh. Song khi thị trường ngày càng phát triển thì cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc
này không chỉ là sự cạnh tranh về mặt hàng, chất lượng, giá cả mà còn là cạnh tranh
trên nhiều phương diện khác như uy tín, thương hiệu… Mục tiêu của doanh nghiệp
là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm cho doanh nghiệp mạnh lên nhưng ngược
lại cũng có thể là cho doanh nghiệp không tồn tại được trên thị trường. Để đạt được
mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanh nghiệp phải chiến thắng trong
cạnh tranh trên thị trường. Do đó doanh nghiệp cần phải có hàng hóa, dịch vụ chất
lượng tốt, giá cả hợp lý. Mặt khác hiệu quả lao động là đồng nghĩa với việc giảm
giá thành, tăng khối lượng hàng hóa, chất lượng, mẫu mã không ngừng được cải
thiện nâng cao
Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là nhân tố cơ bản tạo ra sự
thắng lợi cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường.
Muốn tạo ra sự thắng lợi trong cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải không
ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Chính sự nâng cao hiệu quả kinh
doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi
doanh nghiệp.
3.2. Các biện pháp giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.2.1. Nghiên cứu, khảo sát và nắm bắt nhu cầu thị trường.
Trong cơ chế kinh tế hiện nay, cạnh tranh là điều kiện, tiền đề cho sự phát triển
kinh tế. Trên thị trường, các doanh nghiệp đều hoạt động và cạnh tranh với nhau,
điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt nhanh chóng, kịp thời, chính xác và
đầy đủ các thông tin về thị trường để đưa ra các biện pháp tác động thích hợp tới
quá trình kinh doanh của mình nhằm giành ưu thế trong cạnh tranh. Đó sẽ là điều
+ Chất lượng của nguyên vật liệu phải đảm bảo vì chất lượng của nguyên vật
liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết
kiệm nguyên vật liệu từ đó dẫn đến hiệu quả của việc sử dụng vốn.
16
+ Chi phí cho nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng cao trong cơ cấu giá thành,
do đó giảm chi phí nguyên vật liệu tới mức thấp nhất đồng nghĩa với hạ giá thành,
tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Nguyên vật liệu không những giữ vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất,
mà còn giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực quản lý giá thành và tài chính trong
doanh nghiệp. Vì vấn đề đặt ra đối với yếu tố này trong công tác quản lý là phải
cung ứng đúng tiến độ, số lượng, chủng loại, quy cách và với chi phí thấp nhất. Chỉ
trên cơ sở đó mới đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Nhân tố máy móc thiết bị, công nghệ:
Trong cơ chế thị trường, nhân tố máy móc thiết bị và công nghệ có vai trò
ngày càng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Máy móc thiết bị tiến bộ sẽ làm cho năng suất lao động tăng, chất lượng sản
phẩm tăng, điều đó ảnh hưởng đến giá thành và khả năng cạnh tranh, từ đó tăng
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhân tố này cũng tác động đến thị trường,
đến người cung cấp, ảnh hưởng tới khách hàng, đến vị thế cạnh tranh và quá trình
sản xuất của doanh nghiệp trên thị trường.
Một yếu tố cũng hết sức quan trọng khác đó là kỹ thuật công nghệ. Công nghệ
thông tin, tin học tiến bộ giúp cho doanh nghiệp thu thập, xử lý, truyền đạt thông tin
kinh tế xã hội phục vụ cho hoạt động kinh doanh và lưu trữ thông tin từ đó tạo ra
các điều kiện phát triển cho doanh nghiệp.
- Nhân tố lao động:
Lao động là một trong ba yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất. Muốn cho
mọi hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao, cần phải hình thành một cơ cấu lao động
tối ưu trong doanh nghiệp. Cơ cấu lao động tối ưu khi lực lượng lao động đảm bảo
đủ số lượng ngành nghề, chất lượng, giới tính và lứa tuổi, đồng thời được phân định
rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác giữa các bộ phận và các
Vậy khi các doanh nghiệp giảm được chi phí sản xuất kinh doanh xuống là đã hạ
được giá thành và góp phần làm tăng lợi nhuận.
18
- Tăng năng suất lao động:
Việc tăng năng suất lao động phụ thuộc vào các yếu tố như chuẩn bị các điều
kiện cần thiết cho quá trình kinh doanh, phát triển trình độ đội ngũ lao động như
đào tạo mở lớp tại doanh nghiệp, cử đi học… tạo động lực cho tập thể và cá nhân
người lao động vì lao động sáng tạo của con người là nhân tố quyết định đến hiệu
quả kinh doanh, khi lực lượng lao động có trình độ cao thì có thể khai thác tối đa
nguyên vật liệu, công suất máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến, việc phân công bố
trí công việc cho người lao động phù hợp với trình độ năng lực không những tăng
suất mà còn tại ra sự phấn khởi hăng say và tâm lý tốt cho người lao động.
- Công tác quản trị và tổ chức sản xuất:
Đây cũng là vấn đề lớn góp phần nâng cao năng suất lao động. Vì cơ cấu tổ
chức của doanh nghiệp mà thích ứng với môi trường kinh doanh, nhanh nhạy với sự
thay đổi của môi trường, bộ máy của doanh nghiệp phải gọn nhẹ, năng động, linh
hoạt giữa các bộ phận của doanh nghiệp phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn chế độ trách nhiệm tránh sự chồng chéo và nâng cao tinh thần trách
nhiệm của mỗi người, nâng cao tính chủ động sáng tạo trong kinh doanh thì sẽ góp
phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh.
3.2.4. Tổ chức quá trình tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ.
Việc tổ chức quá trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ sẽ làm cho hàng hóa dịch vụ
của doanh nghiệp lưu thông, không bị ứ đọng, giúp cho vòng quay của vốn lưu
động tăng nhanh, làm giảm chi phí tiêu thụ và do đó lợi nhuận thu được cao dẫn tới
tăng hiệu quả kinh doanh. Muốn vậy phải thực hiện các biện pháp cụ thể để tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng tăng.
- Tổ chức kênh tiêu thụ: Doanh nghiệp có thể áp dụng các kênh tiêu thụ phù
hợp với doanh nghiệp sao cho có lợi nhất.
+ Kênh trực tiếp: Hàng hóa từ doanh nghiệp sản xuất được bán thẳng đến
người tiêu dùng. Hình thức này đảm bảo mối quan hệ trực tiếp giữa người sản xuất
nhánh của công ty nhằm khuyến khích họ mua lượng hàng lớn và bán được nhiều
hàng, tích cực hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm.
20
+ Chính sách giá cả theo thị trường. tại mỗi khu vực, vùng địa lý khác nhau
nên có những mức giá khác nhau sao cho phù hợp với cùng loại sản phẩm.
+ Chính sách giá cạnh tranh: doanh nghiệp áp dụng mức giá thấp khi muốn
xâm nhập thị trường mới hay muốn cạnh tranh với đối thủ trên thị trường, điều này
giúp sản phẩm tiêu thụ nhanh hơn, khách hàng dễ chấp nhận hơn sản phẩm của
doanh nghiệp.
3.2.5. Hoàn thiện cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp.
Để thực hiện hệ thống các mục tiêu kinh tế xã hội đã định, trong quá trình sản
xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải xác định được cơ cấu sản xuất sản phẩm
chính. Đó là cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường, trên cơ sở khả
năng của doanh nghiệp cho phép tối đa hóa lợi nhuận.
Trong điều kiện nhu cầu thị trường rất đa dạng và thường xuyên biến động,
tiến bộ khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp
phải được coi là cơ cấu động, nghĩa là phải liên tục hoàn thiện và đổi mới. Đó là
một trong những điều kiện bảo đảm doanh nghiệp thích ứng với môi trường kinh
doanh để tồn tại và phát triển. Đổi mới cơ cấu sản phẩm được thực hiện theo nhiều
hướng khác nhau:
- Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi thời,
những sản phẩm có sức cạnh tranh kém và những sản phẩm không có khả năng tạo
ra lợi nhuận.
- Giữ nguyên chủng loại sản phẩm đang sản xuất nhưng cải tiến, hoàn thiện về
hình thức, hoàn thiện về nội dung, tạo ra nhiều kiểu dáng.
- Bổ sung thêm vào danh mục sản phẩm những sản phẩm mới phù hợp với nhu
cầu thị trường và xu hướng phát triển của khoa học công nghệ.
- Chuyển hóa vị trí các sản phẩm trong cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp,
bằng cách thay đổi định lượng sản xuất của mỗi loại.
21