1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay các thông tin kế toán có vai trò ngày càng quan trọng. Những nhà
đầu tư, những nhà quản lý, nhà kinh tế, chủ ngân hàng, và những người quản lý nhà
nước đều dựa vào các thông tin kế toán để đưa ra các quyết định đúng đắn và định
hướng cho việc hoạt động kinh doanh cũng như nền kinh tế. Chính vì vậy có rất
nhiều công trình, các đề tài nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong
lĩnh vực kế toán nhằm hoàn thiện hơn công tác kế toán doanh nghiệp hiện nay.
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới với nhiều
bước chuyển biến đáng kể. Đặc biệt là ngày càng có nhiều doanh nghiệp được lập ra
trong quá trình hoạt động kinh doanh ghi nhận doanh thu là vấn đề hết sức
quan trọng.
Trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh gay gắt các doanh nghiệp thường
xuyên phải đối mặt các nguy cơ khác nhau. Một trong những nguy cơ gặp phải đó là
vấn đề không thu hồi được các khoản phải thu (Phải thu các khoản cho vay, phải
thu của khách hàng).
Nếu doanh nghiệp không dự kiến được các khoản tổn thất từ các khoản không
Thu được các khoản phải thu này cũng như không chuẩn bị nguồn bù đắp thiệt hại
thì sẽ rất khó khăn và lúng túng trong hoạt động của mình chính vì vậyđặt ra yêu
cầu kế toán dự phòng phải thu khó đòi.
Ở Việt Nam chế độ kế toán dự phòng phải thu khó đòi được bộ tài chính quy
định cũng như hướng dẫn cụ thể và không ngừng được hoàn thiện. Nhưng liệu chế
độ kế toán dự phòng phải thu khó đòi ở Việ Nam hiện nay có phù hợp với thực tiễn
cũng như đã hoàn thiện hay chưa? Trước câu hỏi đó tôi đã quyết định chọn đề tài:
“Ghi nhận doanh thu và lập dự phòng phải thu khó đòi” để nghiên cứu.
Đề tài gồm 2 phần:
Phần 1: Ghi nhận doanh thu
Phần 2: kế toán dự phòng phải thu khó
Phần 3. Một số ý nhận xét về kế toán dự phòng phải thu khó đòi
2
sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua.
3
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở
hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá.
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
+ Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao
dịch bán hàng
+ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
1.2.4. Điều kiện ghi nhận doanh thu theo chuẩn mực kế toán quốc tế
Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 18) “ Doanh thu” khi áp dụng vào chuẩn
mực kê toán Việt Nam cũng không thay đổi nhiều:
+ Những rủi ro và lợi ích quan trọng gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá
được chuyển sang cho người mua.
+ Doanh nghiệp không tiếp tục tham gia quản lý quyền sở hữu cũng không
kiểm soát hàng hoá ra.
+ Giá trị doanh thu có thể tính toán một cách đáng tin cậy.
+ Doanh nghiệp có khả năng là sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán
hàng
+ Ghi phải liên quan đến giao dịch có thể được tính toán một cách đáng tin
cậy
1.3.Thời điểm ghi nhận doanh thu
1.3.1. Doanh thu bán hàng
Doanh nghiệp phải xác định chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền
với quyền sở hữu hang hoá cho người mua cho từng trường hợp cụ thể. Trong hầu
hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thời điểm 5
chuyển giaolợ ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng
hoá cho người mua.
Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở
hữu hang hoá thi giao dịch không được coi là hoạt động bán hang và doanh thu
không được ghi nhận. Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn
động cơ bản so với các hoạt động khác thì việc ghi nhận doanh thu được thực hiện
theo hoạt động cơ bản đó.
5
Khi kết quả của việc giao dịch về cung cấp dịch vụ không thể xác định được
chắc chắn thì doanh thu được ghi nhận tương ứng với chi phí đã ghi nhận và có thể
thu hồi.
Trong giai đoạn đầu của một giao dịch về cung cấp dịch vụ, khi chưa xác định
được kết quả một cách chắc chắn thì doanh thu được ghi nhận bằng chi phí đã ghi
nhận và có thể thu hồi được. Nếu chi phí có lien quan đến dịch vụ đó chắc chắn
không thu hồi được thì không ghi nhận doanh thu và chi phí đã phát sinh được
hoạch toán và chi phí để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ. Khi có bằng chứng
tin cậy về các chi phí đã phát sinh sẽ thu hồi được thì doanh thu được ghi nhận.
6
PHẦN 2: KẾ TOÁN DỰ PHÒNG PHẢI THU KHÓ ĐÒI
TRONG DOANH NGHIỆP
2.1. Những vấn đề chung về dự phòng phải thu khó đòi
2.1.1 Khái niệm chung về dự phòng
Dự phòng giảm giá là sự xá nhận về phương diện về kế toán một khoản
giảm giá trị tài sản do những nguyên nhân mà hậu quả của chúng không chắc chắn.
Có thể định nghĩa đơn giản cụ thể: dự phòng thực chất là việc ghi nhận
trước một khoản chi phí thực tế chưa chi vào chi phí kinh doanh, chi phí đầu tư tài
chính của niên độ báo cáo để có một tài chính cần thiết để bù đắp những thiệt hại
có thể xẩy ra trong niên độ liền sau. Dự phòng làm tăng tổng số chi phí do vậy nó
đồng nghĩa với việc tạm thời giảm thu nhập dòng của niên độ báo cáo – niên độ lập
dự phòng.
2.1.2 Bản chất của dự phòng phải thu khó đòi
Về bản chất dự phòng phải thu khó đòi chính là khoản dự tính trước vào chi
chi phí và doanh thu. Theo nguyên tắc này tất cả các phí phải gánh chịu trong việc
tạo ra doanh thu, bất kể là giá phí xuất hiện ở kỳ nào, nó phải phù hợp với kỳ mà
trong đó doanh thu được ghi nhận. Cũng theo nguyên tắc này các số liệu của dự
phòng phải thu khó đòi phải được tính toán một cách hợp lý phù hợp với thức tế,
hay nói một cách khác khoản dự phòng được trích trước và chi phí hoạt động của
doanh nghiệp phải phù hợp với yêu cầu thực tế
2.2.3 Một số các nguyên tắc khác
Nguyên tắc khách quan thực hiện ở việc phải căn cứ vào điều kiện cũng như
tình hình khách quan để lập dự phòng phải thu khó đòi. Việc tính toán quy mô dự
phòng phải được xác định một cách đáng tin cậy nhất
Nguyên tắc nhất quán: trong quá trình kế toán dự phòng phải thu khó đòi tất cả
các khái niệm, các nguyên tắc, các tính toán phải được thực hiện trên cơ sở nhất
quán từ kỳ này sang kỳ khác. Điều này giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính
hiểu được sự thay đổi về tình hình báo cáo tài chính
Trước hết tài khoản dự phòng phải thu khó đòi là một tài khoản có tính chất
điều chỉnh vì vậy có kết cấu của tài khoản phản ánh nguồn.
8
2.3. Kế toán dự phòng phải thu khó đòi
Về nguyên tắc kế toán thì dự phòng phải thu khó đòi chính là một khoản chi
phí và chi phí sản xuất kinh doanh để nếu có bù đắp thiệt hại nếu xẩy ra mất nợ.
Vào trước thời điểm lập báo cáo tài chính kế toán sẽ ước tính khoản thiệt hại có thể
xẩy ra do không thu được nợ để lập dự phòng. Nếu số dự phòng phải lập thấp hơn
mức dự phòng của kỳ trước thì ta tiến hành hoàn nhập dự phòng, ghi giảm chi phí
quản lý doanh nghiệp hoặc ghi tăng thu nhập khác của doanh nghiệp trong kỳ này,
còn nếu số dự phòng phải lập lớn hơn số dự phòng kỳ trước ta sẽ tiến hành lập bổ
sung. Khi xoá nợ phải thu khó đòi: nếu số nợ đó đã được trích lập dự phòng thì ta
lấy quỹ dự phòng đó ra bù đắp, phần chênh lệch chưa được lập dự phòng ta tính
trực tiếp vào chi phí quản lý doanh nghiệp, đồng thời theo dõi riêng khoản nợ khó
đò đã xử lý đó. Trường hợp thu hồi được khoản nợ đã xử lý ta đưa vào thu nhập
khác trong kỳ.
của các khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi
kèm theo các chứng cứ chứng minh các khoản nợ khó đòi nói trên.
2.3.3.2. Xử lý khoản dự phòng
- Khi các khoản nợ phải thu được xác định khó đòi, doanh nghiệp phải trích
lập dự phòng, nếu số dự phòng phải trích lập bằng số dư dự phòng nợ phải thu khó
đòi, thì doanh nghiệp không phải trích lập
- Nếu số dự phòng phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng nợ phải thu
khó đòi, thì doanh nghiệp phải trích them vào chi phí quản lý doanh nghiệp phần
chênh lệch
- Nếu số dự phòng phải trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng nợ phải thu
khó đòi, thì doanh nghiệp phải hoàn nhập phần chênh lệch vào thu nhập khác.
2.3.3.3. Xử lý tài chính các khoản nợ không có khả năng thu hồi
a/ Nợ phải thu không có khả năng thu hồi bao gồm các khoản nợ sau:
-Đối với các tổ chức kinh tế: Khách nợ đã giải thể, phá sản; khách nợ đã
ngừng hoạt động và không có khả năng chi trả.
- Đối với cá nhân phải có một trong các tài liệu sau:
+ Giấy chứng từ ( bản sao) hoặc xác nhận của chính quyền địa phương đối
với người nợ đã chết nhưng không có tài sản thừa kế để trả nợ.
+ Giấy xác nhận của chính quyền địa phương đối với người nợ còn sống
hoặc đã mất tích nhưng không có khả năng trả nợ.
10
+ Lệnh truy nã hoặc xác nhận của cơ quan pháp luật đối với người nợ đã bỏ
trốn hoặc đang bị truy tố, đang thi hành án hoặc xác nhận của chính quyền địa
phương về việc khách nợ hoặc người thừa kế không có khả năng chi trả.
Quyết định của cấp có thẩm quyền về xử lý xoá nợ không thu hồi được của
doanh nghiệp ( nếu có).
Đối với khoản nợ phải thu quá hạn ba năm trở lên mà không đủ chứng từ tài
liệu chứng minh theo quy định thi lập hội đồng xử lý nợ của doanh nghiệp để
xem xét, xử lý theo quy định của khoản này.
b/ Xử lý tài chính
đắp, phần chênh lệch chưa được lập dự phòng ta tính trực tiếp vào chi phí quản lý
doanh nghiệp, đồng thời theo dõi riêng khoản nợ khó đòi đã xử lý đó. Trường hợp
thu hồi được khoản nợ đã xử lý ta đưa vào thu nhập khác trong kỳ.
2.3.4.1. Quy định về tài khoản sử dụng
TK139 "dự phòng phải thu khó đòi"
Đây là loại TK điều chỉnh nên kết cấu của nó mang kết cấu của tài khoản phải
ánh nguồn.
* Bên Nợ:
+ Hoàn nhập dự phòng khoản thu khó đòi.
+ Xử lý nợ phải thu khó đòi
* Bên có: Lập dự phòng phải thu khó đòi ghi vào chi phí quản lý doanh
nghiệp
* Số dư có: Dự phòng nợ phải thu khó đòi đã lập hiện có
2.3.4.2. Phương pháp hạch toán kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu
- Cuối kỳ kế toán năm hoặc cuối kỳ kế toán giữa niên độ (Đối với doanh
nghiệp có lập báo cáo tài chính giữa niên độ), doanh nghiệp căn cứ các khoản nợ
phải thu được xác định là không chắc chắn thu được (nợ phải thu khó đòi), kế toán
tính, xác định số dự phòng, nợ phải thu khó đòi cần trích lập hoặc hoàn nhập.
+ Nếu số dự phòng nợ phải thu khó đòi cần trách lập kỳ kế toán trước chưa
sử dụng hết, thì số chênh lệch lớn hơn được hạch toán vào chi phí quản lý doanh
nghiệp.
Nợ TK 642 (6426): Chi phí quản lý doanh nghiệp
Có TK 139: Dự phòng phải thu khó đòi
12
+ Nếu số dự phòng nợ phải thu khó đòi cần trích lập ở kỳ kế toán này nhỏ hơn
số dự phòng nợ phải thu khó đòi đã trích lập ở kỳ kế toán trước chưa sử dụng hết thì
số chênh lệch được hoàn nhập, ghi giảm chi phí.
Nợ TK139: Dự phòng phải thu khó đòi
Có TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Trong niên độ kế toán sau: Khi đơn vị xác định các khoản nợ phải thu khó
số chênh lệch lớn hơn được hạch toán vào chi phí, ghi:
Nợ TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp
Có TK139: Dự phòng phải thu kho đòi
Nếu số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập năm nay nhỏ hơn số dư của
khoản dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập ở cuối niên độ trước chưa sử dụng hết.
Số chênh lệch được hoàn nhập. ghi giảm chi phí:
Nợ TK 139: Dự phòng phải thu khó đòi
Có Tk 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp
Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì
được phép xoá nợ. Việc xoá nợ các khoản phải thu khó đòi, phải theo chế độ hiện
hành. Căn cứ vào quyết định về xoá bỏ các khoản nợ phải thu khó đòi, ghi:
Nợ TK139: Dự phòng phải thu khó đòi (Nếu đã lập dự phòng
Nợ TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp (Nếu chưa lập dự phòng)
Có TK 131: Phải thu của khách hàng
Có TK138: Phải thu khác.
Đồng thời, ghi vào bên nợ TK 004. "Nợ khó đòi đã xử lý". (TK ngoài bảng
cân đối kế toán.
2.3.4.3. Quy định về hạch toán dự phòng phải thu khó đòi
* Cuối niên độ kế toán căn cứ vào mức lập dự phòng phải thu khó đòi được
tính, ghi:
Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp ( 6426)
Có TK 139 - Dự phòng phải thu khó đòi
* Cuối
niên độ kế toán sau ( N+1) tính mức dự phòng phải thu khó đòi cần lập, nếu:
+ Mức dự phòng phải trích lập bằng số dư dự phòng nợ phải thu khó đòi, thì
doanh nghiệp không phải trích lập.
14
+ Mức dự phòng phải thu khó đòi cuối niên độ sau thấp hơn mức dự phòng
phải thu khó đòi đã trích lập năm trước.
Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp ( 6426)
Có TK 511
Có TK 333
Thế nhưng khi phản ánh số nợ bị mất do không đòi được, doanh nghiệp phải
ghi sổ nợ bị mất tính vào chi phí theo số tiền có thuế. Cho dù với trường hợp doanh
nghiệp đã lập dự phòng, số dự phòng được hoàn nhập đã được tính trên cơ sở số nợ
phải thu có thuế va phần trăm (%) có khả năng mất thì số còn lại chưa thu hồi được
tính vào chi phí vẫn lớn hơn số tiền ngoài thuế của nó mất, trong khi theo cách thư
hai, khi bị mất nợ, doanh nghiệp được giảm số thuế giá trị gia tăng phải nộp.
16
PHẦN 3:MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ KẾ TOÁN DỰ PHÒNG
PHẢI THU KHÓ ĐÒI
Theo quy định hiện hành với những khoản nợ phải thu khó đòi có tuổi nợ
quá hạn từ 3 tháng mới trích lập dự phòng như vậy. Chẳng hạn tháng 11/N doanh
nghiệp có 1 khoản nợ đến hạn phải thu nhưng chua thu được thì theo chế độ kế toán
hiện hành Việt Nam thì phải sau hơn 1 năm tức là 31/12/N + 1 số dự phòng trên
mới được lập. Điều này cũng có thê khiến doanh nghiệp không sớm có khoản dự trữ
cho khoản thiệt hại có thể xảy ra khi mắc nợ. Vì vậy nên chăng bộ tài chính nên quy
đinh bất cứ khoản nợ phải thu nào đến hạn thanh toán trong năm mà chưa thu hồi
được thì đến ngày lập báo cáo của năm phải chuyển toàn bộ số nợ phải thu cho sang
nợ quá hạn và tiến hành trích lập dự phòng cho khả năng không thu hồi được nợ,
như vậy sẽ đảm bảo tốt hơn nguyên tắt thận trọng và nguyên tắt phù hợp trong công
tác kế toán, lại vừa phù hợp với thông lệ quốc tế.
Bên cạnh đó theo quy định hiện hành thì đối với các khoản phải thu chưa đến
hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đó lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm
thủ tục giải thể, người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị cơ quan pháp luật truy tố, giam
giữ, xét xử hoặc đang thi hành án… thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không
thu hồi được để trích lập dự phòng. Thực tế cho thấy trường hợp này xảy ra trong
doanh nghiệp có tính chất không thường xuyên, và doanh nghiệp thường ít chủ
động cũng như có ít kinh nghiệp về các khoản nợ phải thu khó đòi này. Chính vì
vậy các doanh nghiệp rất khó khăn trong việc xác định hay dự kiên mức tổn thất
KẾT LUẬN
Như vậy, qua việc nghiên cứu đề tài trên chúng ta đã hiểu được điều kiện và
thời điểm ghi nhận doanh thu của Việt Nam cũng như cảu quốc tế. Hiểu được bản
chất,các nguyên tắc cũng như vai trò kế toán dự phòng phải thu khó đòi trong các
doanh nghiệp. Từ đó nghiên cứu và hiểu thêm về quy đinh kế toán dự phòng phải
thu khó đòi, những mặt tích cực cũng như những tồn tại cần khắc phục.
Bên cạnh những tiến độ so với những quy định cũ thì kế toán dự phòng phải
thu hiện nay cũng còn có những điểm cần xem xét để khắc phục như là những quy
định về xác định mức trích lập dự phòng trong những trường hợp đặc biệt (nợ chưa
đến hạn thanh toán nhưng tổ chức lâm vào tình trạng phá sản, con nợ bỏ trốn…) hay
là những quy định về tuổi nợ quá hạn cần lập dự phòng phải thu khó đòi.
Từ việc tìm ra những tồn tại đó ta có thể đưa ra những ý kiến tham khảo
nhằm góp phần nào đó hoàn thiện kế toán dự phòng phải thu khó đòi ở Việt Nam
hiện nay, có thể là các biện pháp như: Nên quy định mức lập dự phòng, phương
pháp thống nhất để tính mức dự phòng trong những trường hợp cụ thể hoặc một quy
định nào đó phù hợp, tách thuế GTGT trong lập dự phòng phải thu khó đòi…
Có thể nói, qua việc nghiên cứu đề tài này tôi đã hiểu thêm về kế toán ghi nợ
doanh thu và lập dự phòng phải thu khó đòi trong doanh nghiệp Việt Nam, cũng cố
thêm kiến thức cho tôi cả về lý thuyết cũng như thực tiễn về chế độ kế toán Việt
Nam nói chung và kế toán ghi nợ doanh thu và lập dự phòng phải thu khó đòi nói
riêng.