LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là ngành công
nghệ thông tin (CNTT), đã tác động mạnh đến mọi mặt hoạt động của đời sống,
kinh tế - xã hội, làm thay đổi nhận thức và phương pháp sản xuất kinh doanh của
nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế khác nhau, trong đó có lĩnh vực hoạt động ngân
hàng.
Phát triển các dịch vụ của ngân hàng điện tử (NHĐT, E- banking) là xu
hướng tất yếu, mang tính khách quan trong nền kinh tế hiện đại, trong thời đại hội
nhập kinh tế quốc tế. Lợi ích đem lại của dịch vụ E-banking là rất lớn cho khách
hàng, ngân hàng và cho nền kinh tế, nhờ tính tiện ích, tiện lợi, nhanh chóng, chính
xác và bảo mật.
Là kết quả tất yếu của quá trình phát triển CNTT, được ứng dụng trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng, các Ngân hàng trên thế giới đã và đang phát triển
mạnh các hoạt động dịch vụ của NHĐT. Đặc biệt là khi các ngân hàng nước ngoài
với số vốn khổng lồ, công nghệ hiện đại, dịch vụ đa dạng và với bề dày nhiều năm
kinh nghiệm đã được thành lập chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam
(ngày 01/04/2007) thì để tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại trong
nước buộc phải đa dạng hoá dịch vụ, hiện đại hoá công nghệ và từng bước chiếm
lĩnh thị phần ngay từ bây giờ.
Mặc dù không còn là dịch vụ mới lạ ở Việt Nam, thậm chí đã và đang phát
triển khá rầm rộ, nhưng dịch vụ ngân hàng trực tuyến ở Việt Nam mới chỉ ở giai
đoạn đầu của sự phát triển. Vì vậy thông qua khoá luận này, tôi mong muốn đem
đến cho người đọc khái niệm cơ bản về e-banking cũng như thông tin cập nhật về
tình hình triển khai dịch vụ e-banking tại Việt Nam và các giải pháp để dịch vụ này
phát triển hơn.
Là một sinh viên với năng lực nghiên cứu còn hạn chế dù đã hết sức cố gắng
song do đề tài còn khá mới mẻ ở Việt Nam phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp và
1
không tránh khỏi còn nhiều hạn chế. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của người đọc quan tâm đến lĩnh vực dịch vụ ngân hàng mới mẻ này.
Kết cấu của khóa luận:
khách hàng phải mất nhiều thời gian điền vào các loại mẫu giấy tờ, sau đó đứng
3
xếp hàng dài chờ đến lượt, rồi phải làm thủ tục qua nhiều cửa mất rất nhiều thời
gian, công sức, chưa kể những rủi ro, nguy hiểm mà khách hàng có thể gặp khi phải
thanh toán một số lượng lớn tiền mặt. Ngoài ra, khách hàng chỉ có thể đến giao
dịch trong giờ mở cửa của ngân hàng. Nhưng giờ đây, các dịch vụ e-banking đa
dạng với cách sử dụng tương đối đơn giản, trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7
ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian đã giúp khách hàng hoàn
toàn thoát khỏi những điều phiền toái đó. E-banking đã thực sự trở thành phương
tiện hỗ trợ đắc lực giúp cho khách hàng có thể chủ động kiểm soát tình hình tài
chính của mình một cách an toàn, hiệu quả, mọi lúc, mọi nơi mà không cần phải
trực tiếp tới giao dịch tại ngân hàng. Với các doanh nhân thì "thời gian là vàng", do
đó có thể nói e-banking góp phần không nhỏ vào thành công trong hoạt động kinh
doanh của họ.
1.1.2.2. Về phía Ngân hàng:
E-banking giúp cho ngân hàng tiết kiệm tối đa được nguồn nhân lực bởi
nhiều khâu đã được tự động hoá nhưng vẫn đảm bảo cung cấp dịch vụ chất lượng
cao tới một số lượng lớn khách hàng của mình. Và do đó, không những lợi nhuận
thu được của các ngân hàng tăng lên mà quan trọng hơn là uy tín của họ cũng được
nâng cao.
Thực hiện các hoạt động dịch vụ E- Banking, cho phép các Ngân hàng thích
ứng nhanh chóng với những thay đổi của thị trường, điều chỉnh kịp thời phí, lãi
suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến của tình hình thị trường. Hạn chế rủi ro do biến
động về giá cả của thị trường gây ra, mang lại lợi ích kinh tế cho ngân hàng và
khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ của E- Banking. Đây là lợi ích vượt trội so
với ngân hàng truyền thống.
Sự kết hợp hài hoà trong quá trình phát triển các hoạt động dịch vụ ngân
hàng truyền thống và phát triển NHĐT, cho phép các TCTD tiếp cận nhanh với các
phương pháp quản lý hiện đại giúp các TCTD đa dạng hoá sản phẩm, tăng doanh
4
Như đã nói ở trên, E-banking bao gồm nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác
nhau được tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của khách hàng. Hiện
nay, những sản phẩm, dịch vụ E-banking được các ngân hàng cung cấp cho khách
hàng bao gồm :
• Các loại thẻ nhựa (thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, thẻ thông minh…).
• Hệ thống thanh toán tại các điểm bán hàng.
• Máy rút tiền tự động.
• Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại.
• Dịch vụ ngân hàng tại nhà.
• Dịch vụ ngân hàng qua mạng máy tính toàn cầu.
1.2. Đặc điểm của dịch vụ E- Banking.
Các loại hình dịch vụ E- Banking rất đa dạng và phong phú.
Như đã biết, các kênh phân phối truyền thống có danh mục sản phẩm rất đa
dạng, nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng, đồng thời để phân
tán rủi ro.
Dịch vụ E- Banking là kênh phân phối song song tồn tại với những kênh
phân phối truyền thống. Tùy theo từng giai đoạn phát triển của hoạt động ngân
hàng điện tử tại ngân hàng, các sản phẩm dịch vụ được đưa ra ở những mức độ
khác nhau, từ dịch vụ giản đơn như xem thông tin tài khoản, lịch sử giao dịch…,
đến những sản phẩm ở mức độ cao, đòi hỏi các giải pháp công nghệ hiện đại như
thực hiện thanh toán trực tuyến, mở L/C,…Ở giai đoạn phát triển cao nhất, E-
Banking, ngân hàng điện tử có thể phân phối đầy đủ các sản phẩm, dịch vụ tương
tự như một chi nhánh hay trụ sở ngân hàng. Các sản phẩm này cũng hết sức đa
dạng và phong phú. Bởi việc thiết kế chúng để đưa ra qua các kênh phân phối điện
tử là dễ dàng và thỏa mãn được tất cả những nhu cầu riêng biệt của khách hàng.
6
Đây là hình thức khách hàng tự phục vụ.
Đối với kênh phân phối truyền thống, khách hàng nhất thiết phải đến các chi
nhánh hoặc trụ sở ngân hàng. Tại đây họ sẽ được các nhân viên ngân hàng chỉ dẫn
và thực hiện theo yêu cầu của mình như mở tài khoản, thanh toán, chuyển
Đây là nhóm các tiện ích giúp cho khách hàng của ngân hàng có thể theo dõi
và kiểm tra các thông tin liên quan đến tài khoản và các giao dịch với ngân hàng
nhằm quản lý tốt hơn các hoạt động tài chính của mình, bao gồm:
− Mở một tài khoản mới.
− Xem các thông tin về biểu phí, tỷ giá và lãi suất của ngân hàng.
− Kiểm tra số dư và in sao kê các loại tài khoản như tài khoản vãng lai,
tài khoản thẻ tín dụng.
− Kiểm tra số dư của tài khoản ký quỹ.
− Kiểm tra tài khoản môi giới và đặt lệnh mua, bán chứng khoán.
− Xem chi tiết các giao dịch trên tài khoản của mình và in giấy báo có,
báo nợ làm chứng từ kế toán.
1.3.2. Nghiệp vụ thanh toán.
Đây là nhóm tiện ích cơ bản và quan trọng nhất của dịch vụ E- banking và là
nơi thể hiện sự khác biệt chủ yếu giữa dịch vụ E- banking và dịch vụ ngân hàng
truyền thống. Nó cho phép người sử dụng có thể ra lệnh cho ngân hàng thực hiện
các giao dịch thanh toán mà không cần đến trụ sở hoặc chi nhánh của ngân hàng,
không cần gặp gỡ nhân viên ngân hàng và cũng không cần để ý nhiều đến giờ giấc
giao dịch. Phần lớn các giao dịch này thường được thực hiện và xác nhận ngay lập
tức hoặc vào ngày làm việc tiếp theo. Các nghiệp vụ thanh toán qua mạng có thể
bao gồm:
− Rút và nộp tiền mặt (ATM).
− Thanh toán hóa đơn.
8
− Thanh toán sao kê thẻ tín dụng, tăng hạn mức thẻ.
− Đặt lịch thanh toán hóa đơn tự động đối với các thanh toán thường
xuyên.
− Chuyển tiền giữa các tài khoản.
− Chuyển tiền đi nước ngoài.
− Gửi và nhận séc điện tử.
Về cơ bản, các nghiệp vụ thanh toán qua hệ thống điện tử cũng mô phỏng
cân đối tài khoản…Những máy ATM hiện đại còn có thêm nhiều chức năng giá trị
gia tăng nữa, như gửi tiền, chuyển đổi ngoại tệ, và còn có thể coi như là một quầy
giao dịch 24h/7.
Thông qua việc thực hiện giao dịch bằng máy ATM, ngân hàng sẽ giảm
được chi phí in ấn các loại giấy tờ; tạo cở sở mở rộng hoạt động ngân hàng; đáp
ứng nhu cầu thuận tiện cho khách hàng, tạo ưu thế cạnh tranh, tăng hình ảnh của
ngân hàng; đồng thời giảm lưu lượng tiền mặt được sử dụng. Tuy nhiên, điều này
cũng đi kèm với việc tăng chi phí cho việc lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng; đe dọa
sự an toàn trong kinh doanh, bởi loại hình này mang theo nó những rủi ro đặc trưng
mà sẽ được để cập cụ thể hơn trong phần sau. Ngoài ra, mối quan hệ trực tiếp với
giữa khách hàng và ngân hàng cũng có thể bị hạn chế, bởi khách hàng thay vì đến
giao dịch, tiếp xúc tại ngân hàng, giờ đây sẽ đến các điểm rút tiền tự động.
1.4.1.2. EFTPOS (Electronic Funds Transfer at Point of Sale) – Máy thanh toán
tại điểm bán hàng.
EFTPOS hay còn gọi là dịch vụ chuyển tiền điện tử tại điểm bán hàng. Số
tiền phải trả cho hàng hoá sẽ được chuyển bằng công nghệ điện tử tại điểm bán
hàng từ ngân hàng của người mua sang ngân hàng của người bán bằng cách đưa thẻ
10
trượt qua máy đọc thẻ - thực chất là một thiết bị đọc có thể đọc được các thông tin
được mã hoá trên dải từ nằm ở mặt sau thẻ.
Thiết bị đọc thẻ này cho phép các thông tin của chủ thẻ được chuyển qua
đường điện thoại tới một Tổng đài Trung tâm. Các thông tin trên thẻ được mã hoá
để đảm bảo an toàn. Tổng đài Trung tâm lựa chọn đúng ngân hàng và gửi các thông
tin trên thẻ đến bộ xử lý tại ngân hàng của chủ thẻ để kiểm tra các thông tin sau:
• Số thẻ
• Thẻ đã được báo mất bao giờ chưa ?
• Ngày hết hạn của thẻ
• Tổng số tiền phải thanh toán
• Có đủ tiền trên tài khoản của khách hàng không ?
• Mã số nhận diện người bán
động 24/24 giờ trong ngày, 7 ngày trong một tuần, 365 ngày trong một năm nên
khách hàng hoàn toàn chủ động sử dụng khi cần thiết.
b) Những tiện ích của Telephone banking.
Khi sử dụng Telephone banking, khách hàng có thể:
Truy vấn thông tin chung:
Lãi suất huy động tiền gửi.
Tỷ giá hối đoái (vàng và ngoại tệ).
Các điểm giao dịch của ngân hàng trên toàn quốc.
Thông tin địa chỉ các điểm ATM của ngân hàng.
Mở tài khoản mới.
Biểu phí dịch vụ.
Fax các thông tin tài khoản, lịch sử giao dịch.
Các chương trình khuyến mãi của ngân hàng.
12
Các sản phẩm mới của ngân hàng.
Truy vấn thông tin riêng.
Số dư tài khoản tiền gửi thanh toán.
Số dư khoản tiền vay.
Thông tin 05 giao dịch phát sinh gần nhất trên tài khoản tiền gửi thanh
toán, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tài khoản tiền vay mà khách
hàng sở hữu.
Yêu cầu nhận bản kê giao dịch (sổ phụ) tài khoản tiền gửi không kỳ
hạn qua mail, fax.
Thay đổi mật khẩu Phone banking.
Ngoài ra, các khách hàng chưa có tài khoản hoặc chưa sử dụng dịch vụ của
ngân hàng cũng có thể sử dụng Telephone banking để nghe giới thiệu về các dịch
vụ ngân hàng, thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất tiết kiệm, lãi suất vay.
c) Chi phí sử dụng.
Telephone banking banking là một trong những dịch vụ ngân hàng đem lại
nhiều tiện ích cho người sử dụng với chi phí thấp nhất. Để sử dụng dịch vụ này,
nghe tiếp.
Dù đơn giản, nhưng tính bảo mật cho các thông tin tài khoản vẫn được đảm
bảo vì mỗi khách hàng sẽ được ngân hàng cấp mã số truy cập, mật khẩu riêng.
Ngoài ra ngân hàng còn có hệ thống ngăn chặn các truy cập không hợp pháp.
1.4.1.4. Dịch vụ ngân hàng qua mạng điện thoại di động (Mobile- Banking và
SMS- Banking).
a) Mobile/ SMS banking là gì?
Cùng với sự phát triển của mạng thông tin di động, dịch vụ ngân hàng tại Việt
Nam cũng đã nhanh chóng ứng dụng những công nghệ mới này.
Mobile - banking là một kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng qua hệ
thống mạng điện thoại di động. Về nguyên tắc, đây chính là quy trình thông
14
tin được mã hoá, bảo mật và trao đổi giữa trung tâm xử lý của ngân hàng và
thiết bị di động của khách hàng (ĐTDĐ, Pocket PC, Palm…).
SMS Banking là kênh dịch vụ cung cấp cho quý khách hàng khả năng giao
tiếp bằng tin nhắn từ điện thoại di động. Với kênh dịch vụ này, khách hàng
có thể thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản và quản lý tài khoản,
thông tin tỷ giá, lãi suất… thông qua tin nhắn điện thoại di động
b) Những tiện ích của Mobile/ SMS banking.
Với Mobile/SMS Banking, khách hàng có thể:
Tra cứu thông tin tài khoản
o Tra cứu thông tin tài khoản không kỳ hạn.
o Tra cứu thông tin tài khoản có kỳ hạn.
o Tra cứu thông tin tài khoản tín dụng.
o Tra cứu 5 giao dịch gần nhất của tài khoản không kỳ hạn.
Tra cứu thông tin tỷ giá, lãi suất (tiền gửi, tiết kiệm), giá chứng khoán…
Tra cứu mạng lưới chi nhánh/ phòng giao dịch; mạng lưới ATM và hệ thống
VNBS.
Nhận tin nhắn tự động khi số dư tài khoản thay đổi.
Nhận tin nhắn thông báo nhắc nhở nợ vay, thông báo dự nợ.
a) Giới thiệu chung về dịch vụ Home Banking.
Home-banking là kênh phân phối dịch vụ của ngân hàng điện tử, cho phép
khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản với ngân hàng (nơi khách
hàng mở tài khoản) tại nhà, tại văn phòng công ty mà không cần đến ngân hàng.
Ứng dụng và phát triển Home-banking là một bước tiến mau mắn của các
ngân hàng thương mại Việt Nam trước sức ép rất lớn của tiến trình hội nhập toàn
cầu về dịch vụ ngân hàng. Đứng về phía khách hàng, Home-banking đã mang lại
16
những lợi ích thiết thực: nhanh chóng- an toàn- thuận tiện. Và khẩu hiệu “Dịch vụ
ngân hàng 24 giờ mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần” chính là ưu thế lớn nhất mà mô
hình ngân hàng “hành chính” truyền thống không thể nào sánh được. Hiện nay,
dịch vụ Home-banking tại Việt Nam đã đều được nhiều ngân hàng ứng dụng và
triển khai rộng rãi.
b) Các chức năng chính của dịch vụ Home Banking.
Chức năng chuyển tiền:
Chức năng chuyển tiền cho phép khách hàng có thể làm lệnh chuyển tiền thanh
toán cho bên thứ ba, chuyển tiền giữa các tài khoản nội bộ hoặc yêu cầu phát hành
hối phiếu.
Khi sử dụng chức năng này của phần mềm dịch vụ Home Banking chắc chắn
khách hàng sẽ thấy việc làm lệnh yêu cầu chuyển tiền là một công việc rất dễ dàng.
Phần mềm này tự động hoá rất nhiều công đoạn mà khách hàng sẽ phải làm lặp lại
nhiều lần trong phương thức chuyển tiền truyền thống. Chi tiết của các khoản thanh
toán xảy ra thường xuyên có thể được lưu lại trong hệ thống để tái sử dụng với
nhiều cấp độ khác nhau.
Chức năng chuyển tiền trong dịch vụ Home Banking có các đặc điểm sau:
- Khách hàng có thể linh hoạt lập và sửa đổi các lệnh chuyển tiền trên máy
tính của mình.
- Rất nhiều dữ liệu như người thụ hưởng, số tài khoản thụ hưởng, ngân hàng
thụ hưởng, nội dung thanh toán… có thể được lưu lại để dễ dàng nhập vào
lệnh chuyển tiền.
c) Cách thức sử dụng dịch vụ Home Banking.
Dịch vụ ngân hàng tại nhà được xây dựng trên một trong hai nền tảng: hệ
thống các phần mềm ứng dụng (Software Base) và nền tảng công nghệ web (Web
Base), thông qua hệ thống máy chủ, mạng Internet và máy tính con của khách
hàng, thông tin tài chính sẽ được thiết lập, mã hoá, trao đổi và xác nhận giữa ngân
18
hàng và khách hàng. Mặc dù có một số điểm khác biệt, nhưng nhìn chung, chu
trình sử dụng dịch vụ ngân hàng tại nhà bao gồm các bước cơ bản sau đây:
Bước 1: Thiết lập kết nối.
Khách hàng kết nối máy tính của mình với hệ thống máy tính của ngân hàng
qua mạng Internet, sau đó truy cập vào trang web của ngân hàng phục vụ mình
(hoặc giao diện người sử dụng của phần mềm). Sau khi kiểm tra và xác nhận khách
hàng (User ID, Password…), khách hàng sẽ được thiết lập một đường truyền bảo
mật (https) và đăng nhập (login) vào mạng máy tính của ngân hàng.
Bước 2: Thực hiện yêu cầu dịch vụ.
Dịch vụ NHĐT rất phong phú và đa dạng, có thể là truy vấn thông tin tài
khoản, thiết lập nghiệp vụ chuyển tiền, hủy bỏ việc chi trả séc, thanh toán điện tử
… và rất nhiều các dịch vụ trực tuyến khác.
Trên website (hoặc giao diện người sử dụng) có sẵn hệ thống Menu chọn lựa
và hướng dẫn cụ thể các bước để thực hiện quá trình giao dịch. Tất cả mọi việc
khách hàng phải làm chỉ là chọn dịch vụ, cung cấp thông tin theo yêu cầu của dịch
vụ và của ngân hàng.
Bước 3: Xác nhận giao dịch, kiểm tra thông tin và thoát khỏi mạng (thông
qua chữ ký điện tử, xác nhận điện tử, chứng từ điện tử …)
Khi giao dịch được thực hiện hoàn tất, khách hàng kiểm tra lại giao dịch và
thoát khỏi mạng, những thông tin chứng từ cần thiết sẽ được quản lí, lưu trữ và gửi
tới khách hàng khi có yêu cầu.
Đối với khách hàng là doanh nghiệp, quy trình thanh toán qua Home-
banking được thực hiện tương đối phức tạp hơn với quy trình bảo mật, xác nhận an
toàn hơn. Mỗi doanh nghiệp sẽ được hệ thống Home-banking cung cấp hai loại
khoản cần xem. Khách hàng không chỉ biết số dư hiện thời trên tài khoản mà còn
cả số dư được phép sử dụng nữa. Số dư được phép sử dụng là số tiền thực có trong
20
tài khoản và không bao gồm bất kỳ khoản tiền gửi nào chưa được bù trừ hoặc giá
trị nào chưa được hạch toán so với số dư.
Tra cứu thông tin chi tiết các giao dịch liên quan.
Số lượng các giao dịch có thể xem được tuỳ thuộc vào hệ thống của từng ngân
hàng, có thể từ 10 giao dịch gần nhất đến các giao dịch trong vòng vài tháng trở lại.
Các thông tin này được cập nhật tới từng phút nên các khách hàng, đặc biệt là
khách hàng là doanh nghiệp có thể theo dõi tình hình tài chính của mình một cách
hiệu quả.
Không những thế, khách hàng còn có thể chuyển các thông tin này xuống phần
mềm kế toán của mình để tự thiết kế ra báo cáo riêng.
Chuyển khoản thanh toán.
Với dịch vụ này khách hàng có thể chuyển tiền giữa các tài khoản trong cùng
hoặc khác hệ thống của ngân hàng hay chuyển tiền từ tài khoản cho người nhận
bằng chứng minh thư.
Chuyển tiền cho các đơn vị có hợp tác với ngân hàng (công ty tài chính, bảo
hiểm, chứng khoán, viễn thông…) để thanh toán tiền lãi, gốc vay, tiền đầu tư chứng
khoán, đóng phí bảo hiểm, phí sử dụng dịch vụ hoặc các nội dung thanh toán khác.
Tùy vào từng Ngân hàng mà sẽ có những hạn mức chuyển tiền và mức phí khác
nhau đối với khách hàng là doanh nghiệp hay cá nhân.
Ngoài ra còn có các tiện ích khác như: nạp tiền vào thẻ (nạp tiền điện tử),
chuyển đổi ngoại tệ, in sao kê các khoản tài khoản theo thời gian…
c) Cách thức sử dụng và tính an toàn:
Khách hàng chỉ cần đến bất kỳ chi nhánh hay phòng giao dịch nào của ngân
hàng để đăng ký sử dụng dịch vụ. Trong đơn đăng ký sử dụng Internet banking,
khách hàng cần cung cấp các thông tin cá nhân, các số tài khoản mà khách hàng
muốn sử dụng Internet banking. Ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một mã số truy
cập và mật khẩu. Khách sẽ dùng mã số truy cập và mật khẩu của mình để đăng
− Call Center / Contact center: giải đáp thắc mắc, cung cấp thông tin và
giao dịch ngân hàng qua tổng đài điện thoại.
− Mail Banking, Fax Banking, Video Banking: giao dịch ngân hàng qua
thư điện tử, Fax, Video.
1.4.2. Sản phẩm dịch vụ E- banking.
Dịch vụ E- banking hiện nay rất đa dạng, ngày càng phát triển nhằm mang
đến những tiện ích tối đa cho người sử dụng. Bên cạnh hoàn thiện những sản phẩm
dịch vụ truyền thống, các ngân hàng luôn hướng tới việc phát triển các dịch vụ E-
banking phong phú, đa dạng và thuận tiện cho khách hàng. Nhìn chung, hiện nay
các ngân hàng trên thế giới đã cung cấp những dịch E- banking sau:
Dịch vụ cung cấp thông tin về tài khoản cho khách hàng (Account
Information)
Dịch vụ ngân hàng điện toán (Computer banking)
Thẻ ghi nợ (Debit card).
Thanh toán trực tiếp (Direct payment).
Gửi và thanh toán hóa đơn điện tử (Electronic bill presentment and
payment)
Thẻ lương (Payroll Card).
Ghi nợ được ủy quyền trước (Pre-authorized debit).
Dịch vụ đầu tư (Investment Services).
Dịch vụ cho vay tự động.
Dịch vụ ngân hàng tự phục vụ.
…
Tuy nhiên, tùy theo từng cấp độ phát triển của ngân hàng điện tử, khả năng
ngân hàng có thể ứng dụng công nghệ đến đâu, mà số lượng các sản phẩm dịch vụ
này được cung cấp theo mức độ khác nhau. Có thể chia thành 3 cấp độ, từ thấp đến
cao.
23
+ Cấp độ 1, cấp độ phổ biến, E- banking chỉ đưa ra các dịch vụ đơn
thuần như ở những tính năng như: truy vấn thông tin giao dịch, truy vấn số dư
giao dịch Internet banking yêu cầu khách hàng cần phải có máy vi tính đươck kết
nối mạng Internet. Do đó, trước khi tham gia, khách hàng phải tự trang bị những
thiệt bị cần thiết, và chi phí này chắc chắn không hề nhỏ. Điều này đã không ít
phiền toái khi khách hàng cần thực hiện giao dịch mà chưa có, hoặc không có trong
tay các phương tiện cần thiết.
Loại hình dịch vụ này cũng đòi hỏi khách hàng phải có trình độ nhất định
mới có thể tham gia được. Bởi lẽ họ cần phải thực hiện khá nhiều thao tác phức tạp
trên máy tính, hay điện thoại, mà đối với những người mới làm quen sẽ thấy khó
khăn để nắm bắt và sử dụng. Họ sẽ không có được sự hướng dẫn cũ thể, từng bước
như khi giao dịch tại chính trụ sở ngân hàng, mà chỉ có những chỉ dẫn sơ bộ về cách
thực hiện chúng trên màn hình điện tử. Điều này khiến cho khách hàng giao dịch
với ngân hàng thường là các trí thức, những người dân có thu nhập cao, thường
xuyên có nhu cầu giao dịch với ngân hàng hơn là bộ phận nông thông, miền núi.
Thứ ba, Điều kiện đối với ngân hàng.
Để xây dựng được nột hệ thống kênh phân phối dịch vụ E- banking hoàn
chỉnh, ngân hàng cần phải giải quyết rất nhiều vấn đề, song điều kiện tiên quyết,
buộc ngân hàng phải thoải mãn là tiềm lực tài chính, trình độ cán bộ nhân viên và
xác định rõ nhu cầu của khách hàng sử dụng.
Thực tế, chi phí ban đầu của kênh phân phối dịch vụ này là khá lớn. Ví dụ
như chi phí lắp đặt, vận hành cho 1 máy ATM lên đến 70.000 USD/năm, chưa kể
đến phí đường truyền dữ liệu về Trung tâm thẻ của Ngân hàng phát hành thẻ, Ngân
hàng thanh toán thẻ; chi phí cho việc tiếp quỹ vào các máy ATM theo tính toán vào
khoảng 4.450 USD/máy/năm. Số lượng máy ATM lắp đặt càng nhiều thì chi phí
cũng theo đó gia tăng.
Theo số liệu thống kê trong báo cáo của FDIC, tại Mỹ, số ngân hàng có tài sản
25