Phần mở đầu
Lạm phát là một hiện tợng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thị trờng.Nó
là một trong những hiện tợng quan trọng nhất của thế kỷ XXI và đụng chạm tới
mọi hệ thống kinh tế dù phát triển hay không.
Lạm phát đợc coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hoá-
tiền tệ.Nó có tính thờng trực,nếu không thờng xuyên kiểm soát,không có những
giải pháp chống lạm phát thờng trực,đồng bộ và hữu hiểu thì lạm phát có thể xảy
ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hoá nào với bất kì chế độ xã hội nào.
Trong thế kỷ XIX đợc đánh dấu là không có nạn lạm phát bởi giá cả tơng
đối ổn định(dù có những cơn sốt ngắn ) thì sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất
là thời kỳ gia tăng quá trình lạm phát với quy mô lớn.Từ sau năm 1945,không còn
có hiện tợng giá cả giảm nữa.Các cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 70 đã kéo
theo sự gia tăng trở lại lạm phát rất rõ,sau đó nhờ những cố gắng của các chính
sách ổn định mà một quá trình giảm lạm phát đã bắt đầu trong những năm 80.
Lạm phát gây ra nhiều tác hại cho nền kinh tế nh tình trạng khủng
hoảng,công nhân đình công đòi tăng lơng,giá nguyên liệu tăng đột biến,thảm hoạ
tự nhiên,chi phí sản xuất tăng
Nớc ta đang trong giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hoá sang kinh tế thị
trờng,vì vậy nghiên cứu lạm phát đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay để đánh
giá sức khoẻ của nền kinh tế nớc nhà.
Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu về vấn đề lạm phát ở Việt Nam,thực
trạng và các giải pháp .
Em chỉ nêu ra đợc một số vấn đề nên không tránh đợc những khiếm
khuyết,rất mong đợc sự góp ý và bổ sung của thầy. Em xin chân thành cảm ơn.
1
Phần nội dung
A-Những vấn đề lí luận về lạm phát
I-Bản chất của lạm phát
Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung nền kinh tế.Nh vậy sự
tăng giá của một vài mặt hàng cá biệt nào đó trong ngắn hạn ngoài thị trờng thì
cũng không có nghĩa đã có lạm phát.Các nhà kinh tế thờng đo lạm phát bằng hai
ởng cung tiền vợt quá tốc độ tăng trởng thực sự của nền kinh tế.Đơn giản hơn là
tiền trong lu thông tăng nhanh hơn số lợng hàng hoá và dịch vụ đợc sản xuất ra
trong nền kinh tế.Ví dụ nh tốc độ tăng trởng cung tiền là 10% nhng tốc độ tăng tr-
ởng thực của nền kinh tế là 7% thì lạm phát tiền tệ là 3%.Loại lạm phát này thờng
xảy ra tại các nớc đang phát triển khi các nớc này theo đuổi chính sách tiền tệ mở
rộng,áp chế tài chính là tình trạng ngân hàng trung ơng tài trợ cho thâm hụt ngân
sách chính phủ bằng cách in tiền,quá nhiều tiền trong lu thông vợt quá tốc độ tăng
trởng thực sẽ dẫn đến lạm phát.Chính sách tiền tệ mở rộng sẽ kính thích tổng cầu
hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế,khi tốc độ tăng trởng tổng cầu cao hơn tốc độ
tăng trởng tổng cung thì cũng dẫn đến lạm phát.
Lạm phát thứ hai là lạm phát cầu kéo.Nó xuất phát từ sự thay đổi hành vi
tổng cầu mang tính đột biến trong nền kinh tế.Các nguyên nhân có thể là do chính
phủ chi tiêu quá mức khi thực hiện chính sách thu chi ngân sách mở rộng,hoặc
tăng chi tiêu tiêu dùng quá mức bình thờng do khu vực hộ gia đình quá lạc
quan,hoặc do khu vực hộ gia đình có nguồn thu nhập từ trên trời rơi xuống nh viện
trợ nớc ngoài,thu nhập do giá cả xuất khẩu tăng đột biến.
Loại lạm phát thứ ba là lạm phát chi phí đẩy.Lạm phát chi phí đẩy là loại
lạm phát do thu hẹp tổng cung hoặc do các doanh nghiệp buộc lòng phải nâng cao
giá bán sản phẩm vì những lí do bất lợi.khác với hai loại lạm phát trên,thì loại lạm
phát này chủ yếu đến từ phía phía cung và nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hiện
3
tợng tăng chi phí sản xuất không mong đợi từ phía các doanh nghiệp.Tăng chi phí
không mong đợi từ phía doanh nghiệp tạo ra những cú sốc tổng cung bất lợi.Công
nhân đình công đòi tăng lơng ở diện rộng,giá nguyên liệu gia tăng đột biến,thảm
hoạ tự nhiên làm đình trệ hoạt động sản xuất của nhiều doanh nghiệp là những
ngòi nổ của lạm phát này.
Khi giá dầu thô tăng từ 30USD lên 50USD/thùng sẽ dẫn đến chi phí sản xuất
của hầu hết các doanh nghiệp khác đều tăng theo.Ví dụ nh giá phân bón,thuốc trừ
sâu,giá vận chuyển,giá sắt thép sẽ tăng lên do giá nguyên liệu tăng và chi phí sẳn
xuất lúa của nông dân sẽ tăng lên là điều hiển nhiên.Phản ứng dây chuyền này sẽ
bảo một mức lạm phát mục tieu dao đông xung quanh một chỉ số CPI đợc xác
định là 2 hoặc 3%/năm và nhỏ hơn tốc độ tăng trởng GDP trong năm.Cơ chế này
đã và đang phát huy nhiều tác dụng tích cực ít nhất trong vòng năm năm qua.
*,Lạm phát phi mã là cấp độ cao thứ 3 có tỉ lệ lạm phát bình quân/năm từ
mức trung bình của hai con số đến đỉnh cao của ba con số. Đây là tỉ lệ lạm phát v-
ợt xa ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ơng.Giải pháp để chống lại
hiện tợng lạm phát này đòi hỏi phải là sự tổng lực của toàn nền kinh tế quốc dân
trong các nỗ lực thắt chặt tiền tệ,đẩy mạnh sản xuất,tăng cờng đầu t,thu hút mạnh
các nguồn vốn,kích thích đầu t trong nớc,cải cách lại cơ cấu kinh tế,nâng cao trình
độ công nghệ,tạo ra môi trờng pháp lý thuận lợi cho lu thông hàng hoá và đẩy
mạnh sản xuất hàng thay thế nhập khẩu để tăng cung cho nội bộ nền kinh tế đang
tràn ngập quá mức tổng phơng diện thanh toán ở n ớc tâ từ 1985 đến 1988 đã
phải chứng kiến và chống đỡ với cấp độ lạm phát này.
*,Cấp độ siêu lạm phát là hiện tợng khủng hoảng kinh tế đã lên đến trên ba
con số-thậm chí ngời ta không thể đo lạm phát bằng số % mà bằng số lần tăng giá
trong năm.Thế giới đã từng kinh hoàng về nạn siêu lạm phát ở Đức trong các năm
1921 đến 1923 sau đại chiến thế giới thứ nhất .Đây là mức siêu lạm phát lớn nhất
trong lịch sử tiền tệ thế giới tính cho đén nay-chỉ số giá trong vòng 22 tháng từ
tháng1 năm 1921 đến tháng 11 năm 1923 tăng tới 10 triệu lần.Kho tiền của Đức
trong 2 năm đó tăng 7 tỷ lần tổng giá trị danh nghĩa.Tính tớc đoạt của cuộc siêu
lạm phát này đợc lợng hoá bằng con số kinh khủng:Nếu ai có một tấm ngân phiếu
300 triệu DM Thì chỉ 2 năm nói trên,giá trị thực của tấm ngân phiếu này hầu nh
5
chỉ còn lại là con số không.Cuộc siêu lạm phát lớn thứ 3 xảy ra ở Mỹ thời kì nội
chiến 1860-Riêng trong năm 1860 giá cả hàng hoá tăng lên 20 lần=2000%.Ngời ta
đã miêu tả bằng hình ảnh về cuộc lạm phát này rằng tiền mang đi chợ phải đựng
bằng sọt,còn hàng hoá mua đợc thì bỏ vào túi-Mọi hàng hoá trên thị trờng trở nên
cực kỳ khan hiếm trừ tiền.Tiền hầu nh đã trút bỏ mọi chức năng vốn có của nó kể
cả chức năng trực tiếp nhất là làm phơng tiện lu thông hàng hoá.Cuộc siêu lạm
phát gần đây nhất và là cuộc lạm phát lớn thứ hai trong lịch sử kinh tế hàng hóa-
tế trên cho rằng lạm phát làm bôi trơn những bánh xe của thị trờng lao
động,cho phép tiền lơng thực tế có thể đợc điều chỉnh dễ dàng hơn.
Vì thế để có tốc độ tăng trởng cao hay không thì phải duy trì một tỷ lệ lạm
phát nhất định nào đó.
2-Tác động tiêu cực của lạm phát đến nền kinh tế.
Lạm phát cao sẽ kìm hãm sự tăng trởng kinh tế.khi lạm phát xảy ra nó sẽ
làm lệch lạc cơ cấu giá cả,kéo theo là nguồn tài nguyên,vốn và nguồn nhân lực
không đợc phân bố một cách có hiệu quả,kết cục là làm cho tăng trởng chậm lại.
Tính không chắc chắn của lạm phát là kẻ thù của tăng trởng và đầu t dài
hạn.Nếu các nhà đầu t không biết chắc chắn hoặc không thể dự đoán đợc mức giá
cả trong tơng lai,kéo theo là không thể biết đợc lãi xuất thực thì không ai trong số
họ dám liều lĩnh đầu t,nhất là đầu t vào các dự án dài hạn,mặc dù có thể các điều
kiện đầu t khác là khá u đãi và hấp dẫn.Tính không chắc chắn của mức độ lạm
phát sẽ đẩy lãi suất thực lên cao bởi chủ nợ muốn có sự bảo đảm cho mức rủi ro
lớn .Mức lãi suất thực cao này sẽ kìm hãm đầu t và làm chậm tốc độ tăng trởng.
Điều này có thể minh hoạ về tình hình lạm phát cao ở Indonesia và Thái Lan trong
giai đoạn 1999-2000 khi lạm phát cao thì tăng trởng thấp.
Lạm phát cao khuyến khích ngời dân quan tâm tới lợi ích trớc mắt. Khi có
lạm phát xẩy ra ở một nớc thay cho việc ký thác tiền trong ngân hàng để hởng lãi
suất hay đầu t vào khu vực sản xuất kinh doanh hòng tìm kiếm lợi nhuận, dân
chúng có thể đổ xô mua hàng để dự trữ vì kỳ vọng giá hàng hoá còn tăng nữa.
7
Điều này vô hình dung làm tăng cầu hàng hoá một cách giả tạo và do vậy càng
làm cho lạm phát có nguy cơ bùng nổ đến mức độ cao hơn.
Lạm phát cao ảnh hởng tiêu cực đến toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội của
quốc gia. Chính phủ các nớc đã từng trải qua lạm phát cao (Inđônêxia 1967, Anh
1979 ) đều cho rằng không kiểm soát đ ợc lạm phát là điều đáng sợ nhất.Toàn bộ
hoạt động kinh tế bị méo mó,biến dạng nghiêm trọng gây tâm lý xã hội phức tạp
và làm lãng phí ghê gớm trong sản xuất.Đặc biệt khi lạm phát cao xẩy ra, sức mua
đối nội của đồng tiền vào hệ thống ngân hàng và cao hơn nữa là vào chính phủ sẽ
kinh tế nớc ta
I Lạm phát ở nớc ta trong thời kỳ đổi
mới(1986)
Trớc thời kỳ đổi mới,nền kinh tế nớc ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá
tập trung quan liêu bao cấp nên vấn đề giá cả cha chịu tác động của quy luật thị tr-
ờng,mà đợc định ra theo mệnh lệnh và qui định ,do vậy lạm phát không xuất hiện.
Tuy nhiên bớc vào giai đoạn 1976-1985,nền kinh tế đã có nhiều biểu hiện
suy thoái, khủng hoảng và lạm phát. Lạm phát thời kì này là lạm phát phi mã
700-800%.Lạm phát này phá vỡ hoàn toàn mọi cân đối và hệ thống tài chính-tiền
tệ rối loạn,kinh tế-xã hội có nhiều biến động xấu.Sản xuất đình đốn, kinh doanh
kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, chi phí vật chất cao, thu nhập quốc dân
tăng không đáng kể, đời sống của ngời dân giảm sút, giá cả ở thị trờng chính thức
và thị trờng chợ đen có khoảng cách khá xa. Nông nghiệp với tỷ trọng chiếm trên
40%tổng sản phẩm xã hội và khoảng 50% thu nhập quốc dân nhng giá trị sản xuất
nông nghiệp tăng bình quân chỉ ở mức 3,8%/năm.Độc canh cây lúa với tổng sản l-
ợng lơng thực chỉ đạt 18,2 triệu tấn vào năm 1985 nên tình trạng thiếu lơng thực
và đói ăn của ngời dân kéo dài triền miên,công nghiệp cũng chỉ tăng
5,2%/năm.Dịch vụ hầu nh không phát triển, xuất khẩu thì với số lợng nhỏ bé, chỉ
đạt khoảng 746 triệu USD vào năm 1985, trong khi thâm hụt cán cân thơng mại lại
9
cao(844 triệu USD năm1985) gấp 1,13 lần so với xuất khẩu. Thời kì 1976-1980,
vay nợ và viện trợ nớc ngoài chiếm 38,2% tổng số thu ngân sách Nhà nớc và bằng
61,9% tổng số thu trong nớc. Bội chi ngân sách Nhà nớc vào 1980 là 18,1% và
năm1985 là 36,6% so với GDP. Đây là tình trạng đất nớc làm không đủ ăn, tình
hình kinh tế xã hội khó khăn không thể kể hết.
II-Lạm phát ở nớc ta từ đổi mới đến nay
1-Thời kì bắt đầu đổi mới 1986-1990
Bớc sang thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc nhiều thành tựu
quan trọng.
Sau Đại hội Đảng lần VI, công cuộc đổi mới đã đạt đợc những kết quả bớc