Hoàng Thuỳ Dương
MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Việt Nam là quốc gia đang phát triển , do đó chiến lược hướng vào xuất
khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên có vai trò vô cùng
quan trọng trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Trong những năm qua, Việt Nam cũng đã đạt được những kết quả nhất
định trong việc đẩy mạnh xuất khẩu, trong đó nổi bật nhất là hoạt động gia
công xuất khẩu. Tuy nhiên, do đặc thù của gia công xuất khẩu nên phần giá trị
gia tăng trong giá trị hàng xuất khẩu không cao, bên cạnh đó, các doanh nghiệp
Việt Nam không thể thực sự chủ động trong hoạt động kinh doanh quốc tế của
mình: như thiết kế, định giá sản phẩm, tìm thị trường tiêu thụ hoàn toàn do
đối tác đặt gia công quyết định.
Nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu cả về lượng và chất, nâng
cao sức cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế
giới, cần tăng tỉ trọng sản phẩm chế biến sâu và tinh, nâng cao phần giá trị gia
tăng trong hàng xuất khẩu. Để làm được điều đó, các doanh nghiệp Việt Nam
cũng đang dần từng bước chuyển đổi, từ đơn thuần là nhận gia công hàng hoá
cho đối tác nước ngoài sang chủ động nhập nguyên liệu, sản xuất hàng hoá và
tìm thị trường xuất khẩu. Hoạt động này giúp các doanh nghiệp chủ động hơn
trong hoạt động kinh doanh quốc tế từ khâu tìm kiếm nguyên vật liệu, thiết kế
- sản xuất sản phẩm, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm, do đó góp phần làm gia
tăng giá trị trong hàng xuất khẩu, tạo uy tín cho hàng hoá Việt Nam trên thị
trường thế giới, thúc đẩy hoạt động hội nhập quốc tế nhanh chóng, hơn nữa
cũng góp phần thúc đẩy sự tham gia mạnh mẽ hơn của các hoạt động dịch vụ
như giao nhận vận tải, ngân hàng, bảo hiểm
Nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối
ngoại rất đa dạng và phong phú, cùng với những chính sách ưu đãi của Nhà
Luận văn thạc sỹ
1
2
Hoàng Thuỳ Dương
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra những giải pháp, kiến nghị
nhằm hoàn thiện các thủ tục Hải quan đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản
xuất hàng xuất khẩu tại Cục Hải quan TP Hà Nội để tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn cần phải thực hiện các nhiệm vụ
sau:
(1) Nghiên cứu cơ sở lý luận về nhập khẩu hàng hoá để sản xuất hàng
xuất khẩu và thủ tục hải quan đối với hoạt động này.
(2) Phân tích thực trạng thủ tục hải quan đối với nguyên liệu nhập khẩu
để sản xuất hàng xuất khẩu tại Cục Hải quan TP Hà Nội – nhìn từ góc độ
doanh nghiệp để tìm ra các ưu điểm, hạn chế hiện nay cũng như các nguyên
nhân của các ưu điểm và hạn chế đó.
(3) Đề xuất những giải pháp, kiến nghị để khắc phục những hạn chế và
phát huy những ưu điểm trong việc thực hiện thủ tục hải quan đối với nguyên
liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu tại Cục Hải quan TP Hà Nội – nhìn
từ góc độ doanh nghiệp
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề thủ tục Hải quan đối với
nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp ở
Cục Hải quan TP Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu là vấn đề thủ tục Hải quan trong khâu nhập khẩu
nguyên liệu và thủ tục Hải quan ở khâu xuất khẩu sản phẩm sử dụng nguyên
liệu nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Cục Hải quan TP Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương
pháp khác nhau. Đó là phương pháp duy vật biện chứng, hệ thống hoá, phương
Luận văn thạc sỹ
khẩu) nhìn từ góc độ doanh nghiệp. Để thực hiện được mục tiêu trên, Chương
này trình bày bốn nội dung chính:
(1) Tổng quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá.
(2) Những vấn đề chung về nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng
xuất khẩu và thủ tục Hải quan đối với hoạt động này.
(3) Sự cần thiết phải hoàn thiện thủ tục Hải quan đối với nguyên liệu
nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.
(4) Các nhân tố ảnh hưởng đến thủ tục Hải quan đối với nguyên liệu
nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.
Sau đây là nội dung chi tiết của của từng mục.
1.1. Tổng quan về xuất-nhập khẩu hàng hoá
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá
Xuất khẩu, nhập khẩu là hoạt động bán, mua hàng hoá giữa
các thương nhân ở các nước khác nhau nhằm đạt được mục tiêu
kinh tế tối đa và các lợi ích xã hội khác.
Hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá có một số đặc điểm nhất định. Thứ
nhất, các chủ thể tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu có sự khác biệt về văn
hoá, ngôn ngữ, tập quán, thị hiếu, tiêu dùng nên việc lựa chọn bạn hàng để
giao dịch và ký kết hợp đồng là một vấn đề hết sức quan trọng trong hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu. Thứ hai, tuyệt đại đa số hàng hoá được giao dịch
trong hoạt động xuất nhập khẩu có sự di chuyển qua biên giới quốc gia. Thứ
ba, thanh toán tiền hàng xuất nhập khẩu khá phức tạp và có nhiều rủi ro do
Luận văn thạc sỹ
5
Hoàng Thuỳ Dương
đồng tiền thanh toán là ngoại tệ nên các bên mua bán có thể hưởng lợi hoặc
chịu thiệt do tỷ giá hối đoái biến động. Thứ tư, hoạt động xuất nhập khẩu chịu
sự điều chỉnh của nhiều quy định pháp luật như các nội luật (luật thuế xuất
nhập khẩu, luật thương mại ) hoặc công ước quốc tế về thương mại quốc tế
lựa chọn bạn hàng giao dịch), người mua hỏi giá và đặt hàng, người bán chào
giá, hai bên hoàn giá (mặc cả) và chấp nhận giá. Cuối cùng hợp đồng được ký
kết hoặc bằng cách ký vào một văn bản; hoặc bằng cách trao đổi thư từ và điện
tín.
b. Xuất nhập khẩu theo phương thức giao dịch qua trung gian:
Trong hoạt động xuất nhập khẩu theo phương thức giao dịch qua trung
gian, mọi việc kiến lập quan hệ giữa người bán với người mua và việc quy
định các điều kiện mua bán đều phải thông qua một bên thứ ba. Người thứ ba
này gọi là người trung gian mua bán, người trung gian buôn bán phổ biến trên
thị trường là đại lý và môi giới.
Giao dịch trung gian hiện chiếm khoảng 52% kim ngạch buôn bán thế giới.
c. Xuất nhập khẩu theo phương thức buôn bán đối lưu:
Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết
hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng
trao đổi với nhau có giá trị tương đương. Theo phương thức này, mục đích của
xuất khẩu không phải là nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một
hàng hóa có giá trị tương đương. Vì những đặc điểm đó, người ta còn gọi đây
là hoạt động xuất nhập khẩu liên kết hoặc phương thức hàng đổi hàng.
Xuất nhập khẩu theo phương thức buôn bán đối lưu đã ra đời từ lâu
trong lịch sử quan hệ hàng hoá - tiền tệ, trong đó sớm nhất là "hàng đổi hàng"
và trao đổi bù trừ. Trong những năm gần đây, đi đôi với việc nảy sinh các hình
thức mới, hai hình thức truyền thống trên đây cũng có những thay đổi đáng kể.
Trong nghiệp vụ hàng đổi hàng (batrer), hai bên trao đổi trực tiếp với
nhau những hàng hóa có giá trị tương đương, việc giao hàng diễn ra hầu như
đồng thời. Trong nghiệp vụ hàng đổi hàng cổ điển, đồng tiền không được dùng
Luận văn thạc sỹ
7
Hoàng Thuỳ Dương
để thanh toán và chỉ có hai bên tham gia. Trong nghiệp vụ hàng đổi hàng hiện
định mới được dự thầu.
f. Xuất khẩu khẩu thông qua sở giao dịch hàng hoá.
Sở giao dịch hàng hoá là một thị trường đặc biệt tại đó thông qua những
người môi giới do sở giao dịch chỉ định, người ta mụa bán các loại hàng hoá có
khối lượng lớn, có tính chất đồng loại, có phẩm chất có thể thay thế được với
nhau. Những sở giao dịch lớn trên thế giới gồm có London, New York (về kim
loại màu), London, New York, Rotterdam, Amsterdam (về cà phê)
Xuất nhập khẩu thông qua sở giao dịch được thực hiện dưới ba hình
thức. Thứ nhất là các giao dịch xuất nhập khẩu giao ngay, theo đó hàng hoá
được giao ngay và trả tiền ngay vào lúc ký kết hợp đồng. Hợp đồng giao ngay
được ký trên cơ sở hợp đồng mẫu của sở giao dịch giữa những người có sẵn
hàng muốn giao ngay và người có nhu cầu được giao ngay. Vì vậy đó là hợp
đồng hiện vật. Giá cả mua bán ở đây gọi là giá giao ngay (spot pricẹ hay spot
quotation). Giao dịch này chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng 10%) trong các giao
dịch ở sở giao dịch. Thứ hai là các giao dịch kỳ hạn (forward transaction) với
việc giá cả được ấn định vào lúc ký kết hợp đồng nhưng việc giao hàng và
thanh toán đều được tiến hành sau một kỳ hạn nhất định, nhằm mục đích thu
lợi nhuận do chênh lệch giá giữa lúc ký kết hợp đồng và lúc giao hàng. Thứ ba
là nghiệp vụ tự bảo hiểm (Hedging) - một biện pháp kỹ thuật thường được các
nhà buôn nguyên liệu, các nhà sản xuất sử dụng nhằm tránh những rủi ro biến
động giá cả làm thiệt hại đến số lãi dự tính, bằng cách lợi dụng giao dịch
khống trong sở giao dịch.
i. Xuất nhập khẩu thông qua các giao dịch tại hội chợ và triển lãm.
Hội chợ là thị trường hoạt động định kỳ, được tổ chức vào một thời gian
và ở một địa điểm cố định trong một thời hạn nhất định, tại đó người bán (nhà
xuất khẩu) đem trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua (nhà
nhập khẩu) để ký kết hợp đồng mua bán.
Luận văn thạc sỹ
9
Luận văn thạc sỹ
10
Hoàng Thuỳ Dương
1.1.3. Quy trình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá
Về cơ bản, một quy trình xuất nhập khẩu hàng hoá bao gồm ba nội dung
cơ bản: (1) Nghiên cứu tiếp cận thị trường xuất nhập khẩu; (2) Chuẩn bị giao
dịch và ký hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu và (3) Tổ chức thực hiện hợp
đồng xuất nhập khẩu
1.1.1 1.1.3.1. Nghiên cứu tiếp cận thị trường xuất nhập khẩu:
Việc nghiên cứu tiếp cận thị trường xuất nhập khẩu đươc thực hiện
thông qua việc nghiên cứu tiềm năng thị trường và nghiên cứu khả năng thâm
nhập thị trường. Đối với nghiên cứu tiềm năng thị trường, nhà xuất khẩu
nghiên cứu khả năng bán sản phẩm của mình vào thị trường đó, yêu cầu của thị
trường về quy cách, phẩm chất, về số lượng, về chất lượng hàng thế nào, về
bao bì đóng gói ra sao. Đối với nhà nhập khẩu, đó là nghiên cứu khả năng
mua sản phẩm mình cần nhập khẩu về, sự đáp ứng của thị trường về quy cách,
phẩm chất, số lượng, chất lượng
Nghiên cứu khả năng thâm nhập thị trường là nghiên cứu các điều kiện
bán hàng vào thị trường (đối với nhà xuất khẩu) hoặc mua hàng từ thị trường
(đối với nhà nhập khẩu). Những điều kiện này là điều kiện thương mại (giá cả,
việc cung ứng hàng ), điều kiện luật pháp (khả năng chuyển nhượng, luật áp
dụng, khả năng bảo hành ), điều kiện địa lý (việc chuyên chở, tiền cước, phí
bốc dỡ chậm )
1.1.2 1.1.3.2. Chuẩn bị giao dịch và ký hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu:
Sau giai đoạn nghiên cứu tiếp cận thị trường là giai đoạn giao dịch,
thương lượng với nhau về các điều kiện để đi đến ký kết hợp đồng.
Các nhà xuất nhập khẩu thực hiện những bước giao dịch chủ yếu như
hỏi giá (Inquiry), chào giá (Offer), đặt hàng (Order, hoàn giá (Counter –
Offerc), chấp nhận (Acceptance), xác nhận (Confirmation). Bên cạnh đó, để
Bước cuối cùng là nhà xuất khẩu có thể phải giải quyết các khiếu nại có liên
quan sau khi hàng hoá đã được xuất khẩu.
Luận văn thạc sỹ
12
Kiểm
nghiệm
hàng hoá
Ký hợp
đồng XK
Kiểm tra
L/C (qua
ngân hàng)
Xin giấy
phép XK
Chuẩn
bị hàng
hoá
Giao
hàng lên
tàu
Làm thủ
tục hải
quan
Uỷ thác
thuê tàu
Mua bảo
hiểm
Giải
quyết
Nhận
hàng
Làm thủ
tục hải
quan
Mua bảo
hiểm
hàng hoá
Giao hàng
cho đơn
vị đặt
hàng
Khiếu nại về
hàng hoá
(nếu có)
Làm thủ tục
thanh toán
Xin giấy
phép nhập
khẩu
Mở L/C
khi bên
bán báo
Đôn đốc
bên bán
giao hàng
Thuê
tàu
Hoàng Thuỳ Dương
Hình 2. Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Đôn đốc
bên bán
giao hàng
Thuê
tàu
Hoàng Thuỳ Dương
1.2. Những vấn đề chung về nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng
xuất khẩu và thủ tục hải quan đối với hoạt động này.
1.2.1. Nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng
xuất khẩu.
1.1.1 1.2.1.1. Vai trò của việc nhập khẩu nguyên liệu để
sản xuất hàng xuất khẩu
Học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, khi được nghiên cứu
trong trạng thái động (tức là loại bỏ các giả thuyết năng suất lao động và giới
hạn nguồn lực của một quốc gia là không đổi) cho phép hình thành cơ chế để
tạo ra lợi ích mới của thương mại, đó là tự do hoá thương mại sẽ làm thay đổi
mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất do việc di chuyển các yếu tố sản xuất từ
nước này sang nước khác. Điều này hoàn toàn đúng với các nước đang phát
triển, trong đó có Việt Nam.
Các tổ chức như WTO thừa nhận rằng tự do hoá thương mại và sự loại
bỏ những trở ngại đối với thương mại đem lại lợi ích toàn diện đối với các
quốc gia. Lợi ích này bao gồm việc mở rộng các ngành sản xuất và do đó tạo
ra ngày càng nhiều công ăn việc làm và sự cải thiện đáng kể về mức sống của
người dân.
Nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu sẽ một mặt làm tăng
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, qua đó cải thiện cán cân thanh toán. Mặt khác,
hoạt động này còn nâng cao hiệu quả sản xuất quốc gia, đẩy mạnh hoạt động
sản xuất xuất khẩu trong khi không có hoặc thiếu hụt nguồn nguyên liệu hay
công nghiệp phụ trợ còn non yếu.
1.1.2 1.2.1.2. Nội dung của hoạt động nhập khẩu nguyên
nghiệp có thể sử dụng nguyên liệu đã nhập khẩu kết hợp với nguyên liệu trong
nước hoặc chỉ nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất mặt hàng cần xuất khẩu.
Luận văn thạc sỹ
16
Hoàng Thuỳ Dương
Ở khâu xuất khẩu sản phẩm sử dụng nguyên liệu nhập khẩu, doanh
nghiệp thực hiện các bước công việc của quy trình xuất khẩu hàng hoá. Đầu
tiên doanh nghiệp tiến hành tìm kiếm thị trường và khách hàng tiềm năng. Sau
khi lựa chọn được khách hàng, theo doanh nghiệp thực hiện các bước chào giá
xuất khẩu, chấp nhận giá xuất khẩu. Tiếp theo, doanh nghiệp thực hiện đàm
phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu, trong đó các yếu tố giá xuất khẩu, số
lượng hàng và thời hạn xuất hàng được quan tâm hàng đầu. Cuối cùng, doanh
nghiệp thực hiện quy trình xuất khẩu hàng hoá với các bước cơ bản như kiểm
tra L/C, xin giấy phép xuất khẩu
1.2.2. Thủ tục hải quan đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất
hàng xuất khẩu.
1.1.1 1.2.2.1 Yêu cầu của các doanh nghiệp về thủ tục hải
quan đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu
Thủ tục hải quan được hiểu là tất cả các hoạt động mà các bên liên quan
và Hải quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ Luật Hải quan. Do đó,
doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường có một số yêu cầu nhất định đối với thủ
tục hải quan.
Thứ nhất là loại bỏ những khác biệt giữa thủ tục và thông lệ Hải quan
của các nước mà có thể gây trở ngại cho hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu
hàng hóa, thực sự đóng góp hiệu quả vào sự phát triển hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
Thứ hai là tạo thuận lợi, hài hòa và đơn giản hóa thủ tục và thông lệ Hải
quan, tăng tốc độ khai báo hồ sơ và xử lý hàng hóa. Cụ thể:
o Cơ
đổi bổ sung tờ khai hàng hóa ngay cả khi việc kiểm tra tờ khai hàng
Luận văn thạc sỹ
18
Hoàng Thuỳ Dương
hóa đã bắt đầu, nếu những lý do đưa ra được cơ quan Hải quan
chấp nhận.
o Mẫu hàng chỉ được lấy khi Hải quan thấy cần thiết cho việc
xác định mã số thuế và/hay giá trị của hàng hóa khai báo hay để
đảm bảo việc thi hành các quy định khác của luật pháp quốc gia.
Mẫu chỉ được lấy ở mức tối thiểu cần thiết.
o Hải quan không được áp dụng hình phạt nặng nếu xác định
được rằng các sai sót là do sơ ý. Nếu cơ quan Hải quan thấy cần
thiết phải cảnh cáo để không lặp lại các sai sót đó, thì có thể áp
dụng hình phạt nhưng không được quá nặng so với mức cần thiết
cho mục đích đó
o Hàng hóa đã khai báo phải được giải phóng ngay sau khi Hải
quan đã kiểm tra hàng hay đã quyết định không kiểm tra hàng.
Thứ ba là áp dụng các kỹ thuật hiện đại như quản lý rủi ro và áp dụng tối
đa công nghệ thông tin trong quản lý nhằm hiện đại hóa thủ tục và thông lệ hải
quan để tăng cường hiệu lực và hiệu quả. Đối với những doanh nghiệp đáp ứng
các tiêu chuẩn do cơ quan Hải quan quy định, như có truyền thống tuân thủ các
quy định của Hải quan và có một hệ thống quản lý sổ sách kinh doanh tốt, cơ
quan Hải quan nên cho phép:
o Giải phóng hàng trên cơ sở những thông tin tối thiểu cần thiết
cho phép xác định được hàng hóa và cho phép hoàn thành tờ khai
hàng hóa sau;
o Làm thủ tục thông quan tại trụ sở của người khai hải quan hay
tại các địa điểm khác được cơ quan Hải quan cho phép; và tùy theo
khả năng cho phép, được thực hiện các thủ tục ưu đãi khác như:
thuế này)
Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải thực hiện báo cáo thanh
lý nguyên liệu nhập khẩu trên cơ sở sản phẩm đã xuất khẩu và định mức sử
dụng nguyên liệu để sản xuất sản phẩm đã đăng ký với cơ quan hải quan.
Luận văn thạc sỹ
20
Hoàng Thuỳ Dương
1.1.4 1.2.2.3 Thủ tục Hải quan đối với nguyên liệu nhập
khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu
Thủ tục hải quan đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất
khẩu đã được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam
trong nhiều năm qua và về cơ bản gồm một số nội dung sau
- Thứ nhất: Đăng ký hợp đồng nhập khẩu, các danh mục nguyên vật liệu
nhập khẩu và thủ tục hải quan nhập khẩu nguyên liệu.
- Thứ hai: Đăng ký định mức tiêu hao
- Thứ ba: Thủ tục hải quan đối với xuất khẩu sản phẩm.
- Thứ tư: Thủ tục thanh khoản tờ khai nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất
hàng xuất khẩu
Quy trình thủ tục tổng quát được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
Luận văn thạc sỹ
21
Trả DN 01 QĐ và
hồ sơ xuất trình
Đăng ký định mức
- Tiếp nhận bản định mức; đóng dấu tiếp nhận
- Kiểm tra định mức khi có nghi vấn
Làm thủ tục xuất khẩu sản phẩm
1- Tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra hồ sơ, đăng ký tờ
NGHIỆP
HẢI QUAN
Hoàng Thuỳ Dương
Hình 3: Sơ đồ quy trình tổng quát về thủ tục hải quan đối với nguyên liệu
nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá việc thực hiện quy
trình thủ tục hải quan đối với nguyên liệu nhập khẩu để
sản xuất hàng xuất khẩu –Nhìn từ góc độ doanh
nghiệp.
1.1.1 1.2.3.1. Các tiêu chí đánh giá các quy định về thủ tục hải quan – nhìn từ
góc độ doanh nghiệp.
Luận văn thạc sỹ
22
Hoàng Thuỳ Dương
Hai tiêu chí quan trọng để đánh giá về thủ tục hải quan nói chung và thủ
tục hải quan đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu nói
riêng là tính khoa học cải tiến và tính ổn định của các quy định về thủ tục hải
quan.
Tính khoa học của các quy định về thủ tục hải quan thể hiện ở sự đơn
giản, dễ hiểu, thuận tiện, cải tiến và chặt chẽ của các quy định này. Để lượng
hoá tính khoa học của quy định về thủ tục hải quan nhìn từ góc độ của doanh
nghiệp, các Hiệp hội doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại các nước trên thế giới
thường dùng phương pháp điều tra thông qua phiếu lấy ý kiến. Nguyên tắc xây
dựng các câu hỏi điều tra thường là:
o Mức độ đơn giản: ít bước công việc thực hiện khi kê khai.
o Mức độ dễ hiểu: các doanh nghiệp khi đọc các quy định có thể thực
hiện ngay.
o Mức độ thuận tiện: các doanh nghiệp dễ dàng cập nhật các quy định
mới sửa đổi, bổ sung.
hải quan trung bình hàng năm. Số lần thay đổi cũng như tỷ lệ thay đổi nói trên
càng thấp thì tính ổn định càng cao.
Các quy định về thủ tục hải quan càng ổn định thì doanh nghiệp càng chủ
động trong hoạt động của mình, qua đó giảm thiểu các rủi ro bất lợi về mặt
chính sách của Nhà nước.
Để lượng hoá tính ổn định của các quy định về thủ tục hải quan nhìn từ
góc độ doanh nghiệp, phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu lấy ý kiến
cũng thường được các tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp xuất nhập khẩu lựa
chọn. Dựa trên việc xác định số lần thay đổi thực tế cũng như tỷ lệ thay đổi
trung bình thực tế hàng năm của quy định về thủ tục hải quan, các câu hỏi khảo
sát có thể được xây dựng tương tự như phần khảo sát đối với tính khoa học của
thủ tục hải quan.
Luận văn thạc sỹ
24
Hoàng Thuỳ Dương
1.1.2 1.2.3.2. Các tiêu chí đánh giá về thực hiện quy định
thủ tục hải quan – Nhìn từ góc độ doanh nghiệp.
Dưới góc độ doanh nghiệp, việc đánh giá thực hiện quy định thủ tục hải
quan được dựa trên việc đánh giá cơ quan đã sử dụng các nguồn lực và tổ chức
thực hiện như thế nào trong xử lý thủ tục hải quan. Do vậy, việc đánh giá sẽ
được thực hiện dựa vào các tiêu chí liên quan đến ba nhân tố cơ bản của cơ
quan hải quan trong xử lý thủ tục hải quan đối với nguyên liệu nhập khẩu để
sản xuất hàng xuất khẩu của doanh nghiệp: (1) trang thiết bị và công nghệ
thông tin của cơ quan hải quan; (2) cán bộ hải quan và (3) cách tổ chức thực
hiện quy định thủ tục hải quan của cơ quan hải quan.
a. Các tiêu chí đánh giá về trang thiết bị và công nghệ tin học phục vụ
xử lý thủ tục hải quan.
Trang thiết bị và công nghệ tin học ứng dụng là hai tiêu chí quan trọng
để đánh giá về việc thực hiện quy trình thủ tục hải quan đối với nguyên liệu