Đánh giá tác động một số yếu tố đến thu nhập của hộ sản xuất chè ở xã tân cương thành phố thái nguyên - Pdf 13

1
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Chè là cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới, là cây trồng xuất hiện từ lâu đời, được trồng khá phổ biến trên thế
giới. Đặc biệt là một số quốc gia khu vực châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản,
Việt Nam… Nước chè là thức uống tốt, rẻ tiền hơn cà phê, ca cao, có tác dụng
giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích hoạt động
của hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và chữa được một số bệnh đường ruột. Đặc biệt
chất Tanin trong chè có khả năng hút chất phóng xạ, do đó nó còn chống được
một số bệnh do các chất phóng xạ gây ra. Chính vì các đặc tính ưu việt trên,
chè đã trở thành sản phẩm đồ uống phổ thông trên toàn thế giới. Hiện nay đã
có trên 40 nước trên thế giới sản xuất chè, trong khi có trên 200 nước tiêu thụ
chè. Đây chính là một lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất chè ngày càng
phát triển.(Lê Lâm Bằng, 2008) [3].
Việt Nam là một nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát
triển . Chè có lịch sử phát triển trên 4000 năm, cây chè ở Việt Nam cho năng
suất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế. Tạo việc làm cũng như
thu nhập hàng năm cho người lao động, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền
núi. Với ưu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có
nhu cầu lớn về xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước, cây chè được coi là
cây trồng mũi nhọn, một thế mạnh của khu vực trung du miền núi.(Phùng Văn
Chấn, 1999)[5]
Cây chè có một vị trí đặc biệt trong nền kinh tế và trong đời sống của
người dân Việt Nam. Ngoài giá trị dinh dưỡng, cây chè là cây công nghiệp lâu
năm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao.
2
2
Đã từ lâu trà Việt Nam được xuất khẩu đến nhiều nơi trên thế giới đem lại

cung thuộc các nhóm yếu tố đầu vào như chi phí trung bình, diện tích đất
trồng, kiến thức nông nghiệp, giống và năng suất đất của quá trình sản xuất
chè và không gian lựa chọn là xã Tân Cương thành phố Thái Nguyên, một xã
trồng chè của tỉnh.
Được sự đồng ý của Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, UBND xã Tân Cương thành phố Thái Nguyên,
cán bộ khuyến nông xã, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo: Thạc sĩ Trần Việt
Dũng, tôi tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài: “Đánh giá tác động một số
yếu tố đến thu nhập của hộ sản xuất chè ở xã Tân Cương thành phố Thái
Nguyên”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố ( giống, diện tích đất
trồng chè đang cho sản phẩm, năng suất đất, chi phí trung bình, kiến thức
nông nghiệp) đến thu nhập của hộ sản xuất chè ở xã Tân Cương, thành phố
Thái Nguyên. Trên cơ sở đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho
các hộ sản xuất chè.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tác động của một số yếu tố đến thu nhập của hộ sản xuất chè (
giống, diện tích đất trồng chè đang cho sản phẩm, năng suất đất, chi phí trung
bình, kiến thức nông nghiệp )
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp kinh tế chủ yếu, nhằm ổn
định thu nhập, tăng thu nhập cho hộ sản xuất chè tại địa phương.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập
4
4
Thông qua việc nghiên cứu thực hiện đề tài giúp cho sinh viên nâng cao
được năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng của mình, vận dụng được những
kiến thức đã học ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời bổ sung những kiến

mưa dồi dào 1700-2000 mm/năm. nhiệt độ 21-22,6
0
C, ẩm độ không khí 80-
85 %. Đất đai trồng chè gồm 2 loại phiến thạch sét và bazan màu mỡ.
- Chè trồng ở vĩ tuyến B 11.5-22.5
0
;, chia thành 3 vùng: vùng thấp
dưới 300 m, vùng giữa 300-600 m, vùng cao 600-trên 1000 m, nên chất lượng
chè rất tốt.
- Giống chè bản địa gồm 2 giống Trung Du và Shan, làm được chè
xanh và chè đen; đặc biệt giống chè Shan miền núi có búp nhiều lông tuyết
trắng, được thị trường quốc tế rất ưa chuộng. Ngoài ra còn những giống chè
tốt làm chè đen, chè xanh, chè ô long, nhập nội của Trung Quốc, Đài Loan,
Nhật Bản, ấn Độ và Srilanka, Inđônêxia. (Đỗ Ngọc Quỹ & Nguyễn Kim
Phong ,2008) [20]
2.1.1.2. Vai trò của chè đối với đời sống con người
Chè là loại cây công nghiệp dài ngày, trồng 1 lần cho thu hoạch nhiều
năm, từ 30 đến 50 năm. Trồng và thâm canh từ đầu, liên tục và sau 3 năm cây
chè đã được đưa vào kinh doanh, mang lại thu nhập kinh tế hàng năm vì năng
suất, sản lượng tương đối ổn định. Từ chè búp tươi, tuỳ theo công nghệ và
cách chế biến sẽ tạo ra các loại sản phẩm chè khác nhau: Chè xanh, chè đen,
chè vàng, chè túi lọc v.v. Chè có nhiều vitamin có giá trị dinh dưỡng và bảo
vệ sức khoẻ. Có tác dụng giải khát, bổ dưỡng và kích thích hệ thần kinh trung
6
6
ương, giúp tiêu hoá các chất mỡ, giảm được bệnh béo phì, chống lão hoá Do
đó chè đã trở thành sản phẩm đồ uống phổ thông trên toàn thế giới.(Đoàn
Hùng Tiến,1998)[17]
Chè có giá trị sử dụng và là hàng hoá có giá trị kinh tế, sản xuất chè
mang lại hiệu quả kinh tế khá cao góp phần cải thiện đời sống cho người lao

- Sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm và sản phẩm hàng hóa trên một cơ
sở diện tích, với hao phí lao động sống và lao động vật hóa trên cơ sở sản
phẩm thấp nhất
- Tạo điều kiện đáp ứng tốt nhất các yêu cầu phục vụ các hoạt động sản
xuất kế tiếp sản xuất nông nghiệp hoặc phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản
xuất nông nghiệp và các nhu cầu của đời sống với lượng đất đai ít nhất.
- Khai thác các tiềm năng và lợi thế của đất đai và các yếu tố gắn với đất
đai, phù hợp với các yêu cầu của thị trường nhằm nâng cao hiệu quả của đất
đai.
* Điều kiện khí hậu
Cây chè thích nghi với các điều kiện khí hậu khác nhau. Nhưng qua số
liệu các nước trồng chè cho thấy, cây chè sinh trưởng ở những vùng có lượng
mưa hàng năm từ 1000 - 4000 mm, phổ biến thích hợp nhất từ 1500 – 2000
mm. Độ ẩm không khí cần thiết từ 70 - 90%. Độ ẩm đất từ 70 - 80%. Lượng
mưa bình quân tháng trên 1000 mm chè mọc tốt, ở nước ta các vùng trồng chè
có điều kiện thích hợp, chè thường được thu hoạch nhiều từ tháng 5 đến tháng
10 trong năm. Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây chè. Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ
không khí dưới 10
0
C hay trên 40oC. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 22
– 28
0
C. Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân bắt đầu phát
triển trở lại. Thời vụ thu hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn tuỳ thuộc chủ yếu
8
8
vào điều kiện nhiệt độ. Tuy nhiên các giống chè khác nhau có mức độ chống
chịu khác nhau. (Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong, 2008)[19]
2.1.2.2. Nhóm nhân tố kinh tế kỹ thuật

- Đốn chè: là biện pháp kỹ thuật cần thiết để nâng cao năng suất, chất
lượng chè. Kết quả nghiên cứu ở Inđônêxia cho thấy hàm lượng càphêin của
nguyên liệu chè đốn cao hơn nguyên liệu chè chưa đốn. Ngoài phương pháp
đốn, thời vụ đốn cũng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng chè. Thường tiến
hành đốn vào thời kỳ cây chè ngừng sinh trưởng, không ra búp từ ngày giữa
tháng 12 đến cuối tháng 1 hàng năm nhưng tập trung chủ yếu vào tháng 1.
- Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp
kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất và chất lượng chè búp.
* Kiến thức nông nghiệp
Kiến thức của người sản xuất nông nghiệp được gọi là kiến thức nông
nghiệp, và có thể được xem như là tổng thể các kiến thức về kỹ thuật, kinh tế
và cộng đồng mà người nông dân có được các ứng dụng và hoạt động sản
xuất của mình. [10]Các nhà kinh tế đã tranh luận về vai trò của kiến thức
nông nghiệp đối với sản xuất nông nghiệp và đưa ra những nhận định của họ:
Wharton (1963) cho rằng với các nguồn lực đầu vào giống nhau thì hai nông
dân với sự khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất
khác nhau, Bhati (1973) nhận định kiến thức nông nghiệp cũng là một yếu tố
đầu vào của sản xuất và coi đây là yếu tố có thể kết hợp các nguồn lực đầu
vào chính như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới và lao động.
Để đo lường kiến thức nông nghiệp các nhà phân tích sử dụng bảng câu
hỏi đánh giá và cho điểm các nội dung liên quan
10
10
Ngày nay trong nền kinh tế tri thức và kinh tế mở thì vai trò của kiến
thức lại càng hết sức quan trọng, trong đó kiến thức kinh tế và kiến thức kỹ
thuật cùng có vai trò quyết định đến thành quả đạt được của người nông dân.
2.1.2.3. Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế xã hội
* Thị trường, giá cả
Thị trường là yếu tố quan trọng có tính quyết định đến sự tồn tại của cơ
sở sản xuất kinh doanh chè, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế thị

biến, từ chè búp tươi tạo ra chè thành phẩm, sau đó mới đem đi tiêu thụ trên
thị trường. Ngoài yêu cầu về chất lượng chè nguyên liệu, thì công tác tổ chức,
chế biến, quy trình chế biến cũng ảnh hưởng tới chất lượng chè thành phẩm.
Hạch toán được giá thành từ đó quyết định được mức giá bán trên thị trường
sao cho phù hợp.
* Hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước
Ngành chè cũng như các ngành sản xuất khác, muốn mở rộng quy mô
và chất lượng trong sản xuất kinh doanh,tăng cao thu nhập cho các hộ trồng
chè nhất thiết phải có hệ thống chính sách kinh tế thích hợp nhằm tạo dựng
mối quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố với nhau để tạo hiệu quả kinh doanh cao
nhất. Kết quả sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào chính sách kinh tế, một chính
sách kinh tế không phù hợp sẽ kìm hãm phát triển của ngành, ngược lại một
chính sách thích hợp sẽ kích thích sản xuất phát triển. Các chính sách này có
thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến thu nhập của hộ sản xuất chè, tiêu
biểu có thể kể đến là: Chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách thị
trường và sản phẩm
2.1.3. Một số lý thuyết kinh tế
2.1.3.1. Thu nhập và các thước đo thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp
12
12
Thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp là giá trị bằng tiền biểu hiện cho
kết quả của quá trình sản xuất và được xác định thông qua các thước đo sau:
Thu nhập gộp (giá trị tổng sản phẩm hay tổng doanh thu ) : là tích của
giá bán sản phẩm và sản lượng đầu ra
Thu nhập ròng ( lợi nhuận ) là hiệu số giữa tổng doanh thu và tổng chi
phí thu, nhập ròng phản ánh hiệu quả kinh tế của sản xuất
Thu nhập lao động gia đình : là tổng của lợi nhuận và chi phí cơ hội
của lao động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất ( Châu Văn
Thành,2005) [16]
Như vậy, cung với giá bán, sản lượng đầu ra, chi phí là những nhân tố

dụng với mỗi kỹ thuật để sản xuất ra mức sản lượng đầu ra theo ý muốn. Tuy
nhiên, mối quan hệ phụ thuộc giữa sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào
ngắn hạn và trong dài hạn có những đặc tính riêng do khả năng thay đổi các
yếu tố đầu vào trong ngắn hạn và dài hạn khác nhau.
2.1.3.3. Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất (TC) là toàn bộ chi phí bằng tiền mà nhà sản xuất đã
chi ra để mua các yếu tố đầu vào, tính đầy đủ chi phí sản xuất còn bao gồm cả
chi phí cơ hội của mọi nguồn lực trong sản xuất là số tiền mà khoản đầu tư có
thể thu được nếu sử dụng nó vào việc khác với mức chi trả cao hơn.
Chi phí trung bình (AC) sẽ xác định chi phí sản xuất tính cho một đơn
vị sản lượng đầu ra, AC = TC/Y
Vì điều kiện về thời gian và kinh phí có hạn nên ở đây tôi chỉ tập trung
nghiên cứu chi phí trong ngắn hạn.
Chi phí sản xuất ngắn hạn: Chi phí sản xuất ngắn hạn (STC) gồm có
chi phí cố định (SFC) và chi phí biến đổi (SVC), trong đó:
14
14
Chi phí cố định (SFC) là toàn bộ chi phí mà nhà sản xuất phải chi ra
trong mỗi đơn vị thời gian cho các yếu tố đầu vào cố định cho dù không sản
xuất ra một sản phẩm nào ví dụ như : tiền thuê hoặc khấu hao trang thiết bị và
nhà xưởng, tiền lương cho bộ phận quản lý, và lãi suất vốn vay, chi phí cố
định không thay đổi khi sản lượng thay đổi. Trong sản xuất nông nghiệp, các
chi phí chính thuộc thuộc chi phí cố định gồm có : tiền mua và thuê đất, khấu
hao tài sản( máy nông nghiệp, nhà kho, sân phơi, công trình thủy nông, vườn
cây lâu năm, gia súc làm việc), và lãi vốn vay. Riêng với cây trồng lâu năm,
các khoản như giống, tiền công, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới
đầu tư trong giai đoạn chưa cho sản phẩm cũng nằm trong chi phí cố định.
Chi phí biến đổi (SVC) là toàn bộ chi phí mua các yếu tố đầu vào biến
đổi như nguyên vật liệu, tiền công lao động trực tiếp, chi phí biến đổi thay đổi
cung với sự thay đổi sản lượng đầu ra trong ngắn hạn. Trong nông nghiệp, chi

Y
A
/S * S/L
A
Trong đó : Y
A
là tổng sản lượng hoặc giá trị tổng sản lượng nông
nghiệp
L
A
: là số lượng lao động nông nghiệp
S: là diện đất gieo trồng
Từ công thức thấy được năng suất nông nghiệp phụ thuộc vào năng
suất đất (Y
A
/S) và hệ số đất – lao động (S/L
A
), do đó muốn tăng năng suất lao
động nông nghiệp cần phải tăng hoặc Y
A
/S hoặc S/L
A
, hoặc tăng cả hai. Tác
động của từng yếu tố năng suất đất và yếu tố hệ số đất – lao động đối với sản
lượng tùy thuộc vào quá trình phát triển của nông nghiệp, thông qua lý thuyết
hàm sản xuất nông nghiệp tăng trưởng theo các giai đoạn phát triển của nhà
kinh tế SS.Park (1992) sẽ thấy được mối tương tác một cách rõ nét.
Qua các giai đoạn phát triển của nông nghiệp khẳng định vai trò quan
trọng của năng suất đất đối với việc tăng năng suất lao động và sản lượng, đặc
biệt trong giai đoạn đang phát triển khi mà lượng lao động nông nghiệp vẫn

chè tại khu vực châu Á và châu Phi tăng khá nhanh, trong đó châu Á
tăng bình quân diện tích là 2,7%/năm và châu Phi là 2,3%/năm.
Mặc dù có tới trên 60 quốc gia trồng chè trên Thế giới, tuy nhiên sản
xuất chè của Thế giới chỉ tập trung ở một số nước như: Trung Quốc, Ấn Độ,
Srilanca, Kenia, Nhật Bản,… Số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng
một số nước trồng chè chính năm 2010 cho thấy như sau:
17
17
- Trung quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về diện tích trồng chè với
94,31 vạn ha, chiếm 37,96% diện tích chè thế giới. Tuy nhiên, năng suất chè
của Trung Quốc không cao chỉ đứng thứ 2 trên Thế giới (sau Ấn Độ) đạt
82,10 vạn tấn
- Ấn Độ mặc dù đứng thứ 2 sau Trung Quốc về diện tích nhưng do có
năng suất chè khá cao, đạt 18,98 tạ khô/ha cho nên có sản lượng chè khô cao
nhất thế giới, đạt 84,5 vạn tấn chiếm 26,43% sản lượng chè trên thế giới
- Kenia là quốc gia đứng thứ 4 trên thế giới về diện tích chè đạt 14 vạn
ha nhưng lại là nước có năng suất cao nhất thế giới đạt 20,71 tạ khô/ha, đạt
sản lượng là 29 vạn tấn, chiếm 9,07% sản lượng chè toàn thế giới. (Nguồn:
Theo FAO Strt Citation 2010)
* Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới
Chè hiện chiếm khoảng 1/3 lượng tiêu dùng của thị trường đồ uống
nóng trên thế giới, nhưng chỉ chiếm 20% tổng giá trị của thị trường đồ uống
này. Điều này cho thấy chè là đồ uống rẻ nhất trong các loại đồ uống nóng.
Theo đánh giá của các chuyên gia trong nhóm các nước sản xuất kinh doanh
chè thuộc tổ chức Nông Lương Quốc Tế, đến hầu hết đầu thế kỉ 21 đã có trên
một nửa dân số thế giới uống chè. Mức tiêu thụ chè bình quân đầu người một
năm trên toàn thế giới là 0,5kg/người/năm và con số này sẽ còn tăng lên trong
thời gian tới.
Người ta thống kê rằng, những nước sản xuất chè lớn nhất thế giới
cũng là những nước tiêu thụ nhiều chè nhất. Hai nước có diện tích, sản lượng

càng trở nên bất lợi. Chính vì vậy, khối lượng chè xuất khẩu nước ta đang có
xu hướng giảm. Giá trị xuất khẩu chè sang thị trường Pakistan chiếm tới gần
¼ tổng kim ngạch của 11 tháng đầu năm 2011 ( chiếm 23,7%) đứng thứ hai là
19
19
thị trường Đài Loan (chiếm 19,2%) tiếp theo là thị trường Trung Quốc (chiếm
11,3%)(Nguồn: Tổng cục Hải quan).
2.2.3. Tình hình sản xuất và kinh doanh chè tại Thái Nguyên
2.2.3.1. Tình hình sản xuất
Sản xuất chè ở Thái Nguyên còn chủ yếu là sản xuất quy mô hộ. Tuy
vậy, do đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, tăng đầu tư thâm canh chè
mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong những năm vừa qua, diện tích, năng
suất, chất lượng, giá trị chè Thái Nguyên không ngừng tăng:
Năm 2008, diện tích chè toàn tỉnh có 16.994 ha, năng suất 8,78 tấn chè
búp tươi/ ha, sản lượng 149.255 tấn;
Năm 2009: 17.309 ha, năng suất 9,17 tấn/ha, sản lượng 158.702 tấn;
Đến năm 2010, diện tích chè toàn tỉnh có 17.660 ha. Năng suất chè búp
tươi năm 2010 đạt 107 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi 171.900 tấn;
Bảng 2.2: Diện tích, sản lượng chè búp tươi
20
20
theo huyện, thành phố, thị xã
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
D. tích
(ha)
S. lượng
búp tươi
(tấn)
D. tích
(ha)

* Cơ cấu giống chè Trung du:
Năm 2001: diện tích 12.302 ha, chiếm 92,09% tổng diện tích chè;
Năm 2005: 10.733 ha (75,9%);
Năm 2010: 11.556 ha (65,43%).
21
21
* Cơ cấu giống mới năng suất, chất lượng cao:
Năm 2001: diện tích 1.016 ha, chiếm 7,6% tổng diện tích chè;
Năm 2005: 3.400 ha (24,06%).
Năm 2010, cơ cấu giống mới là 34,22%. Năm 2011, cả tỉnh trồng mới
và trồng thay thế 1.000 ha chè bằng các giống mới có năng suất và chất lượng
cao. Đến năm 2015, cơ cấu giống mới đạt 60%, giống chè Trung du còn 40%.
Bảng 2.3: Cơ cấu giống chè ở Thái Nguyên
Chủng loại giống
chè
Năm 2001 Năm 2005 Năm 2010
D. tích
Tỉ lệ
(%)
D. tích
Tỉ lệ
(%)
D. tích
Tỉ lệ
(%)(ha) (ha) (ha)
Tổng diện tích 13.358 14.133 17.661
Chè Trung du 12.302 92,09 10.733 75,9 11.556 65,43
Giống mới chọn tạo 960 7,18 3 21,22 5.013 28,38
Giống mới nhập nội 56 0,41 400 2,83 1.028 5,82
- Xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè búp tươi:

* Chế biến chè ở Thái Nguyên
Chế biến chè ở Thái Nguyên theo 2 phương thức chủ yếu:
- Chủ yếu là chế biến theo phương pháp thủ công, truyền thống theo quy
mô hộ. Sản xuất chế biến chè từ lâu đã gắn liền với đời sống xã hội và bản sắc
văn hoá các dân tộc tỉnh Thái Nguyên. Phương pháp chế biến này chiếm
khoảng trên 80% sản phẩm chè Thái Nguyên. Chế biến chè theo phương pháp
truyền thống hiện đang mang lại giá trị, hiệu quả kinh tế rất cao.
- Chế biến chè theo dây truyền công nghiệp: đối với sản phẩm chè đen
theo công nghệ CTC và OTD; đối với các sản phẩm chè xanh.
* Tiêu thụ chè ở Thái Nguyên
23
23
Sản phẩm chè Thái Nguyên hiện chủ yếu là tiêu thụ nội địa.
Sản lượng chè xuất khẩu chiếm tỷ lệ thấp, giá trị xuất khẩu không cao.
Tổng lượng chè xuất khẩu bình quân/năm (trong 3 năm 2008, 2009,
2010) là 5.900 tấn, chiếm 18,8% sản lượng chè búp khô cả tỉnh.
Thị trường xuất khẩu chủ yếu sang các nước Trung Quốc, Anh,
Pakistan, Liên bang Nga, Đài Loan
Bảng 2.4: Tình hình tiêu thụ chè ở Thái Nguyên
Xuất khẩu nước
ngoài/Tiêu thụ
nội địa
Số
lượng
(tấn)
% so tổng
xuất khẩu
% so sản
lượng cả
tỉnh

- Không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn xã Tân Cương, tỉnh Thái
Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Các số liệu phục vụ nghiên cứu được lấy từ năm 2009 –
2011.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm tiến hành nghiên cứu
Tiến hành trên địa bàn xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên.
3.2.2. Thời gian tiến hành nghiên cứu
Từ ngày 16/1/2012 đến ngày 20/5/2012
3.3. Nội dung tiến hành nghiên cứu
3.3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Tân Cương
- Điều kiện tự nhiên: Khái quát vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn.
- Điều kiện kinh tế xã hội: Tình hình sử dụng đất, đặc điểm dân số và lao động.
Kinh tế, xã hội và cơ sở hạ tầng.
- Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.3.2. Đánh giá tác động của một số yếu tố đến thu nhập của Hộ sản xuất
chè tại xã Tân Cương
• Đánh giá quy mô diện tích đất cho sản phẩm chè tại địa phương.
• Đánh giá năng suất chè tại xã Tân Cương và một số yếu tố ảnh hưởng đến
năng suất của cây chè tại đây.
• Đánh giá chi phí trung bình trồng chè.
• Đánh giá kiến thức nông nghiệp của Hộ sản xuất chè.
• Đánh giá tình hình sử dụng các giống chè tại xã.
3.4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
3.4.1. Phương pháp luận
25
25
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cho phương pháp nhìn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status