Hệ thống pháp về hoạt động của NHTM trên TTCK ở Việt Nam hiện nay. - Pdf 23

MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU…. …………………………………………………………………
Error: Reference source not found
B. NỘI
DUNG………………………………………………………………………... Error:
Reference source not found
I. KQC về Ngân hàng Thương mại và Thị Trường chứng khoán . . Error: Reference
source not found
1. Thị trường chứng khoán và hoạt động của thị trường chứng khoán .......... Error:
Reference source not found
1.1. Khái niệm thị trường chứng khoán ................... Error: Reference source not found
1.2. Hoạt động của thị trường chứng khoán ............ Error: Reference source not found
2. Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán .......... Error:
Reference source not found
2.1 Các mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng
khoán. ........................................................................ Error: Reference source not found
2.1.1 Trên thị trường sơ cấp (primary market): ......... Error: Reference source not found
2.1.2 Trên thị trường thứ cấp (secondary market): .... Error: Reference source not found
2.2 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán.. ... Error:
Reference source not found
2.2.1 Ngân hàng là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp
Nhà nước và hình thành các công ty cổ phần. ............ Error: Reference source not found
2.2.2 Ngân hàng giúp các Công ty phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán
sơ cấp. ........................................................................ Error: Reference source not found
2.2.3 Ngân hàng làm trung gian mua bán chứng khoán ở thị trường thứ cấp. ........ Error:
Reference source not found
1
2.2.4 Cung cấp các dịch vụ lưu giữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng. Dịch vụ
này được thực hiện theo hai cách. .............................. Error: Reference source not found
2.2.5 Thực hiện việc thanh toán các chứng khoán. ..... Error: Reference source not found
2.2.6 Công tác thanh toán bù trừ ................................ Error: Reference source not found

1. Đối với Nhà nước và các Cơ quan quản lý thị trường Error: Reference source not
found
2 . Các giải pháp đối với các Ngân hàng thương mại ...... Error: Reference source not
found
C. KẾT LUẬN ......................................................... Error: Reference source not found
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THAM GIA
CỦA CÁC THÀNH VIÊN
1. Tiêu chuẩn đánh giá sự tham gia của các thành viên trong việc xây dựng bài tập
nhóm:
Điểm Đánh giá mức độ tham gia Ghi chú
A Tốt – Nhiệt tình “ + ” : Rất
tốt
B Khá
C Trung bình
D Không tham gia
2. Bảng đánh giá:
TÊN THÀNH VIÊN NHIỆM VỤ ĐIỂM
ĐÁNH GIÁ
3
Lê Thị Hương (Nhóm
trưởng)
Phân công, tổng hợp, đánh giá bài,

A
Lê Thi Dung B.II.2. Sự tham gian của NHTM
trên thị trường chứng khoán
A+
Trần Thị Huyền Trang B.I.3. Mối quan hệ giữa hoạt động
của NHTM và hoạt động của TTCK

vốn qua TTCK. Hình thành đồng bộ thể chế về TTCK; tăng cường hỗ trợ của Nhà
nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, phổ cập kiến thức, tạo điều
kiện thuận lợi cho công chúng tham gia thị trường này".
5
Với trên 5 năm hình thành và hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt
Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Riêng trong năm 2005, chỉ số VNIndex đã
tăng từ 237,23 lên 307,5, tức 30%. Tổng giá trị thị trường đạt 26.878 tỷ đồng, trong
đó cổ phiếu chiếm 10,4%, trái phiếu chiếm 88,7% và chứng chỉ quỹ chiếm 0,9%.
Tuy còn non trẻ, nhưng TTCK Việt Nam đã chứng tỏ là một kênh dẫn vốn quan
trọng, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước. Người ta thường
cho rằng, khi TTCK có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ thì lượng chu chuyển vốn qua
hệ thống Ngân hàng Thương mại (NHTM) bị giảm sút và ngược lại. Tuy nhiên, đặc
thù của nền kinh tế Việt Nam với tiềm năng về vốn trong dân cư còn rất lớn thì nếu có
sự tham gia của các NHTM vào TTCK sớm hơn và mạnh mẽ hơn thì TTCK còn có
những bước phát triển ngoạn mục hơn nữa. Bên cạnh đó việc xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật về hoạt động của NHTM trên TTCK đang là một vấn đề khá nóng
hổi, cần thiết. Làm được điều đó, chúng ta đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho sự
hoạt động và phát triển của NHTM và TTCK.
Chính vì những lý do nêu trên mà nhóm em đi tìm hiểu hệ thống pháp về hoạt
động của NHTM trên TTCK ở Việt Nam hiện nay.
B. NỘI DUNG
I. KQC về Ngân hàng Thương mại và Thị Trường chứng khoán
1. Thị trường chứng khoán và hoạt động của thị trường chứng khoán
Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, 1992 các tổ chức thuộc nghiên cứu BTC và ngân
hàng nhà nước Việt Nam đã triển khai nghiên cứu đề án hinhg thành phát triển thị
trường vốn ở Việt Nam. Ngày 28/11/1996 Chính phủ ban hành nghị định số 75/CP
thành lập UBCKNN – là cơ quan thuộc chính phủ quản lý các hoạt động về chứng
khoán và TTCK ở Việt Nam.
6
Ngày 11/07/1998, Nghị định số 48/1998/ NĐ-CP của chính phủ về chứng khoán

khoán).
1.2. Hoạt động của thị trường chứng khoán
Hoạt động của thị trường chứng khoán được thể hiện qua hoạt động của thị trường
tập trung, thị trường phi tập trung và một số thị trường chứng khoán khác.
- Sở giao dịch chứng khoán hay còn gọi là thị trường tập trung, nơi diễn ra giao
dịch mua bán, trao đổi chứng khoán của các công ty lớn. Tại đây người mua và người
bán (đại lý,môi giới) gặp nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành giao dịch trao
đổi chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán được quản lý một cách chặt chẽ bởi Ủy
ban chứng khoán quốc gia, các giao dịch này chịu sự điều tiết của Luật chứng khoán
và thị trường chứng khoán. Những thị trường chứng khoán được biết đến là sở Giao
dịch chứng khoán Luân Đôn, Sở giao dịch chứng khoán Mỹ, Sở giao dịch chứng
khoán Pa Ri.
- Thị trường chứng khoán phi tập trung: hoạt động của mô hình giao dịch này
thông qua quầy, là thị trường của các nhà buôn, những người tạo thị trường. Các nhà
buôn có một có một danh mục chứng khoán và họ sẵn sàng mua và bán với các nhà
buôn khác cũng như các nhà đầu tư khi những người này chấp nhận giá cả của họ. Thị
trường chứng khoán phi tập trung không có địa điểm giao dịch chính thức mà có thể
diễn ra tại các quầy, sàn giao dịch của các thành viên thông qua điện thoại hay mạng
máy diện rộng. Khối lượng giao dịch của thị trường này lớn hơn rất nhiều lần so với
Sở giao dịch.
Ngoài hai thị trường nêu trên, người ta còn nói đến thị trường thứ ba, thị trường
dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên thị trường tập trung
và thị trường OTC.
8
2. Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán
NHTM có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển TTCK, cả đối với
thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
2.1 Các mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng
khoán.
2.1.1 Trên thị trường sơ cấp (primary market):

nhưng thực tế làm được hay không là do điều kiện cụ thể mỗi ngân hàng trong từng
nước.
Ngày nay, ở các nước, trên TTCK các Ngân hàng tham gia hoạt động với tư cách
là người phát hành và bán các cổ phiếu của mình ( Ngân hàng cổ phần), hoặc mua cổ
phiếu của các doanh nghiệp, của các Ngân hàng khác và của nhà nước, tức là với tư
cách của một khách hàng bình thường trên thị trường. Đồng thời và quan trọng hơn,
các ngân hàng tham gia thị trường với chức năng môi giới ăn hoa hồng hoặc chức
năng kinh doanh chứng khoán.
Trong trường hơp làm chức năng môi giới, ngân hàng trên thực tế chỉ thực hiện
yêu cầu của khách hàng là lấy danh nghĩa của mình để mua bán chứng khoán cho
khách hàng và được hưởng một khoản hoa hồng theo thỏa thuận. với chức năng này,
ngân hàng không hề phải bỏ ra một đồng vốn nào, mọi khoản chi phí khách hàng phải
chịu trách nhiệm cung cấp. Hơn nữa, lợi dụng quyền thay mặt mình và quyền không
phải thông báo cho khách hàng biết đã mua chứng khoán của ai hoặc bán cho ai, ngân
hàng có thể bán ngay số chứng khoán của mình cho khách hàng hoặc mua luôn số
chứng khoán của khách hàng cho mình, nếu thấy có lợi. Chẳng hạn, khi một khách
hàng ủy quyền cho ngân hàng mua cổ phiếu của một công ty nào đó với giá “rẻ nhất”
tại thời điểm quy định, thì ngân hàng sẽ không nhất thiết phải mua các cổ phiếu đó ở
Sở GDCK, mà có thể lấy chứng từ dự trữ của mình để bán cho khách hàng. Tất nhiên,
10
trong trường hợp như vậy, ngân hàng phải nắm vững tỷ giá chính thức để xác định
mức giá bán cho khách hàng.
Các ngân hàng cũng tích cực sử dụng chức năng kinh doanh chứng khoán, tức là
chức năng mua đi bán lại các loại chứng khoán bằng vốn của mình bỏ ra. Đặc điểm
của hình thức kinh doanh này là ngân hàng luôn luôn mua chứng khoán của khách
hàng bằng tiền mình và bán cho khách hàng từ dự trữ của mình. Đồng thời việc thực
hiện các nghiệp vụ này đối với khách hàng không vì mục đích ăn hoa hồng, mà lợi
nhuận chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Nghĩa là ngân hàng sẽ tìm cách mua các
chứng khoán với giá thấp nhất, bán chúng với giá cao nhất.
Một dạng khác của hoạt động kinh doanh trên TTCK của ngân hàng là hoạt động

người mua chứng khoán. Khi đảm nhận vai trò này, Ngân hàng sẽ giúp cho những
người sáng lập công ty chọn lựa loại chứng khoán phát hành, tư vấn về các vấn đề
như lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán và các vấn đề kỹ thuật khác. Trong
những trường hợp đặc biệt, như sẽ phát hành khá lớn, các ngân hàng có thể cùng nhau
chia sẻ việc dự định số phát hành này nhằm giảm thiểu rủi ro, hoặc mua toàn bộ các
cổ phiếu, trái phiếu phát hành mới và sau đó bán lại cho công chúng. Như vậy, Ngân
hàng đã đóng vai trò quan trọng trên thị trường sơ cấp.
2.2.3 Ngân hàng làm trung gian mua bán chứng khoán ở thị trường thứ cấp.
Đây là dịch vụ ngân hàng rất phát triển ở các nước trên thế giới và ở nước ta sau
này, gọi là dịch vụ trung gian chứng khoán (Brokerate service). Hoạt động loại này
của ngân hàng trên thị trường thứ cấp cần phải có luật pháp đảm bảo với các quy định
chặt chẽ, nhằm tránh những trường hợp đầu cơ gây lộn xộn trên thị trường chứng
khoán.
Ở nước ta, khi thành lập Sở giao dịch chứng khoán, có thể nói ngân hàng là ứng cử
viên có nhiều ưu thế nhất vào chức danh người môi giới chứng khoán, bởi lẽ:
12
- Ngân hàng là người hiểu biết khá tường tận về các doanh nghiệp phát hành
chứng khoán (thông qua các quan hệ tín dụng, thanh toán…).
- Ngân hàng là người sẵn có những phương tiện kỹ thuật cần thiết phù hợp với yêu
cầu của người môi giới.
- Ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên có nghiệp vụ chuyên môn liên quan chặt
chẽ và gần gũi với những nghiệp vụ về chứng khoán.
2.2.4 Cung cấp các dịch vụ lưu giữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng. Dịch
vụ này được thực hiện theo hai cách.
Ngân hàng có thể lưu giữ các chứng khoán được sử dụng như vật thế chấp cho một
khoản vay của khách hàng; các ngân hàng nhỏ không có đủ điều kiện để giữ chứng
khoán cho khách hàng, có thể giữ chứng khoán tại một ngân hàng lớn; các doanh
nghiệp công ty cũng có thể có yêu cầu này; những cá nhân có nguồn tiền lớn cũng có
thể nhờ ngân hàng quản lý sinh lời tài sản của họ và giao chứng khoán cho ngân hàng
quản lý.

sôi động, nếu tất cả các khoản thanh toán đều thực hiện bằng tiền mặt thì sẽ mất đi sự
sôi động của thị trường, vì người mua, người bán chỉ lo trả tiền và nhận tiền, thu lệ
phí cũng đã mất hết thời gian, đặc biệt là với các nhà kinh doanh chứng khoán chuyên
nghiệp, các nhà đầu cơ chứng khoán phải có cả một hệ thống người giúp việc mới hy
vọng đáp ứng được công việc thu và trả tiền mặt, và có lẽ sở giao dịch lại biến thành
một “Ngân hàng” và hoạt động giao dịch tiền mặt ngày càng tăng lên theo sự gia tăng
của giao dịch chứng khoán. Để giải quyết được nhược điểm này, người ta áp dụng
thanh toán bằng chuyển khoản, đã giảm đi một gánh nặng lớn, theo đó tất cả ngân
hàng, khi các giao dịch mua bán kết thúc thì mỗi người đều nhận được các giấy báo
Nợ, báo Có mà không cần phải quan tâm đến tiền mặt nữa, đây là một bước tiến lớn
14
giúp cho thị trường chứng khoán hoạt động được trôi chảy hơn. Do đó, chúng ta cần
phải khẩn trương thúc đẩy mở tài khoản cá nhân để tạo thuận lợi cho hoạt động của
thị trường chứng khoán, khi thực hiện thanh toán bằng chuyển khoản đã giảm bớt thời
gian cho các khoản giao dịch, trong khi đó các nhà đầu tư, các nhà môi giới, các
chuyên gia chứng khoán phải thực hiện rất nhiều giao dịch trong ngày do đó để giản
tiện người ta áp dụng việc thanh toán bù trừ để đơn giản hóa việc thanh toán.
Việc thực hiện công tác thanh toán đều do các ngân hàng đảm nhận, nếu công tác
này được tiến hành tốt sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của một thị
trường chứng khoán. Thanh toán và thanh toán bù trừ được thực hiện theo các trình tự
sau:
+ Người mua, người bán, nhà môi giới đều có tài khoản tại một ngân hàng.
Sau khi các lệnh mua bán được các nhà môi giới thực hiện lúc này sẽ có một hóa
đơn được lập để xác định việc mua bán (số lượng, giá cả) để gửi đến ngân hàng nhờ
thanh toán hộ, căn cứ vào hóa đơn ngân hàng sẽ ghi Nợ cho người mua và ghi Có cho
người bán và những người được hưởng hoa hồng, đây là trường hợp thanh toán đơn
giản nhất, tất nhiên theo yêu cầu của khách hàng thì có thể được thanh toán ngay hoặc
sau một thời gian nhất định, thường thì sau từ một đến hai ngày vì không thể tất cả
các giao dịch đều thanh toán được ngay, nếu khách hàng muốn thanh toán “nóng” thì
phải trực tiếp mang hóa đơn đến ngân hàng còn thường thì do các người môi giới

+ Bán riêng cho các nhà đầu tư lớn, hình thức này các nước phát triển đã áp dụng
vì hệ thống các định chế tài chính trung gian phát triển mạnh, đa dạng, nhưng ở nước
ta lại quá ít, chủ yếu tập trung vào ngành ngân hàng tài chính, các công ty tài chính thì
quá nhỏ bé, quĩ bảo hiểm chỉ kinh doanh đơn thuần, quĩ đầu tư, quĩ hưu trí chưa hình
thành. Hình thức phát hành này vừa có lợi cho khách hàng vì huy động được nguồn
vốn nhanh, tập trung, giảm được chi phí phát hành, còn với các nhà đầu tư thì chỉ cần
16
đầu tư mua cổ phiếu của các tổ chức tài chính trung gian mà không cần phải quan tâm
đến người phát hành.
+ Bán trực tiếp cho các nhà đầu tư cuối cùng, đây là hình thức đang áp dụng phổ
biến nhất ở nước ta hiện nay, các công ty cổ phần mới thành lập phát hành cổ phiếu
lần đầu hoặc phát hành bổ sung đều thực hiện bằng cách thông báo trực tiếp đến các
nhà đầu tư, để họ đăng ký mua cổ phần, sau khi số lượng đăng ký mua đủ thì tổ chức
đại hội cổ đông và chuẩn bị các bước chuẩn bị cho phát hành cổ phiếu, với hình thức
này công ty phát hành sẽ giảm được chi phí qua trung gian, nhưng thực tế việc huy
động vốn chậm, kéo dài và có khi không huy động đủ số vốn cần huy động, nhất là
với các công ty mới thành lập sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn từ các
nhà đầu tư. Với các nhà đầu tư thì phải chịu nhiều rủi ro vì trình độ có hạn, lại không
thể tự nhờ vào một trung gian nào giúp đỡ trong việc quyết định đầu tư.
+ Phát hành thông qua sở giao dịch chứng khoán: Tức là có các định chế tài chính
trung giant ham gia bảo lãnh phát hành, đây là hình thức áp dụng phổ biến nhất hiện
nay ở các nước, vì các công ty cổ phần lớn muốn huy động trong thời gian ngắn đủ số
vốn cần thiết, việc làm này chỉ có thể thực hiện được thông qua các định chế tài chính
trung gian bảo lãnh phát hành, tuy chi phí phát hành tăng them nhưng lại thu được
hiệu quả lớn. Hình thức này ở nước ta chưa được áp dụng bởi vì hầu hết các công ty
cổ phần tổ chức dưới dạng công ty cổ phần nội bộ, chưa đạt được là công ty cổ phần
đại chúng. Hình thức này được tiến hành như sau:
Khi công ty làm xong các thủ tục về thành lập công ty thì phải tìm kiếm được các
nhà bảo lãnh, bảo đảm bao tiêu toàn bộ số chứng khoán phát hành, sau đó bán lại cho
các nhà đầu tư cuối cùng để hưởng hoa hồng hay lệ phí phát hành, nó thường được

các nhà môi giới thực hiện lệnh của khách hàng, khách hàng có thể lựa chọn một
trong các loại định chuẩn lệnh như: lệnh có giá trị trong ngày; lệnh có giá trị đến khi
18
hủy bỏ lệnh với giá mở cửa; lệnh với giá đóng cửa; lệnh thực hiện nay tức khắc hoặc
hủy bỏ.
Sau khi khách hàng và công ty chứng khoán đã thống nhất được một số điểm
chính như lựa chọn loại chứng khoán, lựa chọn lệnh và định chuẩn lệnh thì tiến hành
ký kết một bản hợp đồng về mua bán chứng khoán, đây sẽ là cơ sở pháp lý để công ty
chứng khoán thực hiện lệnh của khách hàng.
Sau khi hợp đồng được ký kết, công ty chứng khoán sẽ lập phiếu lệnh để chuyển
đến nhà môi giới ở sở giao dịch chứng khoán thực hiện.
Để sớm hình thành TTCK và phát triển các hoạt động của thị trường này, việc
hoàn thiện hệ thống ngân hàng có công nghệ ngân hàng cao là yêu cầu cấp thiết hiện
nay. Điều này đòi hỏi các Ngân hàng thương mại phải nâng cao và mở rộng các
nghiệp vụ của mình, phát triển công nghệ ngân hàng và đòi hỏi ngân hàng Nhà nước
phải hoàn thiện các chính sách tiền tệ của mình để tạo môi trường thích hợp cho việc
hình thành và phát triển TTCK ở nước ta.
Như vậy, qua quá trình phân tích trên, chúng ta có thể rút ra khái quát về các
nghiệp vụ của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán như sau:
Đối với hoạt động ngân hàng đầu tư, được chia thành 2 nhóm nghiệp vụ, nhóm
được trực tiếp thực hiện hoặc phải triển khai thông qua các công ty con. Ngân hàng
thương mại được phép trực tiếp tư vấn tài chính doanh nghiệp, mua bán, sáp nhập
doanh nghiệp và tư vấn đầu tư chứng khoán; lưu ký chứng khoán, mua bán trái phiếu
chính phủ.
Với các nghiệp vụ như bảo lãnh phát hành chứng khoán; tự doanh chứng khoán
bao gồm cả mua bán cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp; môi giới chứng khoán; quản
lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán… ngân
hàng không được trực tiếp thực hiện mà phải thông qua các công ty con của mình.
* Trên thị trường sơ cấp
19

thể thực hiện các nghiệp vụ sau:
- Kinh doanh trái phiếu:
Mới đưa vào hoạt động từ tháng 8/2005, hoạt động kinh doanh trái phiếu của
NHNT với 13 đối tác là các NHTM và các công ty chứng khoán đã có những kết quả
hết sức khả quan. Tính đến hết năm 2005, tổng doanh số giao dịch đạt khoảng 2.700
tỷ đồng, trong đó chiếm phần lớn là hoạt động bán mua lại (chiếm khoảng 2.670 tỷ
đồng, tức là khoảng 99%). Do vậy có thể thấy rõ ràng hoạt động kinh doanh trái phiếu
của NHNT thực chất là hoạt động chiết khấu, tạo thanh khoản cho thị trường.
Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh trái phiếu, công trái với các nhà đầu tư nhỏ lẻ
cũng có tiềm năng phát triển lớn, nhưng chưa được tổ chức thật sự chuyên nghiệp.
Một ưu điểm nữa của hình thức kinh doanh này là không bị giới hạn bởi thời gian
giao dịch của thị trường chứng khoán tập trung.
- Sản phẩm phái sinh:
Các NHTM có thể thực hiện các sản phẩm phái sinh như: hoán đổi, kỳ hạn, quyền
chọn, hợp đồng tương lai đối với các trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường. Ở đây, sự kết
hợp liên thị trường giữa thị trường tiền tệ với thị trường chứng khoán sẽ cung cấp cho
các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh (đầu cơ) và bảo hiểm rủi ro, đồng thời
tăng tính thanh khoản của thị trường.
- Cho vay chứng khoán:
21
Nghiệp vụ cho vay chứng khoán rất phổ biến đối với các TTCK phát triển. Tại Mỹ,
Cục dự trữ liên bang (Fed) thực hiện nghiệp vụ này với các đại lý sơ cấp đối với trái
phiếu Chính phủ. Nghiệp vụ này một mặt làm tăng thanh khoản của thị trường, mặt
khác giúp Fed điều tiết được lượng cung tiền. Tài sản thế chấp thường là tiền mặt.
Nghiệp vụ cho vay chứng khoán giữa các trung gian tài chính có phạm vi rộng hơn cả
về danh mục chứng khoán cho vay cũng như danh mục tài sản thế chấp. Bên vay thế
chấp tài sản khi nhận chứng khoán và phải trả lại chứng khoán, đồng thời nhận lại tài
sản thế chấp khi đáo hạn. Việc cho vay chứng khoán thực sự góp phần làm tăng tính
thanh khoản của thị trường, đồng thời có thể giúp các bên tham gia (đặc biệt là đối với
các trung gian tài chính) tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kinh doanh chứng khoán

các NHTM có thể đóng vai trò là nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu, đặc biệt là đối
với trái phiếu Chính phủ, vốn đòi hỏi tầm nhìn đầu tư trung và dài hạn. Trên thực tế,
một số lượng lớn trái phiếu Chính phủ và công trái là do NHTM mua.
1.3. Vai trò phân phối, bảo lãnh phát hành
Tại một số thị trường tài chính lớn trên thế giới, các trung gian tài chính, trong đó
có các NHTM đóng vai trò quan trọng trên thị trường trái phiếu với tư cách là đại lý
sơ cấp (Primary Dealers) hoặc bảo lãnh phát hành.
Tại Việt Nam, bảo lãnh phát hành là phương thức phổ biến nhất đối với trái phiếu
Chính phủ. Với độ tín nhiệm cao và tiềm lực tài chính mạnh, các NHTM có ưu thế
lớn khi tham gia bảo lãnh phát hành. Bên cạnh đó, trái phiếu Chính phủ còn được
chào bán qua Trung tâm giao dịch chứng khoán và bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà
nước.
23
Tuy nhiên, Việt Nam chưa có hệ thống các đại lý sơ cấp. Việc hình thành hệ thống
đại lý sơ cấp với sự tham gia của các NHTM sẽ góp phần đẩy nhanh và hiệu quả qúa
trình phân phối trái phiếu Chính phủ.
2. Trên Thị trường thứ cấp
Với vai trò là trung gian trên thị trường, các NHTM có thể thực hiện các
nghiệp vụ sau:
2.1. Kinh doanh trái phiếu
Có thể thấy rõ rằng hoạt động kinh doanh trái phiếu của NHNT thực chất là hoạt
động chiết khấu, tạo thanh khoản cho thị trường. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh
trái phiếu, công trái với các nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng có tiềm năng phát triển lớn, nhưng
chưa được tổ chức thật sự chuyên nghiệp. Một ưu điểm nữa của hình thức kinh doanh
này là không bị giới hạn bởi thời gian giao dịch của thị trường chứng khoán tập trung.
2.2. Sản phẩm phái sinh
Các NHTM có thể thực hiện các sản phẩm phái sinh như: hoán đổi, kỳ hạn, quyền
chọn, hợp đồng tương lai đối với các trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường. Ở đây, sự kết
hợp liên thị trường giữa thị trường tiền tệ với thị trường chứng khoán sẽ cung cấp cho
các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh (đầu cơ) và bảo hiểm rủi ro, đồng thời

Chỉ số Việt Nam – Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ
sở vào ngày sốc 28/7/2000, khi thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt động.
1.1.1 Giai đoạn 2000 – 2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường chứng
khoán
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào
vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000
25

Trích đoạn Hoàn thiện thể chế TTCK và tăng cường năng lực cho các định chế trung gian khác. Các giải pháp đối với các Ngân hàng thương mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status