thành phần loài và đặc điểm phân bố của ốc (gastropoda) ở cạn khu vực phường chiềng sinh tp. sơn la - Pdf 23


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
o0o NGUYỄN THỊ HẰNG
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA ỐC
(GASTROPODA) Ở CẠN KHU VỰC PHƢỜNG CHIỀNG SINH,
TP. SƠN LA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

tình và sự động viên kịp thời của các tổ chức, cá nhân. Em xin bày tỏ lòng biết
ơn tới:
Phòng Khảo Thí và Bảo đảm chất lượng giáo dục, Trường Đại học Tây Bắc
đã tạo điều kiện cho em thực hiện đề tài.
Ban Chủ nhiệm khoa Sinh - Hóa, các giảng viên, cán bộ trong Bộ môn
Động vật - Sinh thái, Trường đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện, giúp đỡ em về
thời gian, trang thiết bị, dụng cụ, hóa chất để hoàn thành đề tài này.
Ủy ban nhân dân phường Chiềng Sinh, nhân dân địa phương đã cung cấp
về các thông tin như: điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa điểm thu mẫu, mẫu vật.
ThS. Hoàng Thanh Thương và ThS. Đỗ Đức Sáng, giảng viên khoa Sinh - Hóa,
Trường Đại học Tây Bắc, những người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong
suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Người thân trong gia đình cùng toàn thể sinh viên lớp K51 ĐHSP Sinh -
Hóa đã động viên giúp đỡ em trong thời gian qua.

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Sinh viên

Nguyễn Thị Hằng MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1 . Lý do chọn đề tài 1


Các bảng

Bảng 1. Thành phần loài ốc cạn ở khu vực nghiên cứu 13
Bảng 2. Cấu trúc thành phần loài ốc cạn giữa các phân lớp ở khu vực nghiên cứu 28
Bảng 3. Sự đa dạng thành phần loài giữa các họ ốc cạn ở khu vực nghiên cứu . 29
Bảng 4. So sánh thành phần loài ốc cạn ở khu vực nghiên cứu với các khu vực
khác 31
Bảng 5. Chỉ số tương đồng về thành phần loài trong khu vực nghiên cứu với các
khu vực nghiên cứu khác 32
Bảng 6. Thành phần loài ốc cạn phân bố theo sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu.35
Bảng 7. Sự đa dạng về thành phần loài, giống, họ ốc cạn theo sinh cảnh ở khu
vực nghiên cứu 38

Các biểu đồ

Biểu đồ 1. Thành phần loài ốc cạn trong các phân lớp ở khu vực nghiên cứu 28
Biểu đồ 2. Tỉ lệ phần trăm (n%) giống, loài của các họ ốc cạn ở khu vực nghiên
cứu 30
Biểu đồ 3. Độ phong phú loài ốc cạn giữa các sinh cảnh trong khu vực nghiên
cứu 37
Biểu đồ 4. Tỉ lệ phần trăm (n%) loài, giống, họ ốc cạn theo sinh cảnh trong khu
vực nghiên cứu 38

Hình vẽ

Hình 1: Sơ đồ khu vực nghên cứu và địa điểm thu mẫu 4
Hình 2. Sơ đồ cấu tạo vỏ ốc cạn… ………………………………………… 12

1

rất sớm. Từ thế kỷ XIX đến năm 1900 đã xác định được 448 loài, giai đoạn từ
2
1900 đến 1975 đã bổ sung thêm 82 loài cho khu hệ ốc cạn ở Việt Nam. Mãi đến
năm 2003 công trình khảo sát của một số tác giả nước ngoài đã bổ sung thêm
246 loài cho thành phần loài đã công bố trước đây [2].

Vì vậy, cần thiết phải mở
rộng nghiên cứu nhóm ốc này ở nhiều vùng khác nhau của Việt Nam .
Phường Chiềng Sinh là một trong những phường trọng điểm của thành phố
Sơn La về kinh tế xã hội. Hiện nay, phường đang đẩy mạnh khai thác núi đá vôi
làm vật liệu xây dựng , ví dụ như khai thác đá để cung cấp nguyên liệu cho nhà
máy xi măng Chiềng Sinh và đất sét để sản xuất gạch (Công ty cổ phần vật liệu
xây dựng I Sơn La và Công ty Sơn Hưng Trung), chính điều này đã làm ảnh
hưởng nghiêm trọng tới sinh cảnh sống của các loài sinh vật trong đó có ốc cạn,
làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự đa dạng của các loài ốc cạn nơi đây. Vì vậy, cần
phải tiến hành nghiên cứu thành phần loài ốc cạn ở phường Chiềng Sinh để có
những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo tồn và phát triển bền vững chúng.
Từ những lí do nêu trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Thành phần
loài và đặc điểm phân bố của ốc(Gastropoda) ở cạn khu vực phường Chiềng
Sinh, TP. Sơn La”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm các mục tiêu sau:
- Xác định thành phần loài ốc cạn ở khu vực phường Chiềng Sinh, thành
phố Sơn La.
- Tìm hiểu đặc điểm phân bố của các loài ốc cạn theo sinh cảnh.
3. Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được 2 mục tiêu trên đề tài tiến hành triển khai các nội dung sau:
- Nghiên cứu thành phần loài ốc cạn ở khu vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài ốc cạn ở khu vực nghiên cứu.

Phân tích và định loại mẫu vật.
4.
1/2014
Phân tích mẫu và định loại mẫu vật.
Tiến hành mô tả các đặc điểm chẩn loại ốc cạn.
5.
2/2014 - 3/2014
Xử lí số liệu thống kê.
6.
4/2014 - 5/2014
Hoàn thành và bảo vệ đề tài.
5. Khái quát điều kiện tự nhiên và xã hội ở khu vực nghiên cứu
5.1. Điều kiện tự nhiên
5.1.2. Vị trí địa lý
Phường Chiềng Sinh là phường cửa ngõ của thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
có tổng diện tích tự nhiên 2.266 ha, mật độ dân số trung bình 475 người/km
2
[22].

Có vị trí giáp ranh như sau: Phía Bắc giáp xã Chiềng Ngần; Phía Nam giáp
xã Chiềng Ban,Chiềng Mung thành phố Sơn La; Phía Đông giáp xã Chiềng
Ngần; Phía Tây giáp xã Hua La.
4

Hình 1.Sơ đồ khu vực nghên cứu và địa điểm thu mẫu
( Vẽ lại theo bản đồ hành chính phường Chiềng Sinh, 2013)
Ghi chú: ● điểm thu mẫu ở sinh cảnh nhân tác.
▲ điểm thu mẫu ở sinh cảnh tự nhiên.
5.1.3. Địa hình
Phường Chiềng Sinh có địa hình mang đặc trưng của địa hình vùng núi Tây

5.1.5. Thuỷ văn
Hệ thống thuỷ văn của phường thưa thớt, bao gồm 2 con suối chính là: suối
Bung Bông và suối Nà Cạn. Các con suối này chỉ hình thành trong mùa
mưa.Vào mùa khô lưu lượng nước ở các suối giảm, đôi khi bị cạn kiệt, gây
nhiều khó khăn cho sản xuất, thiếu nước sinh hoạt và dẫn đến sự kém đa dạng
các sinh vật trong đó có các loài ốc cạn.
5.1.6. Hệ động và thực vật
Khu hệ động vật ở Chiềng Sinh phong phú đặc trưng cho vùng Tây Bắc.
Thực vật chủ yếu là măng tre, mộc nhĩ, cây gỗ nhỏ…Về động vật thì có các loài
Chim, Sóc, Dúi, một số loài bò sát.
Chính sự phong phú về các loài sinh vật nhất là thực vật - nguồn thức ăn,
yếu tố làm tăng độ ẩm, lớp thảm mục cho đất đã góp phần làm phong phú thêm
các loài ốc cạn nơi đây.
5.2. Điều kiện xã hội
5.2.1. Dân số
Dân số toàn phường năm 2010 là 10.761 người với 2.736 hộ, quy mô hộ
3,3- 6 người/hộ, gồm 25 tổ, bản. Mật độ dân số trung bình của phường 475
6
người/km
2
là đơn vị có mật độ dân số khá cao của thành phố Sơn La [22].

Có 5
dân tộc chính là: Kinh, Thái, Tày, Mường, H’Mông. Với mật dân số cao và gồm
nhiều dân tộc, mỗi dân tộc lại có một phong tục tập quán riêng như vậy cũng
ảnh hưởng không nhỏ đến sự đa dạng và phân bố của các loài ốc cạn.
5.2.2. Đời sống xã hội
Phường Chiềng Sinh là phường trọng điểm của thành phố Sơn La về phát
triển kinh tế xã hội, phường có quốc lộ 6 chạy qua, nằm trong vùng kinh tế động
lực của tỉnh. Vì vậy, đời sống người dân được nâng cao tỉ lệ hộ nghèo thấp, thu

về ốc cạn ở vùng Nam Bộ và Trung Bộ như công trình khảo sát và công bố về ốc
cạn của các tác giả: Crosse et Fischer (1863, 1864, 1869); Mabille et Le Mesle
(1866); Crosse (1867, 1868) [19].
Các công trình nghiên cứu về ốc cạn ở vùng phía bắc Việt Nam còn ít trong
thời gian nói trên và chỉ xuất hiện nhiều ở nửa sau thế kỉ XIX như: công trình
của Fischer (1848); Morlet (1886, 1891, 1892); Dautzenberg et Hamonville
(1887); Ancey (1888); Dautzenberg (1893); Bavay et Dautzenberg (1899, 1908,
1909), Dautzenberg et Fischer (1905, 1908)…[19] nghiên cứu ơ
̉
một số nơi trên
vùng núi phía Bắc của nước ta như: Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn,
Lào Cai, Bắc Cạn [7].
Trong thời gian đầu thế kỉ XX do chiến tranh mà việc nghiên cứu về ốc cạn
ở Việt Nam bị ngừng lại, chỉ có một số ít công trình kết hợp với khảo sát địa
chất ở các đảo như: Hoàng Sa, Bạch Long Vĩ (Saurin, 1955, 1960) và một số
điểm khác ở Bắc Bộ (S. Jaeckel, 1950; Varga, 1963) [19].
Sau chiến tranh Việt Nam, việc nghiên cứu ốc cạn được tiếp tục chú ý
nghiên cứu, tuy muộn hơn, bắt đầu bằng một số công trình khảo sát đầu tiên về
thành phần và phân bố ốc cạn ở một số khu vực phía bắc Việt Nam như :
Năm 2003, có công trình của Vermeulen và Maassen khảo sát thành phần
loài và phân bố của ốc cạn ở một số khu vực phía Bắc như Pu Luông, Cúc
Phương, Phủ Lý, Hạ Long, Cát Bà, Cẩm Phả [15]. Các tác giả thống kê được
259 loài trong đó có 246 loài được bổ sung cho số loài đã được công bố trước
đây và bô
̉
sung thêm 120 loài còn chưa xác định được vị trí phân loa
̣
i, có thể là
các loài mới . Năm 2005, ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Xuân Đồng, Nguyễn
Qúy Tuấn, Hoàng Đức Đạt mới đề cập đến hai loài ốc núi: Cyclophorus

còn mang tính chất lẻ tẻ. Một số địa điểm tại Sơn La đã được các tác giả nước
ngoài nghiên cứu như: Mường Bú (Mường La), Gia Phù Phù Yên), nhà tù Sơn
La (thành phố Sơn La)…
Năm 2011 Schileyko đã dựa vào các mẫu vật do các tác giả nước ngoài thu
thập từ thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX và tu chỉnh nguồn mẫu vật đã xác định
được 15 loài và phân loài thuộc các khu vực khảo sát: Cao Pha (Mường La), Gia
Phù (Phù Yên), Pa Khà (Mộc Châu), Chiềng Khoong (Sông Mã) [30].

Năm 2012, Đỗ Văn Nhượng và Trần Thập Nhất đã xác định ở thành phố
Sơn La có 74 loài và phân loài ốc cạn thuộc 49 giống, 19 họ, 2 phân lớp [12].
Năm 2013, Đỗ Văn Nhượng và Đỗ Đức Sáng đã xác định được 62 loài ốc
cạn thuộc 41 giống, 16 họ, 2 phân lớp ở khu bảo tồn thiên nhiên Copia tỉnh phố
Sơn La [13].
9
Những năm gần đây có thêm một số nghiên cứu của sinh viên trường Đại
học Tây Bắc:
Năm 2009, Đỗ Đức Sáng đã xác định được 40 loài ốc cạn thuộc 17 giống,
12 họ, 1 bộ ở khu vực thành phố Sơn La [16].
Năm 2013, Bùi Thị Hoà, Vàng Thị Thêu, Lương Thị Huệ xác định tại khu
vực phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La có 54 loài ốc cạn thuộc 29 giống,16
họ, 3 bộ, 2 phân lớp [3].
Năm 2013, Bùi Thị Mơ đã phát hiện được 54 loài ốc cạn thuộc 38 giống,
18 họ, 2 bộ và 2 phân lớp ở khu vực hang Thẩm Bó, xã Mường Bú, huyện
Mường La, tỉnh Sơn La [6].
Khu vực phường Chiềng Sinh thuộc tỉnh Sơn La tính đến nay thì chưa có
tác giả nào nghiên cứu thành phần loài và phân bố của ốc cạn nơi đây. Do đó
việc tiến hành nghiên cứu ốc cạn ở khu vực phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn
La là việc làm cần thiết nhằm đẩy mạnh các nghiên cứu khác về nhóm này ở
Việt Nam.
8. Phƣơng tiện và phƣơng pháp nghiên cứu

- Đối với mẫu có kích thước lớn nhặt bằng tay hoặc dùng các dụng cụ như
cặp để thu.
- Đối với các mẫu nhỏ phải dùng sàng có mắt lưới cỡ 5mm, 8mm bằng kim
loại để sàng các lá mục, bên dưới sàng được hứng bằng tấm nilon sáng màu
hoặc giấy trắng. Nếu có ốc nhỏ bám dưới lá mục, khi sàng mẫu sẽ rơi xuống và
có thể dùng kính lúp cầm tay hoặc nhìn bằng mắt để nhặt mẫu.
- Đối với các mẫu ốc nhỏ lẫn trong đất hoặc mùn ở các kẽ đá hoặc trong
hang, có thể sử dụng phương pháp cho đất hoặc thảm mục vào chậu nước để
mẫu nổi lên và vớt lấy mẫu.
* Thu mẫu định lượng: Mẫu định lượng được thu lượm trong một đơn vị diện
tích mặt đất có mẫu, diện tích thường được sử dụng là 1m
2
hoặc 0,5m
2
, thậm chí
có thể trong giới hạn 0,25m
2
. Giá trị của mẫu định lượng là cho biết độ phong
phú số lượng và đa dạng về thành phần loài của khu vực nghiên cứu, đồng thời
là cơ sở để đánh giá và so sánh với các khu vực khác.

11
8.2.1.3. Phương pháp quan sát và ghi chép và chụp ảnh.
Quan sát bằng mắt thường các đặc điểm về sinh cảnh sống về các thông tin
như: nhiệt độ, độ ẩm, độ cao, thảm mục… của ốc cạn cũng như tập tính kiếm
ăn, di chuyển… Ghi chép đầy đủ các thông tin về thời gian, đặc điểm thời tiết,
địa điểm thu mẫu, mẫu vật vào sổ ghi chép thực địa.
Tiến hành chụp ảnh thực địa, ảnh thực địa phải phản ánh được các nội dung
nghiên cứu như các loại sinh cảnh điển hình, các loại thảm thực vật, các loại địa
hình, các tính chất đặc biệt của khu vực nghiên cứu, các mẫu đang hoạt động

quan của chúng đến các hình thức sinh sản như đơn tính, lưỡng tính, thụ tinh
trong, cơ quan sinh dục phụ như cơ quan giao phối, ngoài ra còn thêm hình thái
cấu tạo của lưỡi gai.
Nhìn chung các đặc điểm hình thái ngoài thường được sử dụng nhiều hơn
các đặc điểm hình thái giải phẫu vì nó rất dễ sử dụng, không đòi hỏi các dụng cụ
phức tạp và kỹ năng giải phẫu tỉ mỉ như đối với các loài cơ thể có kích thước bé.

Hình 2. Sơ đồ cấu tạo vỏ ốc cạn [8]
h - Chiều cao
l
o
- chiều rô
̣
ng lô
̃
miê
̣
ng vo
̉

l - Chiều rộng
V = h – L
o

- Chiều cao tha
́
p ốc;
L
o
- chiều dài lỗ miệng vỏ


Phân lớp (PROSOBRANCHIA Edwards, 1848)
Bộ ARCHITAENIOGLOSSA Haller, 1890
Cyclophoridae Gray, 1847
9,97
0,69
7,1
6,86

1.
Chamalycaeus sp.
0,08 0,91
M
2.
Cyclophorus diplochius Möllendorff, 1894


0,03
M
7.
Japonia diploloma (Möllendorff, 1901)
0,13 0,19
M
8.
Japonia jucunda E. A. Smith, 1909

TL
9.
Opisthoporus lubricus Bav. et Dau., 1908 10.
Opisthoporus beddomei


Diplommatinidae Pfeiffer, 1857 0,08
0,26

15.
Diplommatina rotundata Saurin, 1853 0,08
0,26
M
16.
Dioryx globulus Möllendorff, 1865

TL

Bộ NERITOPSINA Cox & Knight, 1960
Pupinidae Pfeiffer, 1853
0,45

0,04
0,73
M
21.
Pupina exclamitionis Mabille, 1887
0,19
M

Phân lớp (PULMONATA Cuvier, 1814)
Bộ STYLOMMATOPHORA Schmidt, 1856
Achatinidae Swainson, 1840
0,08
3,51
0,18
0,31

Macrochlamys amboiensis (Martens, 1864)
1,15

1,79
0,57
M
26.
Macrochlamys despecta (Mabille, 1877)
0,38

6,56
0,04
M
27.
Megaustenia imperator (Gould, 1858)
0,08

0,04
2,02
M
28.
Microcystina tonkingensis (Möllendorff, 1901)
3,67
M
29.
Microcystina bilineata


1,23

32.
Camaena duporti (Bav. et Dau., 1908)
0,26

0,23
0,08
M
33.
Trachia marimberti (Bav. et Dau., 1900)
0,11

0,19
1,15
M

Clausiliidae Mörch, 1864
0,04
0,04
0,08
7,17

33.
Clausilia porphyrostoma (Bav. et Dau., 1909)

TL
0,57
1,91

38.
Kaliella tongkingensis (Möllendorff, 1901) 0,57
1,91
M

Glessulidae Godwin - Austen, 1920
0,38

39.
Glessula paviei (Morlet, 1892)
0,38
M

Helicarionidae

TL
43.
Helix nasuta

TL
44.
Helix packhaensis Bav. et Dau., 1903

TL
45.
Helix pseudomiara

TL
46.
Helix vatheleti Bav. et Dau., 1909

TL

0,42

51.
Gudeodiscus giardi (Fisher, 1898)
0,42
M
52.
Plectopylis naulata

TL
53.
Plectopylis sp.

TL

Streptaxidae Gray, 1860
0,08



57.
Lamellaxis clavulinus (Potier et Michaud, 1838) 0,57

M
58.
Paropeas sp.

0,69 M
59.
Prosopeas douveillei

TL
60.
Prosopeas excellens Bav. et Dau., 1909

TL
61.

TL
66.
Prosopeas sp 3.

TL
67.
Subulina gracilis (Hutton, 1834) 0,04

M
69.
Subulina octona (Bruguiere, 1792)
7,98
0,23
1,78
0,04
M
70.
Tortaxis sp.
Ghi chú: (1) - bản Giỏ; (2) - tổ 2; (3) - tổ 4; (4) - bản Hẹo.
M: loài có mẫu; TL: tư liệu

Đối với mỗi loài ốc cạn được ghi nhận đề tài trình bày các nội dung sau:
đặc điểm chẩn loại, phân bố, số lượng cá thể và nhận xét.
HỌ CYCLOPHORIDAE Gray, 1847
1. Chamalycaeus sp.
Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ nhỏ (h = 1,5 - 2,0; l = 3,1 – 4,6 mm), vỏ mỏng,
bề mặt có gờ, không có hoa văn trang trí. Có 3 ½ vòng xoắn, phồng, rãnh xoắn
sâu, vòng xoắn cuối lớn. Tháp ốc hơi nhô (V = 0,3 - 0,5 mm). Lỗ miệng tròn (lo
= 0,5 - 1,0 mm), vành miệng cuộn, chẻ đôi. Lỗ rốn rộng, sâu.
Phân bố: gặp ở sinh cảnh tự nhiên tại bản Giỏ, bản Hẹo.
Số lượng nghiên cứu: 26.
Nhận xét: là loài có kích thước rất nhỏ, dễ bị lẫn trong đất đá, thảm mục,
chỉ bắt gặp ở sinh cảnh tự nhiên trong khu vực nghiên cứu.
2. Cyclophorus diplochius Möllendorff, 1894
Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ lớn (h = 32 - 34; l = 28 - 31 mm), vỏ dày chắc, bề
mặt vỏ được trang trí bởi các hình cánh cung. Có 5 vòng xoắn, phồng, vòng xoắn
cuối chiếm 2/3 chiều cao vỏ ốc. Tháp ốc nhọn (V = 9,0 - 9,3 mm). Lỗ miệng tròn
(lo = 22 - 24 mm), vành miệng cuộn. Lỗ rốn rộng sâu. Có thể trai.
Phân bố: gặp ở tất cả các địa điểm thu mẫu.
Số lượng nghiên cứu: 406.
Nhận xét: loài này rất phổ biến tại khu vực nghiên cứu với số lượng lớn,
phân bố rộng ở cả sinh cảnh tự nhiên và sinh cảnh nhân tác, chúng có kích thước
khá lớn và thường được người dân sử dụng làm thực phẩm rất dinh dưỡng. 17

Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ lớn (h = 10 - 12; l = 25 - 27 mm), vỏ dày, bề
mặt vỏ được trang trí bởi hoa văn hình cánh cung, vòng xoắn cuối có một dải
màu nâu. Có 5 vòng xoắn, phồng, rãnh xoắn sâu, rõ, vòng xoắn cuối hơi tách, có
ngà dài từ 2 - 6 mm. Tháp ốc hơi nhô (V = 3,5 - 5,0mm). Lỗ miệng tròn (lo =
8,0 - 10mm). Lỗ rốn sâu và rất rộng.
Phân bố: gặp ở tất cả các địa điểm trong khu vực nghiên cứu.
Số lượng nghiên cứu: 142.
Nhận xét: là loài có đặc điểm hình thái ngoài giống với Cyclotus sp. và
Platyraphe sp. nhưng có ngà ngắn nối miệng ốc với vỏ ốc.
7. Japonia diploloma (Möllendorff, 1901)
Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ trung bình (h = 5,5 - 7; l = 6,0 - 8,0mm), vỏ
dày, bề mặt có hoa văn hình cánh cung trang trí. Có 5 vòng xoắn, phồng, rãnh
xoắn sâu, rõ, vòng xoắn cuối có kích thước lớn chiếm 1/2 chiều cao vỏ ốc. Tháp
ốc nhọn (V = 2,5 - 3,5 mm). Lỗ miệng tròn (lo = 2,0 - 4,0 mm), vành miệng
cuộn, chẻ đôi và có rãnh thoát nước nhỏ. Lỗ rốn rộng và sâu.
Phân bố: gặp ở sinh cảnh tự nhiên ở bản Giỏ, bản Hẹo.
Số lượng nghiên cứu: 8.
Nhận xét: loài này có hình dạng ốc phổ biến nhưng khá đẹp có thể sử dụng
làm vật trang trí.
HỌ DIPLOMMATINIDAE Pfeiffer, 1857
8. Diplommatina rotundata Saurin, 1853
Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ nhỏ (h = 3,0 - 3,5; l = 1,5 - 2,0 mm), vỏ cứng,
không có hoa văn trang trí. Có 5 vòng xoắn, hơi phồng. Tháp ốc nhọn (V = 1,0 -
2,5 mm). Lỗ miệng tròn (lo = 0,5 - 1,0 mm), môi cuộn 2 lớp rõ ràng phía trong có
một răng nhỏ. Không có lỗ rốn.
Phân bố: gặp ở sinh cảnh tự nhiên tại tổ 4, bản Hẹo.
Số lượng nghiên cứu: 9.
Nhận xét: loài này có kích thước nhỏ, rất khó phát hiện trong đất đá và
thảm mục.



20
Phân bố: gặp ở tất cả các địa điểm thu mẫu.
Số lượng nghiên cứu: 107.
Nhận xét: là loài có kích thước rất lớn, gặp nhiều ở sinh cảnh nhân tác,
thường được sử dụng làm thức ăn cho các vật nuôi, làm thuốc, làm đẹp. Tuy
nhiên chúng cũng loài động vật gây hại, phá hại cây trồng và là vật trung gian
truyền bệnh rất nguy hiểm.
HỌ ARIOPHANTIDAE Godwin-Austen, 1888
12. Hemiplecta sp.
Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ lớn (h = 19 - 31; l = 31- 49 mm), vỏ dày chắc,
bề mặt được trang trí bởi hoa văn hình cánh cung. Vòng xoắn cuối cùng có một
dải màu xanh tím. Có 6 vòng xoắn, phồng, vòng xoắn cuối chiếm 3/4 chiều cao
vỏ ốc. Tháp ốc tù (V = 5,0 - 8,0 mm). Lỗ miệng hình ovan (lo = 15 - 22 mm),
vành miệng sắc. Lỗ rốn hẹp, sâu. Có thể trai.
Phân bố: gặp ở sinh cảnh tự nhiên tại bản Giỏ, bản Hẹo.
Số lượng nghiên cứu: 5.
Nhận xét: là loài có kích thước lớn, vỏ ốc có hình dạng và màu sắc khá đẹp,
có thể sử dụng làm đồ trang trí, chỉ gặp ở sinh cảnh tự nhiên.
13. Macrochlamys amboiensis (Martens, 1864)
Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ trung bình (h = 8,0 - 10 ; l = 18 - 20 mm), vỏ
mỏng, bề mặt trang trí bởi hoa văn hình cánh cung. Có 5 vòng xoắn, phồng, vòng
xoắn phình to. Tháp ốc phẳng ngang bằng với các vòng xoắn (V = 0,5 - 1,0 mm).
Lỗ miệng hình ovan (lo = 8,0 - 11 mm), vành sắc. Lỗ rốn hẹp, sâu. Có thể trai.
Phân bố: gặp ở sinh cảnh tự nhiên tại bản Giỏ, tổ 4, bản Hẹo.
Số lượng nghiên cứu: 92.
Nhận xét: loài này chỉ bắt gặp ở sinh cảnh tự nhiên trong khu vực nghiên cứu.
14. Macrochlamys despecta (Mabille, 1877)
Đặc điểm chẩn loại: Ốc cỡ trung bình (h = 10 - 12; l = 19 - 23 mm), vỏ
mỏng, bề mặt có các vân hình cánh cung. Có 5 vòng xoắn, phồng, vòng xoắn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status