LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này cùng với nỗ lực của bản thân, tôi còn được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo Chu Mai Hương. Ngoài ra tôi cũng
đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Sử - Địa, các cán bộ
thư viện của trường đại học Tây Bắc cũng như của gia đình và bạn bè.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô Chu
Mai Hương – Giảng viên khoa Sử - Địa cũng như toàn thể thầy cô trong khoa Sử
- Địa trường đại học Tây Bắc.
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn phòng thư viện trường đại học
Tây Bắc, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Lưu Thị Nguyệt
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
lịch sử 28
2.2.2. Sử dụng nguyên tắc dạy học nêu vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả bài học
lịch sử 35
2.2.2.1. Giáo viên dẫn dắt học sinh vào tình huống có vấn đề 36
2.2.2.2. Nêu vấn đề 38
2.2.2.3. Tổ chức hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề 38
2.2.3. Sử dụng phương pháp dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả bài học lịch
sử 42
2.2.3.1. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực 42
2.2.3.2. Ý nghĩa của phương pháp dạy học tích cực 43
2.2.3.3. Một số phương pháp dạy học tích cực 43
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong chiến lược phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta bắt đầu quan
tâm đầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách. Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X đã xác định việc đầu tư cho giáo dục cũng có nghĩa là đầu
tư cho sự phát triển bền vững, là đầu tư cho nguồn nhân lực có chất lượng cao
nhằm đưa nước ta từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công
nghiệp vào năm 2020. Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, đội ngũ trí thức giữ vị trí rất quan trọng. Đây chính là yếu
tố then chốt, mang tính quyết định đưa đất nước đi lên như cha ông ta đã từng
nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì nước mạnh,
nguyên khí yếu thì nước suy”.
Nền giáo dục Việt Nam hiện nay, bên cạnh những thành tựu đạt được còn
khá nhiều điều bất cập, trong đó tồn tại lớn nhất tập trung vào chất lượng đào tạo
rằng: “Chỉ cần học những gì giáo viên giảng trên lớp là đủ”. Ngoài ra, sự thụ
động của họ đối với bài giảng của giáo viên trên lớp là họ chấp nhận tất cả
những gì giáo viên trình bày, sự giao tiếp trao đổi thông tin trong lớp học hầu
như chỉ mang tính một chiều.
Môn học lịch sử ở trường phổ thông cũng vậy không nằm lệch khỏi quỹ
đạo đó. Mặc dù phương pháp dạy học lịch sử đã được chú trọng đổi mới, cải tiến
nhiều nhưng nhìn chung vẫn chưa theo kịp các cải tiến về nội dung, chưa đáp
ứng yêu cầu đào tạo, có phần bảo thủ, thực dụng. Sự lạc hậu này là một trong
những trở ngại của việc nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn. Yêu cầu thực tiễn
là phải đổi mới phương pháp để nâng cao trình độ hiểu biết của giáo viên, người
giáo viên có vai trò trở thành nhân tố kích thích trí tò mò của học sinh, mài sắc
thêm năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng tổ chức, sử dụng kiến
thức và khả năng sáng tạo.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử nói
chung, nâng cao hiệu quả dạy học từng khóa trình, từng chương, từng bài cụ thể.
Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề tài Vận dụng sáng tạo, linh hoạt một số
phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả bài học khi dạy học phần lịch sử Việt
Nam từ năm 1930 đến năm 1954, lớp 12 THPT.
3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tiến sĩ N. G. Đairi, trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?”
NXBGD, Hà Nội, 1973, nhà giáo dục Liên Xô cũ đã giành hẳn một mục lớn nói
về tính hiệu quả của một giờ học, một bài học lịch sử. Ông cho rằng: “Hiệu quả
bài học lịch sử là vấn đề mấu chốt, có thể coi là mục tiêu quan trọng của việc
dạy học”.
Tác giả T. A. Ilina trong cuốn “Giáo dục học” tập 2, NXBGD, Hà Nội,
1979 đã nêu ra quan niệm về tính hiệu quả trong dạy học nói chung “Khi học tập
mỗi môn, học sinh sẽ lĩnh hội được một số kiến thức và rèn luyện được một số
kỹ năng, kỹ xảo nhất định có liên quan đến lĩnh vực ấy”. Qua đó ông đã nêu ra
hiệu quả bài học lịch sử.
Phạm Ngọc Liên, Nguyễn Phúc trong cuốn “Phương pháp dạy môn Lịch
sử ở trường phổ thông cấp II”, NXBGD Hà Nội, 1973 đã nêu lên những hạn chế
của việc giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông trong thời gian qua. Qua
đó, các tác giả đi đến khẳng định: “Nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử về mặt lý
luận cũng như thực tiễn không phải là một vấn đề mới, nhưng không có nghĩa là
không còn những vấn đề phức tạp cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết”.
Nguyễn Anh Dũng, Trần Vĩnh Tường trong cuốn “Những vấn đề chung
về bộ môn phương pháp dạy học lịch sử ở Cao đẳng sư phạm”, NXB ĐHSP,
2003 đã giành phần lớn nội dung bài viết bàn về hiệu quả dạy học lịch sử, hiệu
quả bài học lịch sử trong học tập và giảng dạy bộ môn ở nhà trường phổ thông.
Các tác giả nêu lên một số phương pháp cho sinh viên áp dụng, góp phần nâng
cao chất lượng, hiệu quả dạy học lịch sử.
Ngoài ra vấn đề này còn được đề cập qua nhiều tài liệu khác đăng tải trên
các tạp chí nghiên cứu giáo dục, nghiên cứu lịch sử, thông tin khoa học, mạng
Internet, các luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp sinh viên,… Tất cả đều
khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng các phương pháp dạy học nhằm
nâng cao hiệu quả bài học cho học sinh.
Tuy nhiên, những tài liệu trên mới chỉ đề cập một cách khái quát về lý
luận dạy học nói chung, khái quát, chưa có một tài liệu nào hướng dẫn cụ thể về
việc sử dụng các phương pháp trong dạy học để nâng cao chất lượng, hiệu quả
môn lịch sử ở trường phổ thông hoặc chưa giải quyết một cách thỏa đáng, đặc
5
biệt là vận dụng các phương pháp cụ thể để áp dụng vào từng bài, từng chương
hay cả một khóa trình. Đó cũng chính là nhiệm vụ mà đề tài này muốn góp một
phần nhỏ vào giải quyết một vấn đề quan trọng của lý luận dạy học, ứng dụng
vào thực tiễn dạy học ở các trường phổ thông.
3. Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và đóng góp của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
5. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung khóa luận gồm hai chương:
Chương I : Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương II: Vận dụng sáng tạo, linh hoạt một số phương pháp trong dạy học
nhằm nâng cao hiệu quả bài học khi dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1930
đến năm 1954, lớp 12 THPT
7
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông
1.1.1.1. Vị trí, vai trò của bộ môn
Lịch sử là một trong những môn khoa học cơ bản được đưa vào giảng dạy
ở nhà trường phổ thông. Về mặt lý luận và thực tiễn nó đã được thừa nhận là
môn khoa học góp phần quan trọng vào việc hoàn thành mục tiêu giáo dục phổ
thông, đặc biệt có ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Tec Musiepxki từng nói:
“Có thể không biết, không say mê toán học, tiếng Hi Lạp hoặc chữ Latinh, hóa
sử dân tộc các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm: Khởi nghĩa Hai Bà
Trưng, chiến thắng Bạch Đằng năm 938, các cuộc chiến tranh chống đế quốc
tiêu biểu như: chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mĩ; các vị anh hùng dân tộc
các cuộc chiến tranh thế giới.
Từ những sự kiện cơ bản, học sinh từng bước tiến sâu vào nắm vững bản
chất của lịch sử thông qua các biểu tượng, khái niệm, bài học lịch sử như: “Bầy
người nguyên thủy”, “Công xã thị tộc”, “Nhà nước”, “Cách mạng”, “Chủ nghĩa
Tư bản”, “Chủ nghĩa Xã hội”,… Quy luật về sự phát triển không ngừng của lịch
sử loài người, về sự phù hợp của quan hệ xã hội với tính chất và trình độ của
lịch sử sản xuất, về có áp bức có đấu tranh, về sự thay thế nhau của các hình thái
kinh tế xã hội…tạo điều kiện cho các em có thể vận dụng những hiểu biết của
mình trong hoạt động thực tiễn.
Học sinh có những nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa duy vật lịch sử, về vai
trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử, về đấu tranh giai cấp, ý
nghĩa của lao động đối với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, động lực
phát triển của xã hội loài người, tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học tập,
nghiên cứu ở những cấp cao hơn hoặc tham gia vào quá trình lao động.
Mục tiêu giáo dục (tư tưởng): Trên cơ sở giúp học sinh nắm vững tri thức
lịch sử, bộ môn còn thực hiện việc giáo dục học sinh, giúp các em có nhân sinh
quan, thế giới quan khoa học, giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm đúng đắn
góp phần đào tạo hoàn thiện bản thân một cách toàn diện.
9
+ Lòng yêu nước Xã hội Chủ nghĩa, lòng yêu quê hương một biểu hiện của
lòng yêu nước, trong lao động sản xuất cũng như trong đấu tranh giành độc lập
dân tộc, bảo vệ tổ quốc.
+ Tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho
độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa bình, dân chủ.
+ Niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và dân tộc,
dù trong tiến trình lịch sử có những bước quanh co, khúc khuỷu, tạm thời thụt
học chúng ta có thể xác định hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử như sau:
Thứ nhất, Nhóm phương pháp thông tin – tái hiện lịch sử là trình bày tài
liệu mới, nhắc lại những kiến thức đã học có liên quan đến việc tiếp thu kiến
thức mới… Giáo viên chủ yếu trình bày các sự kiện chính xác, được quy định
trong chương trình, sách giáo khoa nhằm giúp học sinh ghi nhớ thông qua các
hoạt động về quá trình tâm lí trong nhận thức và trong số trường hợp có thể trình
bày những tài liệu mới do giáo viên hướng dẫn tìm ra. Mục đích của việc thông
tin tái hiện lịch sử là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, điển hình,
cụ thể và sinh động, nhằm tái tạo lại hình ảnh của quá khứ. Việc tái hiện lịch sử
phải đạt được đến mức làm cho học sinh như đang tham dự, chứng kiến sự kiện
hay các sự kiện đang diễn ra trước mắt mình. Đây là việc phát triển trí tưởng
tượng tái tạo cho học sinh, rất cần cho việc học lịch sử. Nếu không hình dung
đúng quá khứ khách quan thì không thể hiện được bản chất của lịch sử và dễ rơi
vào tình trạng “hiện đại hóa lịch sử”. Mặt khác, nếu học sinh tái hiện được hình
ảnh của sự kiện lịch sử, các em sẽ nhớ lâu các sự kiện đó.
Việc thông tin tái hiện lịch sử được thực hiện bằng trình bày miệng với hệ
thống dạy học tương ứng: tường thuật, miêu tả, kể chuyện, giải thích,…và sử
dụng đồ dùng trực quan, sử dụng tài liệu văn bản,…
Ví dụ: Khi dạy bài 16 “Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng
Tám (1939 – 1945), nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời”. Phần II, 2, a.
Khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940) giáo viên sử dụng hình 35 kết hợp với tường
thuật diễn biến giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản, điển hình, tái
tạo lại hình ảnh của quá khứ.
11
Diễn biến: Tối ngày 26/9/1940 tại đình làng Nông Lục (xã Hưng Vũ) chi
bộ xã Hưng Vũ đã tổ chức cuộc họp với sự tham gia của những thành viên châu
ủy Bắc Sơn: Hoàng Đình Ruệ, Nông Văn Cún, Đường Văn Thức để thảo luận,
phân tích tình hình và quyết định phương hướng, hành động đánh đồn Mỏ Nhài
và thành lập Ban chỉ huy khởi nghĩa.
đến sự thắng lợi của quân dân ta ở Điện Biên Phủ và trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp?”, học sinh vận dụng toàn bộ kiến thức đã học của chương,
bài để rút ra câu trả lời.
Giáo viên trên cơ sở sách giáo khoa và sách giáo viên nêu ra các nguyên
nhân chính: Nguyên nhân chủ quan, đó là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta;
truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân ta; hậu
phương vững chắc. Nguyên nhân khách quan, đó là đoàn kết chiến đấu của nhân
dân ba nước Đông Dương; sự giúp đỡ của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và
sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới đối với cuộc kháng chiến của ta.
Với ví dụ cụ thể trên giáo viên đã lựa chọn hình thức nêu câu hỏi có tính chất
bài học nhận thức là phương pháp chủ đạo để giúp học sinh hiểu rõ vấn đề hơn.
Thứ ba, Nhóm phương pháp tìm tòi nghiên cứu nhằm nâng cao trình độ
của học sinh trong việc biến kiến thức lịch sử đã học thành kiến thức của mình,
chủ động sử dụng những tri thức đó có hiệu quả trong học tập và đời sống.
Nhóm phương pháp tìm tòi nghiên cứu được tiến hành thông qua các hình thức
từ thấp đến cao của những công việc học tập như sử dụng sách giáo khoa và tài
liệu tham khảo để trả lời các câu hỏi, hoàn thành các bài tập thực hành, rèn
luyện việc tìm tòi từng phần và bước đầu tập dược nghiên cứu khoa học một số
vấn đề lịch sử, phù hợp với trình độ và yêu cầu học tập của học sinh…
Ví dụ: Khi dạy bài 18 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp (1946 – 1954)” ở mục Chiến dịch Biên giới thu – đông
năm 1950, giáo viên sử dụng câu hỏi “Tại sao ta chọn Đông Khê làm điểm mở
đầu chiến dịch mà không phải Cao Bằng hay Thất Khê?”. Để trả lời được câu
hỏi này học sinh đọc sách giáo khoa, xem các tài liệu ở nhà, chú ý theo dõi, quan
sát bản đồ để thấy được vị trí chiến lược của Đông Khê. Giáo viên hướng dẫn
học sinh bằng cách đưa ra câu gợi ý về vị trí của Đông Khê, sau khi các em đưa
13
ra câu trả lời giáo viên chốt ý: Giữa Đông Khê và Cao Bằng, nếu đánh Cao Bằng
thì sẽ đụng đầu với lực lượng mạnh của địch, hệ thống phòng ngự vững chắc,
triển tư duy, kỹ năng, kỹ xảo, tính tích cực học tập của học sinh trong học tập và
cuộc sống. Vì vậy, cần nhận đúng và có những biện pháp sư phạm tốt trong dạy
học bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông. Nói một cách cụ thể, hiệu quả bài học
thể hiện ở những mặt sau đây:
Trước hết, bài học phải giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản
của bài, tức là làm cho các em ghi nhớ những sự kiện lịch sử chủ yếu, biết đánh
giá các sự kiện, rút ra bài học, nêu quy luật (nếu có) và hình thành khái niệm
lịch sử. Điều này giúp các em trả lời được các câu hỏi “Như thế nào?” và “Vì
sao?” trong giờ học (tiếp nhận kiến thức mới, kiểm tra bài cũ…)
Thứ hai, bài học phải đặt được mục tiêu, kết quả giáo dục đề ra. Đây là
vấn đề quan trọng, nhưng rất khó khăn, phức tạp. Việc giáo dục phải phù hợp
với nội dung bài học, trình độ, yêu cầu học sinh, nó không phải cung cấp cho
các em những công thức có sẵn, những khẩu hiệu sáo rỗng mà không có tác
dụng gì đối với việc giáo dục. Muốn đánh giá kết quả giáo dục mà bài học đạt
được trước tiên cần xem xét thái độ, tình cảm của học sinh đối với các sự kiện
nghiên cứu, những phản ứng tự nhiên, những suy nghĩ của các em đối với hiện
tượng và những nhân vật lịch sử. Tiếp đó, xem xét kỹ năng của học sinh trong
việc đánh giá đúng những hiện tượng, vai trò của các nhân vật, kỹ năng sử dụng
các kiến thức lý luận đã học để tự mình phân tích các hiện tượng xã hội của quá
khứ và hiện tại. Những công việc này không chỉ giúp học sinh nắm vững hơn
kiến thức lịch sử, mà còn góp phần giáo dục đạo đức tư tưởng, chính trị cho các
em trong quá trình học tập lịch sử.
Thứ ba, hiệu quả của bài học còn được thể hiện ở việc phát triển toàn diện
cho học sinh, đặc biệt là năng lực nhận thức, như tri giác, trí tưởng tượng, trí
nhớ, tư duy… Việc phát triển các năng lực nhận thức không tách rời các yếu tố
của tính tích cực trong học tập nhân cách của các em, như chú ý, xúc cảm lịch
sử, suy nghĩ hứng thú học tập, ý chí… Ngoài ra, giáo viên cũng không quên hình
thành cho các em lòng mong muốn và khả năng tham gia tích cực, có hiệu quả
các hoạt động xã hội chính trị và lao động sản xuất. Như vậy, trong giờ học lịch
16
thức đúng lịch sử. Tính tư tưởng thống nhất với tính khoa học trong nghiên
cứu cũng như dạy học lịch sử đòi hỏi chúng ta phải bồi dưỡng về chuyên
môn, nghiệp vụ, rèn luyện quan điểm tư tưởng, phẩm chất đạo đức của người
giáo viên.
Bảo đảm tính trực quan trong dạy học lịch sử. Trực quan là yêu cầu
quan trọng, cần thiết đối với dạy học nói chung, xuất phát từ quy luật của nhận
thức mà V.I. Lênin đã đề ra: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và
từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn”.
Nguyên tắc về tính vừa sức. Dạy học lịch sử theo chương trình và sách
giáo khoa đã được ban hành và biên soạn, phù hợp với yêu cầu và trình độ học
sinh mỗi lớp, mỗi cấp. Bảo đảm tính vừa sức không chỉ thể hiện việc thực hiện
nghiêm túc, sáng tạo chương trình và sách giáo khoa mà còn đảm bảo chất
lượng, kết quả, mục tiêu giáo dục. Thực hiện nguyên tắc về tính vừa sức sẽ khắc
phục được tình trạng “quá tải” hoặc “hạ thấp” trong dạy học lịch sử, giúp học
sinh đạt được trình độ chương trình. Bảo đảm tính vừa sức làm cho học sinh
hứng thú với học tập, học tập có kết quả cao.
Nguyên tắc về tính hệ thống. Hiện thực lịch sử phát triển trong sự thống
nhất, song đa dạng, đầy mâu thuẫn và phù hợp với quy luật. Việc học tập (nhận
thức) lịch sử cũng phải tuân theo logic sự phát triển lịch sử khách quan, phải tìm
hiểu từ lịch sử nguyên thủy, cổ đại, trung đại đến cận, hiện đại, chứ không thể
nhận thức ngược lại.
Nguyên tắc về tính vững chắc của việc nhận thức lịch sử. Trong học tập
nói chung, việc nắm vững kiến thức là yêu cầu không thể thiếu được. Tính vững
chắc trong học tập thể hiện ở việc nắm kiến thức có hệ thống, nhớ lâu, hiểu sâu,
biết vận dụng kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới vào đời sống.
Trong học tập lịch sử, học sinh thường không nhớ được chính xác, hay
nhầm lẫn các sự kiện, không hiểu được lịch sử, không biết vận dụng kiến thức
đã biết vào học tập và cuộc sống. Vì vậy, để học sinh hiểu biết lịch sử cần phải
Điều này khắc phục được tình trạng nắm kiến thức rời rạc, tản mạn, giúp học
sinh nắm được mối liên hệ giữa kiến thức của các môn có liên quan, tính hệ
thống của tri thức lịch sử, khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, quy
luật chi phối sự phát triển của lịch sử.
18
Trên cơ sở những nguyên tắc trong dạy học lịch sử, chúng tôi từng bước
đưa ra cách vận dụng sáng tạo, linh hoạt một số phương pháp nhằm nâng cao
hiệu quả bài học khi dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954,
lớp 12 THPT.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng là
mục tiêu phấn đấu của giáo viên trong nhà trường hiện nay. Nó là kết quả của sự
suy nghĩ, tìm tòi lớn về sư phạm, là kết quả của những nguyên lý khoa học và
nghệ thuật sư phạm. Việc dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay đã
và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội, một phần xuất phát từ
tầm quan trọng đặc biệt của bộ môn đối với tương lai phát triển của đất nước;
một phần bởi thực trạng của việc dạy học Lịch sử ở trường phổ thông trong thời
gian qua đã đạt được những thành tựu nhất định:
- Mặc dù số tiết Lịch sử ở trường phổ thông không nhiều (1 đến 2
tiết/tuần) nhưng bộ môn Lịch sử đã có những đóng góp không nhỏ vào những
thành tựu chung của giáo dục Việt Nam: Góp phần nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành phẩm chất con người Việt Nam Xã hội
chủ nghĩa trong thời kì mới.
- Thời gian qua, do nhận thức đúng vai trò của bộ môn Lịch sử, đã thu hút
được sự quan tâm của các ngành, các cấp nên đã có sự kết hợp giữa các ngành,
các bộ. Sự kết hợp này tạo điều kiện thuận lợi cho sự giải quyết các vấn đề kinh
tế, chính trị, xã hội, đặc biệt là đối với sự phát triển của giáo dục về nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức giảng dạy.
- Trong những năm qua, những nhà giáo dục Việt Nam không ngừng bổ
chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng bộ môn giảm sút, trong đó có
một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Giáo viên chưa đánh giá đúng vị trí, vai trò của phương pháp dạy học
đối với việc giáo dục, do đó chưa khắc phục được những sai lầm yếu kém trong
dạy học, vẫn “đường mòn” kinh nghiệm chủ nghĩa trong truyền thụ kiến thức.
- Do quan niệm sai lầm về “môn chính”, “môn phụ”, nên ở một số trường
phổ thông chưa chăm lo đúng mức về cải tiến phương pháp dạy học.
20
- Trong tổ chức thi cử, phương pháp, cách thức ra đề, tổ chức bồi dưỡng
giáo viên nặng về nội dung và hình thức, coi nhẹ phương pháp; việc đánh giá kết
quả giảng dạy của giáo viên, kết quả học tập của học sinh không khuyến khích
cách học tập chủ động, sáng tạo, độc lập,
- Tình trạng “thực dụng” trong dạy học lịch sử còn khá nặng nề, thể hiện ở
việc “học gì thi nấy”, bên cạnh đó tình trạng “dạy thêm”, “học thêm” tràn lan, vô
bổ, vô tổ chức, dẫn tới việc “quá tải” vượt chương trình so với một số “môn chính”.
Từ thực trạng của việc giảng dạy và học tập bộ môn Lịch sử ở trường phổ
thông đã nêu ở trên, hiện nay vấn đề hiệu quả bài học lịch sử và vận dụng các
phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử đã thu được sự quan tâm
của các nhà giáo dục, các nhà sư phạm và có nhiều quan niệm khác nhau được
đưa ra về vấn đề trên. Trong đó có không ít quan niệm phiến diện cho rằng hiệu
quả bài học chính là cung cấp cho học sinh nhiều sự kiện, không quan tâm đến
mức độ nhận thức, giáo dục và kĩ năng. Do đó, đã dẫn đến tình trạng dạy học
nhồi nhét kiến thức, trong khi đó mức độ nhận thức của học sinh lại không theo
kịp. Từ nhận thức sai lầm về quan niệm hiệu quả bài học lịch sử mà việc vận
dụng một số phương pháp vào giảng dạy bộ môn còn nhiều hạn chế. Vì vậy,
chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn trong thời gian qua chưa được cải thiện
là mấy, hiệu quả bài học còn rất hạn chế. Đa phần giáo viên chưa chịu đổi mới
phương pháp, vẫn “đường mòn” kinh nghiệm chủ nghĩa theo lối truyền thụ một
1
Theo thầy (cô) chất lượng dạy học lịch sử ở trường
phổ thông hiện nay như thế nào?
A. Rất tốt
B. Bình thường
C. Rất thấp Chọn A: 18%
Chọn B: 52%
Chọn C: 30%
2
Trong các tiết học trên lớp, thầy (cô) thấy thái độ học
tập môn Lịch sử như thế nào?
A. Rất tích cực xây dựng bài
B. Chỉ hoạt động khi có yêu cầu
C. Học thụ động, đối phó và lười suy nghĩ Chọn A: 9%
Chọn B: 67%
Chọn C: 24%
3
Theo thầy (cô) quan niệm hiệu quả bài học Lịch sử
trong trường phổ thông là:
A. Cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức
B. Giáo dục, phát triển kĩ năng học sinh
C. Nhận thức, giáo dục và kĩ năng
Nội dung điều tra
Phần trăm
1
Em có hứng thú với bộ môn Lịch sử hay không?
A. Rất hứng thú
B. Bình thường
C. Không thích học
Chọn A: 15%
Chọn B: 54%
Chọn C: 31%
2
Trong các tiết học phương pháp mà thầy (cô)
thường áp dụng là gì?
A. Đọc – chép
B. Tóm tắt nội dung sách giáo khoa
C. Kết hợp nhiều phương pháp Chọn A: 10%
Chọn B: 4%
Chọn C: 86%