Tỷ giá và thị trường ngoại hối - Pdf 23

Phần I: Tổng quan về tỷ giá
1. Khái niệm về tỷ giá và thị trờng ngoại hối:

Tỷ giá hối đoái là giá trị tiền tệ nớc này đợc biểu hiện bằng giá trị tiền tệ nớc kia
trong quan hệ kinh tế Quốc tế. Ví dụ: 1 USD = 106 JPY.
Tuy nhiên, để đồng tiền có thể thanh toán đợc ở bên ngoài quê hơng của nó,
hay chuyển đổi ra nội tệ của một nớc thì nó phải đợc ngân hàng nớc đó thu mua.
Những đồng tiền đó gọi là ngoại tệ. Đó là phơng tiện thanh toán và đầu t Quốc tế.
Trên thế giới hiện nay có một số ngoại tệ mạnh đợc sử dụng rộng rãi nh: USD
(Mỹ), JPY (Nhật), Bảng (Anh),...
Thị trờng ngoại hối là nơi diễn ra hoạt động mua bán ngoại tệ và vốn bằng
ngoại tệ. Đặc điểm của thị trờng ngoại hối ở mỗi quốc gia có thể khác nhau.
2- Vai trò của tỷ giá:
Tỷ giá có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Sự vận động của nó có tác
động sâu sắc tới mục tiêu, chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia:
Thứ nhất, tỷ giá là phơng tiện trao đổi thơng mại quốc tế, nó quy định tỷ lệ
quy đổi giữa các loại tiền.
Thứ hai, nó tác động trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu. Vì vậy, nó tác
động tới cán cân thanh toán quốc tế: sự thâm hụt hoặc thặng d cán cân. Khi đồng tiền
của một nớc tăng giá (so với các đồng tiền khác) thì hàng hoá nớc đó ở nớc ngoài trở
nên đắt hơn. Ngợc lại, hàng hoá nớc ngoài ở nớc đó lại rẻ hơn.
Thứ ba, tỷ giá là công cụ điều tiết vĩ mô, ảnh hởng tới tổng cầu, sản phẩm
quốc dân, thất nghiệp... Tỷ giá góp phần vào việc cải thiện cung cầu về ngoại tệ, giải
quyết vấn đề nợ nớc ngoài. Song,việc điều hành tỷ giá không tốt có thể dẫn tới lạm
phát, khủng hoảng.
3- Những nhân tố tác động tới tỷ giá:
Về dài hạn, có bốn nhân tố chính tác động tới tỷ giá là:
Mức giá cả t ơng đối . Theo thuyết ngang giá sức mua (PPP), khi giá cả hàng
nội tăng (giá hàng ngoại giữ nguyên) thì nhu cầu hàng nội có xu hớng giảm xuống,
đồng thời đồng nội tệ cũng giảm giá để hàng nội vẫn bán đợc tốt. Nếu giá hàng ngoại
tăng, thì cung về hàng nội và nội tệ lại tăng lên vì hàng nội vẫn có thể tiêu thụ tốt ngay

Phơng án can thiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song chủ yếu là phụ thuộc vào
chế độ tỷ giá hiện hành.Với mỗi chế độ ngoại hối lại có phơng án điều chỉnh thích
hợp nh: phơng pháp lãi suất chiết khấu, các nghiệp vụ thị trờng hối đoái, quỹ bình ổn
hối đoái, giảm giá hoặc tăng giá đồng nội tệ...
Ph ơng pháp lãi suất chiết khấu : đợc sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái
trên thị trờng khi nó đạt đến mức báo động. NHTW sẽ nâng cao lãi suất chiết khấu
để vốn vay ngắn hạn trên thị trờng thế giới đợc thu về với lãi cao hơn, dẫn đến nhu cầu
về ngoại tệ bớt đi, tỷ giá không có cơ hội tăng nữa.
2
Biến động của lãi suất không nhất thiết kéo theo biến động về tỷ giá. Lãi xuất
cao có thể thu hút đợc vốn ngắn hạn, nhng nếu tình hình chính trị - xã hội không ổn
định thì dự án khó có thể thực hiện đợc. Bởi lẽ an toàn vốn luôn là vấn đề hàng đầu.
Khủng hoảng 1971 1973 ở Mỹ là một ví dụ điển hình: Mặc dù lãi suất trên thị tr-
ờng New-York cao gấp rỡi thị trờng London, gấp ba Frankfurk nhng vốn ngắn hạn
không đợc chuyển vào Mỹ mà lại đợc đa đến Yây Đức và Nhật Bản.
Các nghiệp vụ thị tr ờng hối đoái : là biện pháp tác động trực tiếp vào tỷ giá
hối đoái của Nhà nớc để bảo đảm sức mua của đồng tiền quốc gia.
Một sự can thiệp hữu hiệu trong đó đồng tiền trong nớc đợc bán để mua tài sản
nớc ngoài đa đến: (1) thu thêm dự trữ quốc tế; (2) Một sự tăng trong cung tiền tệ; (3)
Một sự sụt giá của đồng nội tệ. Ngợc lại, khi đồng tiền trong nớc đợc mua bằng cách
bán tài sản nớc ngoài đa đến thì: (1) Dự trữ quốc tế giảm; (2) Cung tiền tệ giảm; (3)
Đồng tiền trong nớc tăng giá.
Yếu tố quyết định cho sự thắng lợi chính là việc lựa chọn thời điểm cần mua,
cần bán ngoại tệ. Mỗi một quốc gia lại thực hiện nghiệp vụ này theo cách riêng của
mình.Tuy nhiên, khi Chính Phủ điều chỉnh tỷ giá theo phơng pháp này thì các doanh
nghiệp, các tầng lớp dân c trong xã hội lại có những phản ứng trái ngợc nhau, đó là do
lợi ích kinh tế.
ở những nớc phát triển, các nghiệp vụ thị trờng hối đoái đợc thực hiện trên quy
mô rộng lớn, cả trong khu vực và trên thế giới. Chính Phủ phải có một lợng dự trữ
ngoại tệ đủ để can thiệp vào thị trờng khi cần thiết. Trong điều kiện khủng hoảng ít

đợc áp dụng ở những nớc có nền kinh tế phát triển cao với thị trờng tài chính phát
triển tơng đối hoàn chỉnh. Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý là chế độ cung - cầu ngoại
hối và chỉ đợc áp dụng trong những trờng hợp cần thiết.Việc lựa chọn chế độ tỷ giá
nào là cả một nghệ thuật và trong lịch sử có nhiều quốc gia đã lựa chọn thành công.
Song, cũng có không ít những quốc gia đã phải trả giá đắt cho sự lựa chọn sai lầm.
So với Thế giới thì nền kinh tế và thị trờng tỷ giá hối đoái của Việt Nam còn
non trẻ. Nói một cách ví von thì chúng ta đang đứng trên vai của những kẻ khổng
lồ, nhng đó chính là lợi thế của kẻ đi sau. Chúng ta có cơ hội để lựa chọn con đờng
đúng đắn nhất phù hợp với chế độ kinh tế - chính trị - xã hội trong nớc và trên Thế
giới.
Phần II: Lịch sử áp tỷ giá ở Việt Nam.
4
1. Bối cảnh áp dụng chế độ tỷ giá
Từ ngày 25/ 11/1955, tỷ giá chính thức giữa VNĐ/NDT= 1470, tỷ giá giữa VNĐ/
Rúp= 735. Đến 1977 các nớc XHCN thảo thuận thanh toán bằng đồng rúp chuyển nh-
ợng(RCN), 1 RCN= 0.9872g vàng. Ngoài loại tỷ lệ chuyển nhợng, nhà nớc còn dùng
tỷ giá thanh toán nội bộ để thanh toán giữa các đơn vị có thu-chi ngoại tệ với ngân
hàng ngoại thơng.
Tỷ giá kết toán nội bộ đợc điều chỉnh nh sau:
1985 : 1rúp= 5.64VNĐ
1986 : 1rúp= 18VNĐ
1987 : 1rúp= 150VNĐ
1988 : 1rúp=700VNĐ
Đến tháng 3/1989 huỷ bỏ chế độ kết toán tỷ giá nội bộ.
1
Chế độ này có một số đặc trng:
Chế độ đợc xác lập nhằm phục vụ kế hoạch quốc gia, không xuất phát từ nhu
cầu của nền KTTT trong và ngoài nớc. Cho nên, tỷ giá đóng vai trò thụ động, cha điều
tiết đợc nền kinh tế vĩ mô.
Đây là một loại tỷ giá duy ý chí, không tuân thu qui luật kinh tế, ngay cả kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status