Lời nói đầu
Hiện nay, xu hớng quốc tế hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức sâu sắc
trên phạm vi toàn Thế Giới. Đối với Việt Nam,việc tham gia vào nền kinh tế trong khu
vực và Thế Giới sẽ mở ra nhiều cơ hội, nhng đồng thời cũng đặt ra những thách thức
không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải có những chính sách phù hợp. Một hoạt động có tính
chất quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế là ngoại thơng. Sự thành công hay
thất bại của một quốc gia về chính sách đối ngoại đợc quyết định bởi chế độ tỷ giá
hối đoái. Tỷ giá hối đoái và thị trờng ngoại hối là những vấn đề hết sức phức tạp.
Chúng ta không thể quên đợc sự can thiệp bất thành của 15 ngân hàng Trung Ương tr-
ớc sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá hối đoái ở Châu Âu những năm 90; Sự phá giá bất
ngờ của đồng bảng Anh (9/1992) trớc sự tấn công của những kẻ đầu cơ, mặc dù đã có
sự can thiệp tích cực của ngân hàng TW Đức và Anh với khối lọng 15 tỷ Bảng Anh;
Hay hai sự kiện làm rung chuyển thế giới chỉ trong một thời gian ngắn. Đó là sự
khủng hoảng của đồng Pê-sô(Mexico 12/1994) và sự mất giá kỷ lục trong năm
1995, rồi lại lên giá một cách đột biến của đồng USD năm 1996.
Việt Nam đang bớc những bớc đi đầu tiên trên cả hai phơng diện lý luận và
thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu tỷ giá hối đoái là vấn đề hết sức cấp bách đối với
chúng ta.Xuất phát từ thực tế khách quan đó, bài viết sẽ đi sâu nghiên cứu về tỷ giá
hối đoái và vấn đề áp dụng tỷ giá ở Việt Nam.
Cấu trúc bài viết gồm ba phần:
Phần I: Tổng quan về tỷ giá.
Phần II: Kinh nghiệm của một số nớc và thực trang áp dụng chế độ tỷ
giá ở Việt Nam.
Các giải pháp xúc tiến nhằm mục đích đa chế độ tỷ giá ở Việt Nam hoạt
động có hiệu quả.
Qua những kiến thức đã đợc học trên ghế giảng đờng và các phơng tiện thông
tin đại chúng, em muốn đa ra những nhận định của riêng mình về vấn đề tỷ giá hối
đoái và thị trờng ngoại hối. Trong quá trình nghiên cứu, những hạn chế là khó tránh
khỏi, vì vậy em rất mong đợc sự góp ý của các thầy cô để những bài viết sau đạt chất
lợng cao hơn.
1
tăng, thì cung về hàng nội và nội tệ lại tăng lên vì hàng nội vẫn có thể tiêu thụ tốt ngay
cả khi giá trị cao hơn đồng nội tệ.
2
Thuế quan và cô-ta: là những hàng rào ngăn cản tự do buôn bán giữa các quốc
gia. Việc đánh thuế cao vào hàng nhập, miễn thuế cho hàng xuất khẩu, hay việc hạn
chế cấp quô-ta (số lợng hàng ngoại nhập) sẽ khuyến khích đợc xuất khẩu và hạn chế
nhập khẩu. Khi đó, nhu cầu hàng nội tăng và đồng nội tệ cũng tăng. Nh vậy, về lâu
dài, thuế quan và cô-ta làm cho đồng tiền của một nớc tăng giá.
Sự a thích hàng nội so với hàng ngoại : Trong một nớc, cầu đối với hàng xuất
tăng sẽ làm cho đồng tiền nớc đó tăng. Ngợc lại, cầu về hàng nhập tăng lại làm cho
đồng tiền nớc đó giảm.
Năng suất lao động: Về lâu dài, năng suất lao động của một nớc cao hơn tơng
đối so với nớc khác sẽ làm cho đồng tiền nớc đó tăng giá.
4- Sự can thiệp điều hành tỷ giá:
Thông thờng, ngân hàng Trung Ương (NHTW) là cơ quan thay mặt Chính Phủ
can thiệp vào thị trờng ngoại hối trong việc điều hành tỷ giá, song không phải là vô
hạn. Trên thị trờng ngoại hối, NHTW đóng vai trò kép là: ngân hàng mua bán ngoại tệ
và sử dụng các công cụ can thiệp khi cần thiết.
a. Các loại hình can thiệp của NHTW:
Can thiệp trách nhiệm: đựoc thực hiện khi tỷ giá một đồng tiền trong hệ thống
một tỷ giá cố định đạt tới đỉnh điểm. Theo khuôn khổ hệ thống Bretton-Woods, các nớc
thành viên có trách nhiệm duy trì sự dao động của đồng tiền nớc mình trong miền dao
động tỷ giá so với USD đã quy định trớc. Khi cán cân thanh toán của một quốc gia bị
mất cân đối tới mức nghiêm trọng thì NHTW mới đợc phép tăng hoặc giảm tỷ giá hối
đoái của nội tệ.
Can thiệp tự do: có thể xảy ra không chỉ trong tỷ giá cố định mà ngay cả trong
hệ thống tỷ giá thả nổi. Sự can thiệp của NHTW phải đợc tiến hành trớc khi sự dao
động của tỷ giá hối đoái đạt tới đỉnh điểm để giảm bớt sự phức tạp của tình hình.
Sự can thiệp của NHTW về cơ bản có hai hiệu ứng chính là: tác động trực tiếp
vào khối lợng ngoại tệ và trực tiếp gây biến động mức lãi suất trong nớc.
ngoại tệ đủ để can thiệp vào thị trờng khi cần thiết. Trong điều kiện khủng hoảng ít
nhhiêm trọng, các nớc vẫn thờng sử dụng quỹ dự trữ bình ổn hối đoái.
Nguồn vốn để hình thành quỹ dự trữ bình ổn hối đoái thờng là:
- Phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc gia (nh Anh, Hà Lan)
- Sử dụng vàng để lập quỹ (nh Pháp Mỹ, Thuỵ Sĩ )
Vấn đề phá giá đồng tiền: là việc tăng hoặc giảm sức thu mua của đồng tiền
so với các ngoại tệ. Nó ảnh hởng trực tiếp đến sự biến động của tỷ giá hối đoái. Phá
giá đồng tiền và điều chỉnh tỷ giá hối đoái khác nhau ở chỗ:
Điều chỉnh tỷ giá hối đoái là việc làm thờng xuyên và liên tục của Nhà nớc
theo nguyên tắc duy trì biên độ dao động cho phép so với tỷ giá hối đoái đợc sử dụng
làm chuẩn. Còn phá giá đồng tiền chỉ đợc áp dụngkhi thật cần thiết. Nếu không, hiệu
ứng tiêu cực của hành dộng phá giá sẽ làm cho tình hình khủng hoảng càng thêm trầm
trọng.
5- Các chế độ tỷ giá trong lịch sử:
a.Chế độ bản vị vàng: là một chế độ ổn định, tỷ giá đợc xác định qua nội
dung vàng của đồng tiền ít khi bị biến động. Trong chế độ này, biên độ dao động của
4
tỷ giá là ngang giá vàng cộng hoặc trừ chi phí vận chuyển vàng giữa các nớc hữu
quan. Biên độ này gọi là điểm vàng.
Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế TBCN, chế độ này tỏ ra có nhiều u điểm.
Nó có khả năng điều tiết khối lợng tiền tệ trong lu thông một cách tự phát mà không
cần đến sự can thiệp của Nhà nớc. Sự tăng giảm khối lợng tiền tệ trong lu thông tỷ lệ
nghịch với nguồn dự trữ vàng kim loại trong nền kinh tế.
b. Chế độ tỷ giá thả nổi (Floating rate): đợc hình thành trên cơ sở diễn biến
của cung và cầu ngoại hối trong nền kinh tế mà không bị ràng buộc. Tỷ giá thả nổi có
vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết xuất - nhập khẩu, ổn định trở lại nền kinh tế
đang có nguy cơ suy thoái. Thả nổi tỷ giá là xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trờng.
Chế độ tỷ giá thả nổi đợc chia làm hai loại: Chế độ tỷ giá thả nổi tự do và chế độ tỷ
giá thả nổi có quản lý.
Trong chế độ tỷ gía thả nổi tự do không có sự can thiệp của Chính Phủ (một