Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam - Pdf 23

 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam GVHD: Lê Phương Dung
LỜI MỞ ĐẦU
Việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) là bước nhảy
vọt tất yếu của nền kinh tế thị trường. Việt Nam với nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường cũng đòi hỏi phải có TTCK làm cầu nối giữa một bên là nhà đầu tư,
với bên kia là các doanh nghiệp cần vốn kinh doanh và nhà nước cần tiền để thỏa
mãn nhu cầu chung của đất nước. Ở thị trường này cơ hội thường xuyên xuất hiện
cho những ai “nhạy cảm” với chứng khoán song thách thức lớn cũng đặt ra cho
mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Rủi ro, khái niệm gắn liền với mọi đầu tư, bởi lẽ không ai có thể chắc chắn
100 % cho mỗi dự kiến về lượng và thời điểm thu được những lượng tài chính trong
tương lai.
TTCK được xem là “chiếc máy chiết khấu thông tin” nơi người mua và người
bán cổ phiếu quyết định “giá đúng” thỏa mãn cho cả hai phía. Theo lý thuyết hiện
đại, giá đúng là giá cung cấp một mức doanh thu tương ứng với mức rủi ro liên
quan tới cổ phiếu.
Vậy rủi ro cổ phiếu là gì? Làm thế nào để đo lường rủi ro của cổ phiếu? Đầu
tư trên TTCK Việt Nam sẽ gặp phải những rủi ro nào? Xuất phát từ những câu hỏi
đó, em chọn đề tài của mình là: “ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU TRÊN
TTCK VIỆT NAM”.
Mặc dù có sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của giáo viên, sự nỗ lực của bản
thân, song do kiến thức và tài liệu thu thập còn hạn chế nên bài viết không tránh
khỏi những thiếu sót. Kính mong thầy cô và các bạn góp ý để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Lê Phương Dung đã giúp em hoàn thành
đề tài này!
Người thực hiện
Hồ Thị Huyền Trang
SVTH: Hồ Thị Huyền Trang Trang 1
 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam GVHD: Lê Phương Dung
Phần 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
1.2.4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp có chứng khoán niêm yết bắt buộc phải cung cấp định kỳ
các thông tin về tình hình hoạt động, điều này cho phép các nhà đầu tư có một cách
nhìn chính xác về các doanh nghiệp đó, giúp họ đánh giá và so sánh hoạt động của
các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện. Chính vì lẽ đó, TTCK tạo ra môi
SVTH: Hồ Thị Huyền Trang Trang 2
 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam GVHD: Lê Phương Dung
trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích việc áp
dụng công nghệ mới, cải tiến và nâng cao chất lượng của sản phẩm.
1.2.5. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ

TTCK là nơi gặp nhau giữa cung và cầu vốn dài hạn. Trên TTCK giá cả của
các chứng khoán phản ánh sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và các
ngành kinh tế nói chung. Giá của các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư vào
tài sản hữu hình đang được mở rộng nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại, giá
chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Chính vì
vậy, người ta coi TTCK chính là “phong vũ biển” của nền kinh tế và là một công
cụ quan trọng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua
TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để có nguồn thu bù
đắp cho sự thiếu hụt của ngân sách Nhà nước và kiểm soát lạm phát. Ngoài ra,
Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK
nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, cân đối và
bền vững.
1.3. Cấu trúc của TTCK
1.3.1. Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là nơi mua bán các chứng khoán mới phát hành lần đầu.
Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư tài chính sẽ được chuyển sang nhà phát hành,
thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
 Vai trò cơ bản của thị trường sơ cấp

1.4.1.1. Thị trường chứng khoán tập trung
Thị trường chứng khoán tập trung là thị trường hoạt động theo các quy định
của pháp luật, là nơi giao dịch mua bán các loại chứng khoán đã được niêm yết theo
những tiêu chuẩn nhất định.
Hình thái biểu hiện của thị trường này là Sở giao dịch chứng khoán. Sở giao
dịch chứng khoán thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức, bao
gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên Sở giao dịch, tiêu biểu là
SVTH: Hồ Thị Huyền Trang Trang 4
Thị trường chứng khoán
Thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp
Chứng khoán
Vốn
Nhà đầu tư
Vốn Chứng khoán
Doanh nghiệp hoặc
Chính phủ
Nhà đầu tư
 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam GVHD: Lê Phương Dung
phục vụ cho hoạt động mua bán chứng khoán, tạo nơi gặp gỡ giữa các nhà mô giới
chứng khoán để thực hiện việc mua bán chứng khoán.
Việc mua và bán này được thực hiện theo phương thức đấu giá hai chiều giữa
đại diện người mua và đại diện người bán. Các lệnh mua và bán được ghép với
nhau để xác định giá. Và các nhà đầu tư chỉ có thể thực hiện việc mua và bán chứng
khoán thông qua các nhà mô giới.
1.4.1.2. Thị trường phi tập trung (thị trường OTC)
Thị trường chứng khoán phi tập trung là thị trường mua bán chứng khoán
ngoài Sở giao dịch, không có địa điểm tập trung, không có sự kiểm soát của cơ quan
quản lý Nhà nước về chứng khoán, không có ngày giờ hay thủ tục nhất định mà do
sự thoả thuận của người mua và người bán được thực hiện bởi các công ty chứng

hành với mục đích sáp nhập, nắm quyền kiểm soát các công ty khác, hoặc đơn giản
là tìm kiếm lợi nhuận.
1.5.2. Nhà đầu tư
Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tư có
thể được chia thành 2 loại:
- Nhà đầu tư cá nhân: Là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua
bán trên TTCK với mục đích kiếm lời.
- Nhà đầu tư có tổ chức: Là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng
khoán với số lượng lớn trên thị trường.Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình
thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân
hàng thương mại và các công ty chứng khoán.
1.5.3. Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Là cơ quan quyền lực cao nhất của TTCK. Uỷ ban chứng khoán nhà nước là
cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK, quản lý việc cấp phép, đăng ký phát hành và
kinh doanh chứng khoán, tổ chức công tác thanh tra, giám sát các hoạt động giao
dịch, mua bán chứng khoán để đảm bảo thị trường ổn định, công bằng và minh
bạch.
1.5.4. Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban
hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù
hợp với các quyết định của luật pháp và uỷ ban chứng khoán. Nhiệm vụ của Sở là tổ
chức đấu giá chứng khoán theo nguyên tắc cạnh tranh và quan hệ cung cầu của thị
trường.
Thường thì Sở được tổ chức dưới hình thức là một công ty trách nhiệm hữu
hạn, do các công ty chứng khoán sở hữu, có hội đồng quản trị mà thành phần đa số
do các công ty chứng khoán thành viên bầu ra. Hội đồng quản trị Sở có quyền ban
hành quy chế tổ chức và hoạt động của Sở, kết nạp và khai trừ thành viên, cho phép
loại chứng khoán nào được yết giá để giao dịch.
1.5.5. Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản

dàng tiếp cận.
1.6.2. Nguyên tắc trung gian
TTCK hoạt động không phải trực tiếp do những người muốn mua hay muốn
bán chứng khoán thực hiện. Các giao dịch được thực hiện thông qua các tổ chức
trung gian là các công ty chứng khoán. Nguyên tắc này đảm bảo các chứng khoán
được giao dịch là chứng khoán thật, hợp pháp, đủ tiêu chuẩn quy định; tạo điều kiện
cho mọi hoạt động giao dịch có tính thống nhất, nhanh chóng, phát huy được yêu
cầu giám sát khách quan đối với đối tượng mua bán; sở giao dịch hoạt động được
lành mạnh, đều đặn và phát triển.
1.6.3. Nguyên tắc đấu giá
Mọi hoạt động mua bán chứng khoán giao dịch niêm yết đều phải được thông
qua phương thức đấu giá. Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá
giữa các lệnh mua và các lệnh bán. Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều
không thể can thiệp vào việc định giá này.
Có hai hình thức đấu giá, là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự đông. Đấu giá trực
tiếp là việc các nhà mô giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp đấu giá. Đấu
giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà mô giới được nhập vào hệ thống
SVTH: Hồ Thị Huyền Trang Trang 7
 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam GVHD: Lê Phương Dung
máy chủ của sở giao dịch chứng khoán. Hệ thống máy chủ này sẽ xác định mức giá
sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối lượng cao nhất.
1.7. Hàng hoá của TTCK
1.7.1. Cổ phiếu
1.7.1.1. Khái niệm
Cổ phiếu là giấy chứng nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công
ty cổ phần, và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.
1.7.1.2. Phân loại cổ phiếu
 Cổ phiếu phổ thông
Cổ phiếu phổ thông là một chứng khoán vốn có thu nhập không ổn định, cổ
đông nắm giữ cổ phiếu phổ thông được trả cổ tức hàng năm tuỳ thuộc vào hoạt

1.7.2.1. Khái niệm
Trái phiếu là một tờ giấy chứng nhận việc vay vốn của tổ chức phát hành đối
với người mua trái phiếu. Người mua trái phiếu là chủ sở hữu trái phiếu, đồng thời
là chủ nợ của công ty phát hành. Tổ chức phát hành phải trả một lãi suất cố định
hàng năm cho người sở hữu trái phiếu và phải hoàn trả gốc khi đến hạn.
1.7.2.2. Phân loại
 Trái phiếu công ty
Trái phiếu công ty là những trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn
dài hạn. Trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không được
tham dự vào các quyết định của công ty. Cũng có loại trái phiếu không được trả lãi
định kỳ, người mua được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại mệnh
giá. Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước
các cổ phiếu.
 Trái phiếu chính phủ
Trái phiếu chính phủ là những trái phiếu do Chính phủ phát hành nhằm mục
đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích, hoặc làm
công cụ điều tiết tiền tệ. Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi
ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao. Do đặc điểm đó,
lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn
định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.
 Trái phiếu đô thị
Trái phiếu đô thị là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho những
mục đích cụ thể, thường là để xây dựng những công trình cơ sở hạ tầng hay công
trình phúc lợi công cộng. Trái phiếu này có thể do trung ương hoặc chính quyền địa
phương phát hành.
1.7.2.3. Lợi ích của việc phát hành trái phiếu
Dù có làm ăn thua lỗ công ty vẫn phải trả đủ tiền lãi, không cắt giảm hoặc bỏ
như cổ phiếu. Nếu công ty ngừng hoạt động, thanh lý tài sản, thì trái chủ được trả
tiền trước người có cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi.
Trái phiếu có loại được miễn thuế thu nhập: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu

- Được hưởng giá trị cổ phần gia tăng do công ty hoạt động tốt, có lợi nhuận
và có tích lũy nội bộ. Đến một lúc nào đó công ty nhập quỹ tích lũy vào vốn điều lệ
thì nhà đầu tư được tăng thêm số lượng cổ phần.
- Được hưởng lợi tức do chênh lệch giá mua bán cổ phiếu.
2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới đầu tư cổ phiếu
 Yếu tố thu nhập
Thu nhập là mục đích của đầu tư. Nhà đầu tư chỉ thực hiện hoạt động đầu tư
khi họ có được thu nhập từ hoạt động đầu tư đó. Đây chính là yếu tố đầu tiên nhà
đầu tư quan tâm trong các phân tích để quyết định đầu tư. Trong hoạt động đầu tư
cổ phiếu, thu nhập tồn tại dưới hình thức: cổ tức.
 Yếu tố rủi ro
Tất cả các loại đầu tư đều chứa đựng rủi ro và rủi ro được hình thành từ nhiều
nguyên nhân khác nhau.
- Rủi ro về lãi suất: là rủi ro khi giá cổ phiếu bị hạ do sự gia tăng lãi suất thị
trường.
- Rủi ro về vỡ nợ của người phát hành: là khả năng người phát hành cổ phiếu
không thể thực hiện được việc thanh toán tiền lãi hoặc mệnh giá khi cổ phiếu đó
mãn hạn.
- Rủi ro về tỉ giá hối đoái: xãy ra khi những biến động bất lợi trong tỷ giá hối
đoái làm giảm lợi nhuận đầu tư, trong trường hợp lợi nhuận đó được chuyển thành
nguyên tệ đem về nước.
- Rủi ro về chính trị: là rủi ro xuất phát từ sự biến động mạnh về chính trị như
đảo chính, chiến tranh...
 Yếu tố về tính hoán tệ của cổ phiếu
Yếu tố về tính hoán tệ của cổ phiếu là khả năng có thể chuyển đổi sang tiền
mặt nhanh chóng với mức phí tổn thấp. Khả năng hoán tệ của cổ phiếu phụ thuộc
vào các yếu tố sau:
SVTH: Hồ Thị Huyền Trang Trang 11
 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam GVHD: Lê Phương Dung
- Tỷ trọng cổ phần: số cổ phần chủ có quyền càng lớn thì càng khó hoán

phiếu thành công.
Nếu bạn theo trường phái phân tích kỹ thuật thì diễn biến giá cổ phiếu là lý do
chính để bạn lựa chọn một cổ phiếu để theo dõi. Còn nếu bạn theo trường phái phân
tích cơ bản thì tin tức về thu nhập hay bất kỳ một tin tức nào khác về công ty lại là
lý do chính để bạn quan tâm đến cổ phiếu này. Một khi cổ phiếu đã nằm trong danh
sách theo dõi, bạn có thể so sánh diễn tiến giá cả của cổ phiếu đó với diễn tiến giá
SVTH: Hồ Thị Huyền Trang Trang 12
 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam GVHD: Lê Phương Dung
cả của các cổ phiếu khác. Bạn cũng có thể tìm thấy các thông tin khác liên quan đến
cổ phiếu đó nhằm giúp bạn có cơ sở để ra quyết định.
Khi chọn lựa cổ phiếu để theo dõi, cách tốt nhất là các nhà đầu tư nên kết hợp
các thông tin về phân tích cơ bản lẫn phân tích kỹ thuật để xem liệu cổ phiếu đó có
đáng được theo dõi hay không.
 Bước 2: Chấp nhận vị thế
Chấp nhận vị thế là công việc khá đơn giản, chỉ cần liên hệ với nhà mô giới
và thực hiện giao dịch. Tuy nhiên cũng cần lưu ý một số điều.
Trước tiên là loại giao dịch bạn thực hiện: dài hạn hay ngắn hạn. Mặc dù xu
hướng chung của giá cổ phiếu là đi lên nhưng bất cứ ai đã từng bị thua lỗ đều có
thể hiểu rằng, trong ngắn hạn cổ phiếu có nhiều khả năng đi xuống hơn là đi lên.
Nhìn chung, bạn nên tránh những vị thế đoản (vị thế bán non) vì chúng ngốn rất
nhiều thời gian và công sức nhưng cơ hội dành cho nó lại rất hiếm hoi. Nếu thực
hiện nó cần phải giám sát vị thế đó cẩn thận gấp đôi so với vị thế dài hạn.
Kế đến là việc chọn lựa nhà mô giới. Nếu là một nhà đầu tư tư nhân có lẽ
chỉ cần đến một nhà mô giới phần dịch vụ. Đây là nhà mô giới cung cấp dịch vụ
cơ bản nhất cho bạn, tức là chỉ thực hiện lệnh giúp bạn và ăn hoa hồng.
 Bước 3: Giám sát vị thế
Giám sát các vị thế đã thực hiện là phần quan trọng nhất của quá trình đầu tư.
Tất cả những thông tin và sự điều tra nghiên cứu đã đưa bạn đến chỗ ra quyết định
giao dịch. Giám sát vị thế là lúc bạn theo dõi và đánh giá quyết định đầu tư của
mình. Khi cổ phiếu bạn chọn tăng giá đều đều và bạn có cơ sở để tin rằng đó là cổ

Rủi ro thị trường là rủi ro do sự biến động về giá trên thị trường cổ phiếu gây
nên. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro này là lạm phát, tâm lý nhà đầu tư...
Tuy nhiên, loại rủi ro này không gây tác hại đáng kể đối với những nhà đầu
tư có ý định cầm giữ chứng khoán lâu dài, bởi giá cả thị trường chứng khoán
luôn thăng trầm, xuống rồi lại lên. Về lâu dài, đầu tư vào TTCK có thành tích
tăng trưởng vốn liếng khả quan nhất.
2.3.1.3. Rủi ro về lãi suất
Lãi suất là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết định giá của
các chứng khoán có lãi suất cố định. Khi lãi suất ngân hàng tăng, một mặt tiền
gởi ngân hàng tăng, mặt khác thì chi phí vay nợ cũng tăng, lợi nhuận của doanh
nghiệp giảm, qua đó giá cổ phiếu giảm. Ngược lại, lãi suất giảm, tiền gởi ngân
hàng giảm, vốn một lần nữa lại quay trở về TTCK, hơn nữa chi phí vay nợ của
doanh nghiệp giảm, lợi nhuận tăng làm cổ phiếu tăng.
Như vậy, rủi ro lãi suất là khả năng biến động của lợi nhuận do những
thay đổi của lãi suất trên thị trường gây ra. Loại rủi ro này thường xãy ra đối
với những người đầu tư vào chứng khoán có thu nhập đều đặn. Họ không thể
dùng tiền lãi hoặc gốc để mua lại loại chứng khoán cùng mức cũ.
2.3.2. Rủi ro không hệ thống
SVTH: Hồ Thị Huyền Trang Trang 14
 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam GVHD: Lê Phương Dung
Là những rủi ro do các yếu tố nội tại công ty gây ra, nó có thể kiểm soát được
và chỉ tác động đến một ngành hay một công ty, hoặc một số chứng khoán. Rủi ro
này có thể được loại trừ thông qua việc đa dạng hoá đầu tư.
2.3.2.1. Rủi ro kinh doanh
Khi có những thay đổi trong tình trạng hoạt động của công ty, cụ thể là lợi
nhuận và cổ tức bị giảm sút hoặc tăng lên vượt mức so với xu hướng dự kiến được
gọi là rủi ro kinh doanh.
Nguyên nhân gây nên rủi ro này có thể là sự suy thoái của chu kỳ kinh doanh,
sự thay đổi mức thuế, định mức thực tế theo kế hoạch không đạt được, sự yếu kém
trong quản lý, giá trị tài sản bị kém giá trị, khả năng biến động giá thành sản xuất

là lợi suất tương ứng với khả năng i
n là số khả năng xãy ra.
2.4.1.2. Phương sai và độ lệch chuẩn
Để tính toán mức rủi ro nhiều hay ít của cổ phiếu đầu tư, ta căn cứ vào
phương sai và độ lệch chuẩn của nó (phương sai và độ lệch chuẩn đo lường mức độ
phân tán hay sự biến động xung quanh Er).
 Phương sai (
2
δ
)
SVTH: Hồ Thị Huyền Trang Trang 15
 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam GVHD: Lê Phương Dung
Xuất phát từ kỳ vọng toán, được tính theo xác suất thành phần của các giá
trị r
i
như sau:
2
1
1
2
)( ErrP
n
i
i

=
−=
δ
 Độ lệch chuẩn (
δ

i
i
Er
δ
Ví dụ:
Tình trạng nền
kinh tế
Xác suất (P) Tỷ suất lợi nhuận
của cổ phiếu A (r
A
)
Tỷ suất lợi nhuận của
cổ phiếu B (r
B
)
Tăng trưởng 30% 100% 20%
Bình thường 40% 15% 15%
Suy thoái 30% -70% 10%
Tổng 100%
Cổ phiếu A: Er
A
= P
1
r
1
+ P
2
r
2
+ P


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status